Hôm nay,  

IMF và World Bank

18/04/200700:00:00(Xem: 9161)

  ...Năm nay, tôi có cảm giác bất an vì báo cáo của IMF thì quá lạc quan trong khi dư luận chỉ chú trọng đến tai tiếng xảy ra cho đương kim Chủ tịch WB...

Như thông lệ hàng năm, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới vẫn có hai phiên họp được triệu tập vào Tháng Tư và Tháng 10 và năm nay, hội nghị đó đã tiến hành ngay tại Thủ đô Washington DC của Hoa Kỳ. Diễn đàn Kinh tế đài RFA có cuộc trao đổi với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về một số điều đáng chú ý về kỳ hội này trong chương trình chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, mà khi theo dõi các hội nghị quốc tế về kinh tế tài chính, ông có nhận xét gì về hội nghị bán niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới vừa được khai mạc tại Washington D.C."

- Tôi có cảm giác bất an vì sự tương phản giữa thực tế kinh tế của thế giới và những vấn đề mà hai định chế quốc tế này quan tâm, hoặc những gì đang được truyền thông quốc tế loan tải về kỳ hội nghị này.

Để chuẩn bị cho hội nghị, hai định chế ấy đều công bố một số kết quả nghiên cứu, chỉ được phép phổ biến ngay trước hội nghị, và vì hội nghị quy tụ giới lãnh đạo kinh tế tài chính của 185 quốc gia hội viên của hai định chế này, những điều họ thảo luận cũng là chuyện đáng quan tâm cho thế giới. Năm nay, tôi có cảm giác bất an vì báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế thì quá lạc quan trong khi dư luận lại chỉ chú trọng đến những tai tiếng xảy ra cho đương kim Chủ tịch Ngân hàng Thế giới là ông Paul Wolfowitz. Chỉ nội một việc tìm hiểu các báo cáo và đồn đại này cũng đủ mệt!

- Hỏi: Chúng tôi cũng thấy rằng việc tìm hiểu các báo cáo quá chuyên môn này là không dễ, chưa nói gì đến chuyện tai tiếng của ông Paul Wolfowitz khiến nhiều dư luận cho rằng ông ta nên từ chức.

Nhưng trước hết, xin đề nghị ông giải thích vì sao ông cho là Quỹ Tiền tệ Quốc tế lại có vẻ quá lạc quan trong báo cáo vừa công bố của họ"

- Cả hai định chế này đều được thành lập trong đà tái thiết của thế giới sau Thế chiến II và kể từ đó, tình hình kinh tế thế giới đã có nhiều thay đổi, nhất là từ 15 năm trở lại đây và người ta bắt đầu đặt câu hỏi về mục tiêu và sự hữu ích của hai định chế này, nhất là của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, gọi tắt là IMF. Chúng ta không thấy vấn đề ấy được hai tổ chức này đề cập tới, và phúc trình của IMF về Viễn ảnh Kinh tế Toàn cầu về 2007-2008 lại đặc biệt lạc quan ở những dự báo trong khi lại chẳng đề cập gì tới những rủi ro mà chính định chế này có nói tới ở phần đầu.

Về sự hữu ích của Quỹ IMF trong thực tế kinh tế thế giới ngày nay thì chúng ta cần thấy là thế giới đã có thay đổi với nhiều quốc gia xưa kia gọi là nghèo, chậm tiến hay kém phát triển nay đã là những nước tân hưng, có dự trữ ngoại tệ dồi dào, thậm chí có cả khả năng viện trợ cho nhiều nước nghèo hơn mà không đòi hỏi điều kiện gì về cải cách tài chính hay chính trị, như trường hợp của Trung Quốc, Ấn Độ, Liên bang Nga hay Brazil, thậm chí cả Venezuela. Vì vậy, nhiều quốc gia thấy rằng họ chẳng cần tới sự viện trợ tài chính hay kỹ thuật của IMF, nhất là khi điều kiện viện trợ có thể dẫn tới những cải cách mà lãnh đạo các xứ này cho là gây bất ổn. Vì vậy, cấu trúc tài chính toàn cầu đã thay đổi mà định chế này không ứng phó kịp.

- Hỏi: Trong khi ấy, như ông vừa trình bày, những rủi ro kinh tế tài chính của thế giới thì vẫn còn, mà lại không được báo cáo của IMF đề cập tới"

- Thưa đấy là một vấn đề thứ hai. Như thông lệ, IMF vẫn đưa ra dự báo lạc quan về viễn ảnh kinh tế thế giới, chẳng hạn như sẽ đạt mức tăng trưởng là 4,9% như trong giai đoạn 2003-2006. Chúng ta cần biết rằng nghệ thuật dự báo không phải là một khoa học chính xác, tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế cho thấy là sau một giai đoạn tăng trưởng mạnh và liên tục, thường là bốn năm liền, thể nào kinh tế cũng sẽ có lúc điều chỉnh, tức là tăng trưởng chậm hơn, bị suy trầm hay thậm chí suy thoái. IMF dự đoán là kinh tế thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong hai năm tới sau bốn năm rất mạnh vừa qua. Điều đáng chú ý là ngay trong phúc trình công bố tuần qua thì định chế này đã đề cập tới nhiều rủi ro khiến cho đà tăng trưởng khó tiếp tục và kinh tế thế giới có thể gặp nhiều bất ổn trong thời gian tới. Đáng chú ý vì sau khi nhận định như vậy, IMF lại không khai triển tiếp trong phần kết luận.

- Hỏi: Ông có thể nói rõ hơn về những rủi ro đó hay chăng"

- Kinh tế thế giới đang gặp một nghịch lý lớn là lệ thuộc quá nhiều vào sức tiêu thụ và nhập khẩu của kinh tế Hoa Kỳ, một quốc gia đang ở trong thời chiến và mắc nợ thế giới vì chi nhiều hơn thu, nhập nhiều hơn xuất khẩu. Viễn ảnh tăng trưởng của kinh tế thế giới tùy thuộc vào yếu tố bất trắc là sự lạc quan tiêu xài của giới tiêu thụ Mỹ. Trong khi ấy, kinh tế Mỹ cũng có triệu chứng bất trắc ngay trong một lĩnh vực mà thế giới và dân Mỹ đã nói tới, đó là sự nguội lạnh thậm chí suy sụp của thị trường gia cư địa ốc. Nếu kinh tế xứ này bị trì trệ vì những yếu tố đó thì đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu không thể tiếp tục là 4,9% như trong bốn năm qua.

Chuyện thứ hai là một vấn đề diễn đàn này đã đề cập nhiều lần mà không thấy IMF kết hợp vào dự báo của họ, đó là phản ứng bảo hộ mậu dịch, thậm chí ngăn chặn trào lưu toàn cầu hoá, không chỉ xuất phát từ chính trường Hoa Kỳ mà còn hiện diện rất mạnh trong các khối kinh tế lớn của thế giới. Và tranh chấp mậu dịch hay bế tắc trong cơ chế WTO về vòng đàm phán Doha là một vấn đề rất là thời sự.

Đó là hai thí dụ nổi bật nhất. Giới kinh tế hay dùng một ẩn dụ của kỹ nghệ hầm mỏ, khi thợ mỏ đem theo con chim gọi là kim tước, hay canary, xuống hầm. Khi thấy chim chết thì phu mỏ biết là không khí có độc để họ kịp thoát thân. Các nhà kinh tế dùng chữ "chim chết dưới hầm" để nói về những biến cố rất nhỏ nhưng lại báo hiệu tai họa rất lớn và họ đã thấy chim chết hàng bầy ở nhiều nơi mà lại không có trong phúc trình của IMF. Chúng ta không quên là đầu năm 1997, IMF cũng có những dự báo lạc quan như vậy mà không thấy ra vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á xuất phát từ Thái Lan vào mùng hai Tháng Bảy năm 1997.

- Hỏi: Bây giờ, chúng ta bước qua một lãnh vực thứ hai đang gây tò mò cho nhiều người là những tai tiếng trong Ngân hàng Thế giới liên quan đến vị Chủ tịch mới nhậm chức chưa đầy hai năm là ông Paul Wolfowitz. Ông giải thích cho bối cảnh của vụ việc này được không"

- Tôi rất ngần ngại đề cập tới chuyện đó vì vụ này có liên hệ đến nhiều yếu tố chính trị chứ không thuần túy kinh tế tài chính.

- Hỏi: Như ông có trình bày trên diễn đàn này vào ngày 22 Tháng Ba năm 2005, sau khi ông Paul Wolfowitz được Tổng thống Hoa Kỳ đề cử vào chức vụ Chủ tịch Ngân hàng Thế giới vào ngày 17 tháng Ba, rằng ông Wolfowitz này gặp sự chống đối của nhiều người, nhưng cũng dự báo là ông Wolfowitz sẽ cải tổ định chế này và chú trọng đến việc giải trừ tham nhũng. Cũng trong chương trình ấy, ông cho biết rằng dù là gốc Do Thái, ông Wolfowitz có bạn gái là nhân viên cao cấp của Ngân hàng Thế giới, là người Hồi giáo gốc Trung Đông tích cực tranh đấu cho nữ quyền, và còn nói là nhân vật này sẽ phải xin nghỉ việc.

Bây giờ, chưa đầy hai năm sau, liên hệ của ông Wolfowitz với bà ta đang là đầu mối của những tai tiếng khiến nhiều người gây áp lực đòi ông ta phải nghỉ việc. Thính giả có thể muốn biết về chuyện đó lắm, khi một công chức cao cấp của quốc tế bị đàn hặc và phê phán về chuyện tham nhũng...

Tôi xin được dè dặt nêu ra nhận xét chủ quan của mình về hồ sơ trên đây. Trước hết, Ngân hàng Thế giới là định chế được nhiều dư luận cho là 'quý tộc của sự nghèo khốn', với nhân viên là công chức quốc tế được lương cao bổng hậu mà lại miễn thuế. Nửa thế kỷ sinh sống bằng nghề viện trợ với tiền của người khác có thể đã tạo ra một tập quán và quyền lực thực tế cho họ. Đấy là một thực tế khiến người ta phải cải cách định chế này. Ông Wolfowitz được đề cử vào chức Chủ tịch cũng là để tiến hành việc cải cách, cho nên nếu có gặp sự nghi ngờ, ác cảm hay chống đối thì cũng là điều hiểu được.

- Hỏi: Tuy nhiên, còn có chủ trương chống tham nhũng và vụ liên hệ đến nữ nhân viên của định chế này"

- Thưa chính vì vậy! Đây là điều chúng ta được biết căn cứ trên những hồ sơ đã được chính Ngân hàng Thế giới công bố ra. Đầu tiên, trước khi nhậm chức, ông Wolfowitz đã cho giới chức định chế này biết mối quan hệ tình cảm của mình với một nữ nhân viên Ngân hàng Thế giới, là nhân viên phụ trách về thông tin và quảng bá trong khối Hồi giáo.

Về tổ chức, nhân viên này phải báo cáo lên thượng cấp trực tiếp là một Phụ tá Phó Chủ tịch, nhân vật này mới báo cáo lên thượng cấp là Phó Chủ tịch đặc trách Trung Đông và Bắc Phi Daniela Gressani. Vị Phó Chủ tịch này mới báo cáo lên thượng cấp trực tiếp là ông Juan Jose Daboud, một trong ba chức vụ gọi là Managing Director, mà ta có thể tạm dịch là Tổng thư ký. Ông này mới tường trình lên Chủ tịch Paul Wolfowitz.

- Hỏi: Nếu như vậy, nữ nhân viên này không phải là thuộc cấp trực tiếp của Chủ tịch Ngân hàng Thế giới và còn phải qua bốn cấp nữa mới lên tới ông Wolfowitz"

- Thưa đúng vậy, tuy nhiên, ông Wolfowitz vẫn tự ý trình bày ngay từ đầu toàn bộ vấn đề lên thượng cấp là 24 Quản trị viên của Ngân hàng Thế giới và tai họa bắt đầu xảy ra từ đó vì ngại rằng có mâu thuẫn về quyền lợi trong công vụ, là điều cho thấy là ông ta quá cẩn thận. Bước kế tiếp là Hội đồng Quản trị lại còn cẩn thận hơn, là cho lập ủy ban đặc nhiệm để cứu xét về đạo tắc, xem có mâu thuẫn hay không. Và ủy ban này kết luận là có, trong khi nữ nhân viên này khi ấy đang ở trong danh sách nhân viên sắp được thăng thưởng. Bây giờ, ta hãy lùi lại mà nhìn vụ việc này.

Vì liên hệ tình cảm với một nhân vật sẽ được bổ nhiệm làm Chủ tịch, nữ nhân viên này có thể sẽ mất việc khi sắp được tăng lương. Các vị công chức quốc tế trong định chế này mới có một quyết định sáng tạo là 'đề bạt', nôm na là đề nghị đánh bạt bà ta qua nơi khác. Nhưng để bù cho thiệt hại bị mất việc, họ đề nghị tăng lương thật cao, theo kiểu đền bù trước khi sa thải mà ngoài doanh trường gọi là severance pay. Suốt tiến trình thảo luận ấy, từ đầu năm 2005, ông Paul Wolfowitz xin yêu cầu là mình không can dự và đến Tháng Bảy năm 2005 mới được thông báo về đề nghị tăng lương và sa thải này, và được ủy ban về đạo tắc yêu cầu ông ta chỉ thị cho Nha Nhân dụng thi hành việc đó. Điều sai lầm nếu có của ông Wolfowitz là cứ tưởng rằng các Quản trị viên và nhân viên ủy ban đạo tắc thành thật tìm giải pháp cho một vấn đề tế nhị do chính ông tự ý nêu ra từ khi chưa nhậm chức. Bây giờ, dư luận cứ nghĩ rằng ông ta dùng uy quyền của Chủ tịch để tăng lương cho nhân tình!

- Hỏi: Như vậy, ông Wolfowitz không dùng thế Chủ tịch Ngân hàng Thế giới để trục lợi cho người thân. Nhưng vì sao ông ta lại bị chống đối nặng như vậy"

- Nhiều nhân viên Ngân hàng Thế giới không ưa vị Chủ tịch đang có chủ trương cải tổ cơ chế này. Phần nữa thì nhiều thành viên góp vốn cho Ngân hàng Thế giới thì không ưa thế lực quá mạnh của Hoa Kỳ và có ác cảm với Chính quyền Bush, và sau cùng thì nhiều dư luận thiếu am hiểu thì phản ứng theo cảm tính.

Dù sao, ngoài Chính quyền Bush thì rất nhiều đại biểu của các nước Phi châu vẫn tiếp tục tín nhiệm ông Wolfowitz, ngược với quan điểm của nhiều xứ Âu châu như Pháp, Anh và cả Đức. Theo dõi chuyện này từ đầu thì ta thấy rằng đây là một vụ phục kích và tiết lộ có chọn lọc để nội vụ nổ tung ngay trước kỳ hội vào tuần qua.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kể từ khi tổ chức khủng bố Hamas tấn công vào Israel vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, các vụ xung đột đẫm máu xảy tại Dải Gaza cho đến nay vẫn chưa kết thúc. Nhưng gần đây, cộng đồng quốc tế còn tỏ ra lo ngại nhiều hơn khi giao tranh giữa Israel và lực lượng dân quân Hezbollah ở Lebanon đang gia tăng. Bằng chứng là sau cái chết của thủ lĩnh Hamas Ismail Haniya và thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Trong vài tháng qua, người dân Mỹ, dù muốn hay không muốn, cũng đã có nhiều cơ hội để nhìn về một bức tranh mà trong đó có quá nhiều sự tương phản. Những mảnh ghép từ hai tầm nhìn, hai chiến lược, hai mục đích hoàn toàn khác biệt đã dần dần rơi xuống, để lộ ra hai con đường hoàn toàn khác biệt cho người Mỹ lựa chọn. Dù có một bức màn đã rơi xuống (như nữ hoàng Oprah Winfrey đã ví von) cho một thuyền trưởng bước ra, trao lại cho người dân sự hy vọng, lòng tin, trách nhiệm, thì sâu thẳm bên trong chúng ta vẫn muốn biết, những giá trị thực của một triều đại đã mang lại. Từ đó, niềm tin sẽ được củng cố.
Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.