Hôm nay,  

Mộng Ban Đầu

06/02/200900:00:00(Xem: 7072)
MỘNG BAN ĐẦU
Hạnh Chi
Nơi đất tạm dung, người Việt chúng ta từng làm quen với những dấu mốc thời gian mang những tên gọi đẹp đẽ như: Ngày của Mẹ (Mother's Day), Ngày của Cha (Father's Day), Ngày tưởng niệm (Memorial Day), Ngày tạ ơn (Thanksgiving Day), Ngày tình yêu (Valentine Day).. v..v…
Mỗi thời điểm, mà nội dung đã mang trọn vẹn ý nghĩa ngay từ danh xưng, mọi người đều biểu tỏ tấm lòng tới đối tượng qua lễ vật, quà cáp hoặc có khi chỉ là cuộc viếng thăm đơn sơ nhưng chí tình, chí thiết.
Riêng tháng hai của mỗi năm, dấu mốc thời gian được quan tâm nhất là Ngày Tình Yêu (Valentine Day). Trong ngày này, nơi bận rộn nhất có lẽ là các tiệm bán hoa vì quà tặng này tương đối thích hợp với khả năng của đại chúng. Dù cả lọ hoa rực rỡ hay một đóa hồng thắm tươi cũng có thể thay ta nói lên những lời đẹp đẽ nhất, biểu lộ những cảm tình thầm kín nhất.
Đáng lẽ trong ngày này, hai chữ "Tình Yêu" phải được viết hoa vì ai cũng có rất nhiều tình yêu. Chúng ta yêu cha, yêu mẹ, yêu thầy, yêu bạn, yêu hàng xóm láng giềng, yêu những người quên mình vì tha nhân v…v…Ấy thế mà, nói đến Ngày Tình Yêu, nhân gian lại thường thu hẹp trí tưởng trong tình yêu lứa đôi, tình yêu nam nữ.       
Cũng chẳng đáng trách, vì từ thời xa xưa, vào năm 269 trước Thiên Chúa giáng sinh, có một mối tuyệt tình vẫn còn âm vang đến ngày nay. Đó là tình tuyệt vọng của một tử tù trai trẻ với con gái của người cai ngục. Người tử tù trẻ tuổi này tên là Valentine. Chàng khờ dại, ngu ngốc phạm trọng tội ngoài xã hội nhưng trong thời gian bị giam cầm, chờ ngày đền tội thì chàng đã có thời gian để suy ngẫm về điều thiện, điều ác, biết sám hối những sai lầm đã phạm. Chính nhờ cái tâm nhu hòa vừa chuyển hóa này mà chàng tiếp nhận được nét đẹp nhân ái từ đôi mắt của cô con gái cai ngục đã nhìn chàng mỗi khi cô vào thăm cha trong giờ cha làm việc. Rồi sự tưởng tượng của chàng bay bổng: "Có thực sự cô phải vào đây thăm cha không" Hay cô vào vì thương hại chàng" Ranh giới từ thương hại đến yêu thương bao xa" Cô có thấy được tình yêu của chàng gửi tới cô qua ánh mắt chàng không" ." Mối tình tuyệt vọng nhưng cuồng nhiệt đó được chàng tuổi trẻ Valentine giãi bầy trên nhiều trang nhật ký và đặc biệt là chàng tự vẽ một tấm thiệp để viết thư tình lên đó, với hàng chữ nắn nót "From Your Valentine", tưởng như hai người đã thương nhau, đã là của nhau rồi.
Người ta tìm thấy tấm thiệp này trong túi áo, sau khi chàng bị hành hình!
Ngoài việc gây tội phải đền tội, thì tình yêu thầm lặng nhưng nồng nhiệt của người tử tù đã gây chấn động trong giới trẻ thời đó. Không biết đích xác bao lâu sau thì ai có sáng kiến  tặng quà cho người mình yêu vào ngày tưởng nhớ Valentine bị hành hình, nhưng tên của người tử tù đã nhanh chóng trở thành biểu tượng của Tình Yêu, càng ngày càng mạnh mẽ và duy trì cho đến ngày nay. Không chỉ thế, hàng chữ "From Your Valentine" còn xuất hiện trên nhiều mẫu thiệp dành cho Ngày Tình Yêu như một chủ-hữu-từ chứ không phải là danh-từ-riêng nữa.
 Mới đây, trên các nhật báo online, có đăng một tin ngắn thật dễ thương. Đó là chuyện xảy ra vào sáng sớm ngày đầu năm dương lịch 2009 tại thành phố Hanover, nước Đức. Ba em nhỏ, em trai 6 tuổi, hai em gái, 7 và 5 tuổi, quanh quẩn ở một nhà ga, đã được cảnh sát tại đó chú ý vì không thấy người lớn đi cùng các em. Khi được hỏi các em làm gì mà đến nhà ga sớm thế" Và cha mẹ các em đâu" thì các em hồn nhiên và thành thật thố lộ rằng, em trai Mika 6 tuổi thương em gái Anna Lena 7 tuổi, đã cùng quyết định dắt nhau đến xứ Phi Châu ấm áp để thành hôn. Anna Lena còn chu đáo rủ em gái 5 tuổi đi theo để làm nhân chứng cho lễ cưới. Cảnh sát hỏi tại sao phải sang tận Phi Châu làm lễ cưới thì Mika hãnh diện bảo rằng đó là sáng kiến của em sau khi em kể cho hai cô bé nghe về chuyến nghỉ hè vừa qua của gia đình em thì cả 3 em đều đồng ý rằng xứ Phi Châu rất thơ mộng và lý tưởng đề tổ chức lễ cưới. Hai gia đình của các em là bạn thân thiết lâu năm, hiện đang tụ họp ở một nơi để đón giao thừa đêm qua và mọi người còn đang ngủ say khi các em lén mở cửa, hướng về nhà ga của thành phố với dự tính trọng đại cho đời mình.

Đây quả là một kinh nghiệm quá mới mẻ với các nhân viên cảnh sát vì không thể buộc tội Mika bắt cóc hay rủ rê "vị thành niên" Anna Lena, cũng không thuyết phục được các em quay về vì "Chúng tôi thương nhau lắm! chúng tôi muốn làm lễ cưới và thành vợ chồng ở Phi Châu. Em gái của Anna Lena sẽ làm chứng mà!"
Tuyệt vời thay, cái sơ-tâm mới đơn giản và thần tiên nhường bao!
Cuối cùng, cảnh sát trưởng phải đích thân gặp các em, từ từ hỏi han, thân mật, chẳng hạn như "xứ Phi Châu nóng lắm, các em mang những gì trong túi xách đây"" Thôi thì đủ cả, kiếng mát, nón vải, quần áo tắm. Chàng Mika còn cẩn thận lấy theo một bông hồng bằng ny-lông trên lọ hoa ở trong bếp để nếu Phi Châu không có hoa thì cô dâu Anna Lena cũng có đóa hoa này cầm trên tay khi trao đổi lời thề nguyện.
Phải vất vả lắm vị cảnh sát trưởng mới có thể giải thích cho cặp uyên ương này biết rằng các em không thể đến Phi Châu nếu các em không có tiền, không có vé máy bay.
Cũng vất vả không kém cho các nhân viên cảnh sát khi thuyết phục để các em chịu dẫn họ cùng về nhà "Xin tiền cha mẹ rồi đi mua vé bay cũng chưa muộn. Xứ Phi Châu ấm áp vẫn ở đó chờ các em mà!"
Ôi, có mộng ban đầu nào tinh khiết, đẹp đẽ và thơ ngây như mối tình đầu này không"
Mai kia mốt nọ, khi trưởng thành, dù còn gần nhau hay đã xa, dù mỗi người có, hay không có hạnh phúc riêng, nhưng kỷ niệm thần thoại về giấc mộng đầu này chắc chắn vẫn là những gì vô giá mà kiếp nhân sinh có đau thương tới đâu cũng không bôi xóa được.
Nếu biết địa chỉ các em, thế nào cũng có người  gửi tới những tấm thiệp Valentine đặc biệt nhất vì tất cả những người đang yêu nhau trên thế gian này, ai chẳng muốn có một tình yêu thơ mộng đến thế! 
Sơ-tâm sẽ chính là chân-tâm.
Chỉ khác, chân-tâm nhận diện cảnh mà không dính cảnh.
"Ba mươi năm trước, thấy núi là núi, sông là sông.
Gặp được thiện trí thức chỉ dạy, là các pháp không có tự thể cố định, chỉ do duyên hợp mà thành, nên thấy núi không là núi, sông không là sông.
Ba mươi năm sau, từng quán chiếu không ngừng, tâm đã lặng lẽ  như như, cái thấy đã thuần thục, chỉ là sự nhận biết tĩnh lặng, trong sáng, không phân biệt, không dính mắc, thì lại thấy núi là núi, sông là sông."
Mất ba mươi năm để thấy lại cái thấy cái ban đầu như thiền-sư Duy Tính đời nhà Tống, có phải là uổng phí thời gian chăng"
Không đâu! chớ nghe vậy mà tưởng vậy.
Sơ-tâm tuy trong sáng nhưng còn là tâm phàm phu, thấy cái gì cũng thật. Núi cũng thật, sông cũng thật. Khi có trí tuệ để quán sát mới biết bản chất vạn hữu chỉ là duyên hợp, núi đứng đó mà không phải núi, sông chảy đó mà không phải sông; từ đó, mới trở về cái thấy của sơ tâm, tuy đối tượng cũng vậy, nhưng nay khác là thấy, mà không dính mắc.    
Cái thấy này là quá trình học hỏi, quán chiếu để từ sơ-tâm tới chân- tâm. Nguyên lý này cũng đưa đến sự thực chứng, vọng chính là chân, cũng như sóng chính là nước.
Thương thay, trên thực tế, kiếp nhân sinh thường dễ dàng đánh mất những giấc mộng đầu đẹp đẽ cùa sơ-tâm trong giòng cuồng lưu tam độc, như tinh thần hai câu kết trong bài kệ Tứ Sơn của vua Trần Thái Tôn:
"Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật viễn gia hương vạn lý trình"
mà thầy Thanh Từ dịch rất hay:
"Lang thang làm khách phong trần
Quê nhà ngày một muôn lần dặm xa".    
Chữ "Quê nhà" đây là chỉ cho sơ-tâm, Phật-tánh. Cái tâm-vọng dắt ta lang thang mỗi ngày mỗi xa chân-tâm; chỉ khi nào nhận ra lẽ vô thường mới buông bỏ những dính mắc để vọng thành chân.
Tình yêu bao la mà Đức Thế Tôn ban cho chúng sanh là lời xác quyết  sơ-tâm chính là Phật-tánh sẵn có trong tự thể mỗi loài. Sơ-tâm sẽ được tưới tẩm, nuôi dưỡng bằng trí-tuệ, để tỏa sáng hào quang của Phật-tánh, rồi tùy căn cơ trí tuệ cạn hay sâu của mỗi loài mà Phật-tánh hiển lộ.
Tin tưởng điều đó, chúng ta sẽ duy trì và vun bồi được biết bao nhiêu tình yêu; không phải chỉ với một đối tượng, cũng không phải chỉ giữa người với người mà do năng lượng Phật-tánh tỏa sáng, tình yêu này sẽ thăng hoa trong mọi ngày, tới mọi loài.
Nếu ai hỏi:
- Vì sao mà tin tưởng có tình yêu rộng lớn như thế"
Hãy nhẹ nhàng trả lời:
-Vì chúng sanh là Phật sẽ thành.
Hạnh Chi
(Độc-Cư-Am, Mùa Valentine 2009)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.