Hôm nay,  

Niềm Vui Sách Đèn

14/12/200900:00:00(Xem: 5693)

Niềm Vui Sách Đèn 

Đoàn Thanh Liêm   
(Để tưởng nhớ Học giả Nguyễn Hiến Lê, Luật sư Trần Văn Tuyên và Nhà báo Đỗ Ngọc Yến. )
Ngoài cuộc sống gia đình, tôi có hai điều say mê thích thú trên đời. Đó là niềm vui với bạn bè bằng hữu, và niềm vui với sách vở chữ nghiã.
Vào năm 1983, tính theo tuổi ta, thì tôi đã bước vào tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh” rồi. Mà vào lúc đó, tình hình ở Việt nam dưới chế độ cộng sản thì thật là đen tối bế tắc. Nên tôi có làm mấy câu thơ để giãi bày tâm sự như sau  :
Ngũ tuần vưà tới năm nay 
Tóc sương đã điểm, tim này còn rung
Giữa cơn gió bụi mịt mùng
Bạn hiền tri kỷ vẫn chung một lòng
Sách đèn gia nghiệp đêm chong
 Gắng công tu luyện, thoát vòng tối tăm.
Bài này tôi có đọc cho các bạn thân thiết nghe chơi. Đặc biệt, tôi có gửi cho cụ Nguyễn Hiến Lê hồi đó đang về nghỉ tại Long Xuyên. Ít lâu sau cụ Nguyễn về lại Saigon, thì cụ lại đến nhà thăm tôi. Truyện trò thăm hỏi mấy câu, thì cụ lấy từ túi aó ra bức thư tôi đã gửi cho cụ ở Long Xuyên. Cụ đọc lại bài thơ và gật đầu, tán thưởng. Cụ nói  : “Tôi đọc mấy câu thơ tâm sự này cuả ông, mà cảm thấy vui lây với cái tinh thần lạc quan, bình tĩnh cuả ông. Thật đúng là khẩu khí cuả con người là cháu nội cuả một vị đồ nho như trường hợp cuả ông...”
Cụ nói như vậy, vì trước đó tôi đã có dịp tâm sự với cụ rằng tuy là cháu cuả một vị đồ dậy chữ nho, mà tôi chẳng được học lấy một câu chữ nho nào cuả ông nội, bởi lẽ ông tôi đã mất khi tôi mới có 5-6 tuổi gì đó thôi. Tuy vậy, tôi vẫn luôn nhớ là cha mẹ tôi thường nhắc nhở dặn dò lũ anh chị em chúng tôi là : “ Chúng con phải cố gắng để mà giữ vững được cái nền nếp gia phong, gia đạo cuả dòng họ nhà mình ...” Sau năm 1975, thì tôi có cái duyên được quen biết gần gũi với cụ Lê; và tôi thường lui tới thăm viếng, đàm đạo với cụ một già một trẻ, thật là tâm đắc. Ông cụ lại còn tặng cho tôi một số cuốn sách rất có giá trị, cụ thể như cuốn “Cổ văn Trung quốc” do cụ biên soạn vào hồi năm 1966 - 67, và cả cuốn “ Les dilemmes du développement” cuả giáo sư Raymond Aron là một tác giả mà cụ cũng như tôi đều rất ưa thích. Bằng một giọng nói bình thản, nhẹ nhàng có lần Cụ tâm sự với tôi : “ Tôi đang chuẩn bị cho “chuyến đi xa cuả tôi” (mon grand départ), nên đã soạn ra các sách dành riêng cho cháu nội hiện ở bên Pháp. Còn lại, thì gửi cho bạn bè mỗi người một vài cuốn để làm kỷ niệm. Xin ông giữ lấy một ít cuốn tôi gửi tặng vậy nhé...” Và chẳng bao lâu sau, cụ Nguyễn Hiến Lê đã từ giã cõi đời vào cuối năm 1984 tại Saigon.
Người thứ hai mà tôi cũng rất quý mến thân quen hồi trước năm 1975, đó là Luật sư Trần Văn Tuyên. Ông là một vị niên trưởng nổi danh cuả giới luật gia chúng tôi trong Luật sư đoàn Toà Thượng Thẩm Saigon. Nhiều buổi sáng sớm, tôi đến thăm thì được mời lên phòng trên lầu uống cà phê với ông. Lúc đó ông còn mặc áo bà ba, ngồi bàn giảng bài toán cho cô con gái nhỏ còn đang học trung học cuả mấy bà soeur. Phòng ông làm việc thì chỉ có sách ơi là sách được bày trên các kệ thật cao. Luật sư Tuyên luôn khuyến khích việc anh chị em thanh niên chúng tôi làm công tác xã hội tại các quận 6,7,8 Saigon. Có lần ông xuống thăm mấy công trường tái thiết các khu nhà bị tàn phá thời Tết Mậu Thân 1968 và thân mật nói chuyện trao đổi với chúng tôi.Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi có đến thăm ông bà vẫn còn ở lại Việt nam, ông có giữ tôi lại ăn cơm trưa với ông bà, và đó là bữa cơm cuối cùng giữa ông và tôi. Vì sau đó, thì ông phải vào trại” tù cải tạo”, rồi bị mất tại trại Hà Tây gần với ga xe lưả Văn Điển ngoài Bắc vào cuối năm 1976.
Vào hồi năm 1981-82, thì bà Luật sư Tuyên tức là Phạm Thị Côn có cho tôi hay rằng : “Sách cuả anh Tuyên để lại quá nhiều, mẹ con tôi phải cho bán bớt đi. Nhưng tôi muốn để cho các anh là chỗ thân thiết lâu năm với anh Tuyên, thì các anh được quyền ưu tiên chọn lấy các sách về chính trị, luật pháp mà các anh thích. Riêng anh, thì anh muốn chọn lấy bao nhiêu cũng được, vì anh là người bạn rất tâm đắc cuả anh Tuyên. Xin anh cứ thoải mái chọn các sách mà anh ưa thích, như là một kỷ niệm đẹp đẽ cuả anh Tuyên vậy...” Và tôi đã chọn được đến vài ba chục cuốn sách mà tôi ưa thích, đặc biết có cả bộ sách trên 10 cuốn cuả nhà khảo cổ lừng danh thế giới là Teilhard de Chardin cuả Pháp.Tủ sách cuả Luật sư Tuyên rất quý, vì ngoài các sách ông mua sắm trong các chuyến công du ở ngoại quốc, lại còn các sách ông được giới ngoại giao hay chính khách quốc tế tăng biếu ông nưã. Cụ Nguyễn Hiến Lê là bạn cùng học chung với Luật sư Tuyên tại trường Bưởi Hanoi năm 1930-32, thì cụ nói với tôi :” Anh Tuyên ngày xưa học rất giỏi, đặc biệt là về môn Toán. Sau này anh ấy học Luật, chứ nếu mà anh ấy theo đuổi ngành khoa học, thì anh vẫn có thể xuất sắc như thường.” Thành ra tôi là người đều có duyên thân thiết với cả hai vị tiền bối, mà là bạn đồng môn với nhau tại ngôi trường mà sau này đổi tên là Trường Chu Văn An, và tôi là kẻ hậu sinh cũng đã theo học tại ngôi trường này vào hồi trước năm 1954 nưã.
Người thứ ba mà rất có duyên với tôi về chuyện sách vở vào thời kỳ tôi qua định cư ở California, đó là nhà báo Đỗ Ngọc Yến. Dĩ nhiên là chúng tôi quen biết gắn bó với nhau trong công tác xã hội từ rất lâu trước kia ở Việt nam. Hồi năm 1965, Yến là Tổng Thư Ký cuả Chương trình Công Tác Hè cuả giới Thanh niên, Sinh viên , Học sinh toàn miền Nam Việt nam, lúc mới có 24 tuổi.


Ngoài chuyện hoạt động xã hội rất năng nổ nhiệt thành, Yến còn có sự say mê với sách vở. Anh chiụ khó tiện tặn trong các khoản chi tiêu để còn dành dụm tiền vào việc mua sắm sách báo, ngay từ cái thời còn ở Việt nam. Nhưng qua đến Mỹ, thì trong vài chục năm Yến đã mua sắm được cơ man nào là sách báo. Sách nhiều đến nỗi trong các phòng ngủ, đâu đâu cũng đày ắp sách ơi là sách, kể cả cái garage nưã, đó không phải là chỗ chứa xe, mà là cả một kho sách với các kệ chưá kín mít. Mà Yến lại rất rộng rãi, đem chia sớt cho bất cứ bạn bè nào có nhu cầu tham khảo, tìm kiếm kiến thức nơi sách báo. Từ ngày qua Mỹ năm 1996, tôi đã được Yến cho đến cả mấy chục cuốn sách mới xuất bản rất có giá trị, mà sau năm 1975 tại quê nhà tôi it có dịp được biết tới. Yến lại khuyến khích tôi nên tập trung vào một số lãnh vực mình có sở trường, chứ không nên bao biện dàn trải mở rộng trong nhiều bộ môn. Và trong hầu hết các sách Yến cho tôi, thì đều có những ghi chú cuả anh khi đọc. Đó là điều chứng tỏ là Yến đọc sách rất nghiêm túc, tôi thấy Yến cũng giống như cụ Nguyễn Hiến Lê trong khiá cạnh đọc sách và ghi chú rất kỹ lưỡng vào lề các trang sách. Cụ thể như trong các sách cuả Henry Kissinger hay cuả Raymond Aron mà Yến cho tôi mấy cuốn, thì tôi thấy đày rãy những ghi chú cuả anh dọc theo các trang sách, khi thì bằng mực đỏ, lúc thì bằng bút chì đen. Kể cả sau khi Yến mất đi, thì tôi vẫn còn đến nhà chị Loan là bà xã cuả anh để xin thêm một vài cuốn sách nưã. Chị Loan nói : Anh cứ thoải mái chọn các sách mà anh cần, vì tôi đang phải tìm cách chuyển cái kho sách quá nhiều này đến các nơi nào có nhu cầu như tủ sách cuả các cơ quan đoàn thể chẳng hạn.
Chị Loan còn nhắc lại cho tôi biết về cái niềm say mê cuả ông xã cuả chị với sách vở chữ nghiã. Hầu như không mấy dịp nghỉ cuối tuần nào mà Yến không đi lùng kiếm sách nơi các chợ sách hay nơi các thư viện trong vùng Orange County. Có lần Yến mua cả một lô đến cả ngàn cuốn sách cũ cuả thư viện Đại học Fullerton và phải giao hẹn với cơ sở này để dành cho Yến kiếm xe đến chở đi lần lần. Tôi cũng vốn có sự say mê với sách vở, nhưng chưa thấm vào đâu so với nỗi đam mê này cuả Yến. Anh đã từ giã cõi đời được trên 3 năm rồi, nhưng cái ký ức cuả tôi về Yến trong chuyện sách vở, cũng như sự quý mến bằng hữu thì không bao giờ phai lạt tan biến đi đâu được.
*           *          * 
Ngay từ cái hồi còn theo đuổi học tập tại đại học ở Saigon, tôi đã hăm hở lui tới hầu hết các thư viện trong thành phố, đặc biệt là thư viện cuả phòng thông tin Hoa kỳ, thư viện cuả hội Alliance Francaise cuả Pháp, cuả Học viện Quốc gia Hành chánh do đại học Michigan bảo trợ, và dĩ nhiên là thư viện cuả đại học Luật khoa. Đó là chưa kể thư viện cuả các linh mục Dòng Đaminh nơi cư xá sinh viên Phục Hưng ở số 43 Nguyễn Thông mà tôi được cư ngụ trong các năm 1956 – 58 hồi còn học luật ở Saigon. Sau này khi ra trường, thì tôi đi làm cho Quốc hội Việt nam thời Đệ nhất Cộng hoà, nơi đây cũng có một thư viện với khá nhiều sách báo mới do các sứ quán ngoại quốc gửi tặng, cũng như do văn phòng Quốc hội mua sắm riêng cho các dân biểu tham khảo. Nhưng thường ngày, thì chỉ có mấy chuyên viên trẻ tuổi như tôi mới hay lui tới đọc sách tại đây, vì thư viện này được giao cho Sở Nghiên cưú Pháp chế chúng tôi quản lý. Hồi đó tôi hay nói đuà với mấy bạn đến thăm tại văn phòng rằng :  Vốn là một tên mọt sách, tôi làm việc tại nơi có thư viện như cơ quan này, thì giống như là một thứ “chuột sa chĩnh gạo “ấy !
 Và nhất là khi tôi được gửi đi du học tu nghiệp tại Mỹ vào năm 1960-61, thì tôi được tới tập sự tại Thư viện Quốc hội Mỹ (Library of Congress) là một cơ sở văn hoá có tiếng tăm vào bậc nhất trên thế giới. Tôi được các bậc đàn anh trong Sở Sưu tầm Lập pháp (Legislative Reference Service LRS) tại đây chỉ dẫn tận tình về cách thức nghiên cưú sưu tầm tài liệu phục vụ chuyên biệt cho Quốc hội với một chuyên viên mới có cỡ 25-26 tuổi vưà mới từ một cơ sở non trẻ tại Việt nam tới để học tập nâng cao trình độ chuyên môn trong ngành nghiên cứu luật pháp. Các vị huynh trưởng này phần nhiều đã vào tuổi trên dưới 40, là luật sư hay giáo sư đại học, họ thấy tôi ham tìm kiếm học hỏi thì lại càng hết sức truyền thụ kiến thức chuyên môn cho tôi. Vì thế mà kể từ năm 2000, tôi đã luôn luôn tìm cách trở lại cơ sở nghiên cưú này để tìm kiếm tài liệu cho đề tài nghiên cưú dài ngày cuả tôi về” sự phục hồi xã hội dân sự tại Đông Âu kể từ khi chế độ công sản sụp đổ vào năm 1989”. Các chuyên gia phân tích luật pháp (legal analyst) hiện làm việc tại cơ sở Law Library này, thì hầu hết chỉ vào cỡ tuổi 40 – 50, nên họ có sự quý trọng đối với một vị “laõ thành” đã vào cái tuổi thất thập như tôi, mà đã từng lui tới cơ sở này từ trên 40 năm trước vào đầu thập niên 1960, dưới trào Tổng Thống Eisenhower và Kennedy.
Vậy đó, sau nhiều năm miệt mài theo đuổi hoạt động xã hội trong thời gian chiến tranh khói lưả ở Việt nam, rồi tiếp đến những năm tháng dài đằng đẵng phải sống dưới chế độ cộng sản, và nhất là sau mấy năm bị nhốt trong các trại tù, thì bây giờ được sống trong một xã hội tự do thông thoáng và tiến bộ như ở nước Mỹ hiện nay, tôi đã tìm lại được cái niềm say mê thích thú với sách vở chữ nghiã, như đã từng theo đuổi từ cái hồi trai trẻ vào lưá tuổi đôi mươi trong muà xuân cuả cuộc đời mình. Và nhất là ngày nay, nhờ có internet nên việc sưu tầm nghiên cứu cũng dễ dàng mau lẹ và chính xác hiệu quả hơn trước đây rất nhiều. Cũng phải kể đến các tiện nghi dễ dãi mà các thư viện cuả các thành phố lớn, cũng như cuả các đại học luôn dành sự ưu đãi cho các chuyên viên nghiên cứu nưã. Nhờ vậy mà tôi có thêm sự phấn khởi để dấn thân vào cái công việc học hỏi nghiên cứu trong lãnh vực xã hội học về chánh trị và văn hoá (politico-cultural sociology), mà tôi đã để tâm theo đuổi từ mấy chục năm qua, ngay khi còn ở quê nhà thời kỳ trước năm 1975.
Tôi thật an tâm thanh thản để tiếp nối con đường cuả một kẻ có niềm say mê với sách vở chữ nghiã ngay từ buổi thiếu thời ở quê nhà giưã cái thời chiến tranh đày những hận thù và tang thương khói lưả. Và tôi luôn cố gắng hết sức để có thể trả xong được” cái món nợ aó cơm và nợ đèn sách” mà quê hương và xã hội đã cung ứng quá đày đủ cho mình suốt trong bao nhiêu năm nay.Tôi vui thích được học “chữ nghiã cuả thánh hiền” trong truyền thống văn hoá dân tộc Việt nam cuả mình. Và tôi cũng biết ơn đối với nền văn hoá Âu Mỹ mà tôi cũng tiếp thu được để bồi bổ cho cái vốn liếng văn hoá dân tộc cuả cha ông mình. Trong ý hướng sòng phẳng và lành mạnh đó, tôi vui mùng phấn khởi với công việc sưu tầm và nghiên cứu đã khởi sự từ nhiêu năm nay cuả mình vậy./
California, Tháng 11 Năm 2009
Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kể từ khi tổ chức khủng bố Hamas tấn công vào Israel vào ngày 7 tháng 10 năm 2023, các vụ xung đột đẫm máu xảy tại Dải Gaza cho đến nay vẫn chưa kết thúc. Nhưng gần đây, cộng đồng quốc tế còn tỏ ra lo ngại nhiều hơn khi giao tranh giữa Israel và lực lượng dân quân Hezbollah ở Lebanon đang gia tăng. Bằng chứng là sau cái chết của thủ lĩnh Hamas Ismail Haniya và thủ lĩnh Hezbollah Hassan Nasrallah, tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn.
Trong vài tháng qua, người dân Mỹ, dù muốn hay không muốn, cũng đã có nhiều cơ hội để nhìn về một bức tranh mà trong đó có quá nhiều sự tương phản. Những mảnh ghép từ hai tầm nhìn, hai chiến lược, hai mục đích hoàn toàn khác biệt đã dần dần rơi xuống, để lộ ra hai con đường hoàn toàn khác biệt cho người Mỹ lựa chọn. Dù có một bức màn đã rơi xuống (như nữ hoàng Oprah Winfrey đã ví von) cho một thuyền trưởng bước ra, trao lại cho người dân sự hy vọng, lòng tin, trách nhiệm, thì sâu thẳm bên trong chúng ta vẫn muốn biết, những giá trị thực của một triều đại đã mang lại. Từ đó, niềm tin sẽ được củng cố.
Bi hài kịch “ngoại giao cây tre”, với hoạt cảnh mới nhất là “cưỡng bức đặc xá”, đã giúp chúng ta nhận ra rằng, dẫu khác nhau nước lửa, “phóng sinh” và “hiến tế” vẫn có thể hội tụ ở ý nghĩa “triều cống” khi phải chiều lòng hai cường quốc ở hai đầu mút của hai hệ tư tưởng trái ngược nhau. Để đẹp lòng bên này thì phải nhẫn tâm “hiến tế”, mà để làm hài lòng bên kia thì phải diễn tuồng “phóng sinh” để có một dáng dấp khai phóng, cởi mở. “Chiến lược ngoại giao” này, phải chăng, là một trò chơi “ăn bù thua” mà, diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học của Game Theory, là có tổng bằng không?
Trận Điện Biên Phủ kết thúc vào hôm 7 tháng 5 năm 1954. Bẩy mươi năm đã qua nhưng dư âm chiến thắng, nghe chừng, vẫn còn âm vang khắp chốn. Tại một góc phố, ở Hà Nội, có bảng tên đường Điện Biên Phủ – cùng với đôi dòng chú thích đính kèm – ghi rõ nét tự hào và hãnh diện: “Tên địa danh thuộc tỉnh Lai Châu, nơi diễn ra trận đánh quyết liệt của quân và dân ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm thực dân Pháp kéo dài 55 ngày đêm”.
JD Vance đã chứng tỏ một “đẳng cấp” khác, rất “Yale Law School” so với thương gia bán kinh thánh, giày vàng, đồng hồ vàng, Donald Trump. Rõ ràng, về phong cách, JD Vance đã tỏ ra lịch sự, tự tin – điều mà khi khởi đầu, Thống đốc Walz chưa làm được. Vance đã đạt đến “đỉnh” của mục tiêu ông ta muốn: lý trí, ôn hoà, tỉnh táo hơn Donald Trump. “Đẳng cấp” này đã làm cho Thống Đốc Tim Walz, người từng thẳng thắn tự nhận “không giỏi tranh luận” phải vài lần phải trợn mắt, bối rối trong 90 phút. Cho dù hầu như trong tất cả câu hỏi, ông đã làm rất tốt trong việc phản biện lại những lời nói dối của JD Vance, đặc biệt là câu chất vất hạ gục đối thủ ở phút cuối: “Trump đã thua trong cuộc bầu cử 2020 đúng không?” JD Vance đáp lại câu hỏi này của Tim Walz bằng hàng loạt câu trả lời né tránh và phủ nhận sự thật. Và dĩ nhiên, rất “slick.” “Trump đã chuyển giao quyền lực rất ôn hoà.” Cả thế giới có thể luận bàn về sự thật trong câu trả lời này.
Phải nhìn nhận rằng chuyến đi đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Mỹ đã được giới chức ngoại giao Việt Nam thu xếp để ông gặp được nhiều lãnh đạo, xem như xã giao ra mắt để hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lãnh vực trong tương lai. Bài diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc chỉ lặp lại các chính sách đối ngoại của Hà Nội, nên không được truyền thông quốc tế chú ý nhiều như các diễn văn của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu, là đại diện cho những quốc gia trực tiếp liên can đến các xung đột ở Trung Đông, ở Ukraine mà có nguy cơ lan rộng ra thế giới. Ông Lâm mới lên làm chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Đảng Cộng sản được vài tháng, sau khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng qua đời, nên ông muốn dịp đến Liên Hiệp Quốc là dịp để thể hiện vai trò lãnh đạo của mình và nhấn mạnh đến chính sách ngoại giao du dây của Hà Nội.
Sự bất mãn lan rộng với các hệ thống thuộc chủ nghĩa tư bản hiện tại đã khiến nhiều quốc gia, giàu và nghèo, tìm kiếm các mô hình kinh tế mới. Những người bảo vệ nguyên trạng tiếp tục coi Hoa Kỳ là một ngôi sao sáng, nền kinh tế của nước này vượt xa châu Âu và Nhật Bản, các thị trường tài chính của nước này vẫn chiếm ưu thế hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, công dân của nước này cũng bi quan như bất kỳ công dân nào ở phương Tây.
Sau 38 năm quyết định “đổi mới hay là chết” (1986-2924) CSVN vẫn còn là quốc gia do một đảng độc quyền lãnh đạo; không có bầu cử tự do; không cho lập đảng đối lập và không có báo chí tư nhân. Vì vậy, những khẩu hiệu “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”, hay “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” được Đại hội lần thứ X khẳng định là những khoe khoang nhàm chán...
Việc Donald Trump được gần phân nửa người Mỹ chấp nhận và ủng hộ trong những năm gần đây đã khiến nhiều người trí thức trong xã hội Hoa Kỳ đặt câu hỏi về sự tồn tại của “human decency”, hay dịch nôm na là “sự đàng hoàng, sự tử tế, đạo đức nhân tính của con người”. Liệu xã hội ngày nay đã hạ thấp chuẩn mực “đàng hoàng”, hay có thể nào sự đàng hoàng, tử tế giờ đây không còn là một nhân tính cần thiết trong giá trị nhân bản? Dĩ nhiên trong mỗi xã hội, mỗi người có mỗi “thước đo” riêng về mức độ của “đàng hoàng”, nhưng từ ngữ tự nó phải phần nào nói lên một chuẩn mực nhất định. Theo một số tự điển tiếng Việt, chúng ta có thể đồng ý rằng: 1. Đàng hoàng là một tính từ tiếng Việt mô tả cuộc sống đầy đủ, đáp ứng được các nhu cầu chung của xã hội. Ví dụ: cuộc sống đàng hoàng, công việc đàng hoàng, nhà cửa đàng hoàng. 2. Đàng hoàng còn được dùng để chỉ những biểu hiện về tính cách mẫu mực, hay tư cách con người tử tế đáng được coi trọng.
Thư tịch cổ ghi rằng… Lịch sử trên thế giới thật sự rất hiếm người tài vừa là vua đứng đầu thiên hạ vừa là một hiền triết. Nếu văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations” thì ở phương Đông hơn mười hai thế kỷ sau có Vua Trần Nhân Tông của nước Việt. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, triều đại của Vua Trần Nhân Tông là triều đại cực thịnh nhất của sử Việt. Ông là vị vua liêm chính, nhân đức, một thi sĩ, đạo sĩ Phật giáo. Do là một vị vua đức độ, trọng dụng nhân tài, nên ông thu phục nhiều hào liệt trong dân, lòng người như một. Quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…Về văn thơ có những người uyên bác như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Vua Trần Nhân Tông thương dân như con, xem trung hiếu làm đầu, lấy đạo nghĩa trị quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.