Hôm nay,  

Niềm Vui Sách Đèn

14/12/200900:00:00(Xem: 5871)

Niềm Vui Sách Đèn 

Đoàn Thanh Liêm   
(Để tưởng nhớ Học giả Nguyễn Hiến Lê, Luật sư Trần Văn Tuyên và Nhà báo Đỗ Ngọc Yến. )
Ngoài cuộc sống gia đình, tôi có hai điều say mê thích thú trên đời. Đó là niềm vui với bạn bè bằng hữu, và niềm vui với sách vở chữ nghiã.
Vào năm 1983, tính theo tuổi ta, thì tôi đã bước vào tuổi “Ngũ thập tri thiên mệnh” rồi. Mà vào lúc đó, tình hình ở Việt nam dưới chế độ cộng sản thì thật là đen tối bế tắc. Nên tôi có làm mấy câu thơ để giãi bày tâm sự như sau  :
Ngũ tuần vưà tới năm nay 
Tóc sương đã điểm, tim này còn rung
Giữa cơn gió bụi mịt mùng
Bạn hiền tri kỷ vẫn chung một lòng
Sách đèn gia nghiệp đêm chong
 Gắng công tu luyện, thoát vòng tối tăm.
Bài này tôi có đọc cho các bạn thân thiết nghe chơi. Đặc biệt, tôi có gửi cho cụ Nguyễn Hiến Lê hồi đó đang về nghỉ tại Long Xuyên. Ít lâu sau cụ Nguyễn về lại Saigon, thì cụ lại đến nhà thăm tôi. Truyện trò thăm hỏi mấy câu, thì cụ lấy từ túi aó ra bức thư tôi đã gửi cho cụ ở Long Xuyên. Cụ đọc lại bài thơ và gật đầu, tán thưởng. Cụ nói  : “Tôi đọc mấy câu thơ tâm sự này cuả ông, mà cảm thấy vui lây với cái tinh thần lạc quan, bình tĩnh cuả ông. Thật đúng là khẩu khí cuả con người là cháu nội cuả một vị đồ nho như trường hợp cuả ông...”
Cụ nói như vậy, vì trước đó tôi đã có dịp tâm sự với cụ rằng tuy là cháu cuả một vị đồ dậy chữ nho, mà tôi chẳng được học lấy một câu chữ nho nào cuả ông nội, bởi lẽ ông tôi đã mất khi tôi mới có 5-6 tuổi gì đó thôi. Tuy vậy, tôi vẫn luôn nhớ là cha mẹ tôi thường nhắc nhở dặn dò lũ anh chị em chúng tôi là : “ Chúng con phải cố gắng để mà giữ vững được cái nền nếp gia phong, gia đạo cuả dòng họ nhà mình ...” Sau năm 1975, thì tôi có cái duyên được quen biết gần gũi với cụ Lê; và tôi thường lui tới thăm viếng, đàm đạo với cụ một già một trẻ, thật là tâm đắc. Ông cụ lại còn tặng cho tôi một số cuốn sách rất có giá trị, cụ thể như cuốn “Cổ văn Trung quốc” do cụ biên soạn vào hồi năm 1966 - 67, và cả cuốn “ Les dilemmes du développement” cuả giáo sư Raymond Aron là một tác giả mà cụ cũng như tôi đều rất ưa thích. Bằng một giọng nói bình thản, nhẹ nhàng có lần Cụ tâm sự với tôi : “ Tôi đang chuẩn bị cho “chuyến đi xa cuả tôi” (mon grand départ), nên đã soạn ra các sách dành riêng cho cháu nội hiện ở bên Pháp. Còn lại, thì gửi cho bạn bè mỗi người một vài cuốn để làm kỷ niệm. Xin ông giữ lấy một ít cuốn tôi gửi tặng vậy nhé...” Và chẳng bao lâu sau, cụ Nguyễn Hiến Lê đã từ giã cõi đời vào cuối năm 1984 tại Saigon.
Người thứ hai mà tôi cũng rất quý mến thân quen hồi trước năm 1975, đó là Luật sư Trần Văn Tuyên. Ông là một vị niên trưởng nổi danh cuả giới luật gia chúng tôi trong Luật sư đoàn Toà Thượng Thẩm Saigon. Nhiều buổi sáng sớm, tôi đến thăm thì được mời lên phòng trên lầu uống cà phê với ông. Lúc đó ông còn mặc áo bà ba, ngồi bàn giảng bài toán cho cô con gái nhỏ còn đang học trung học cuả mấy bà soeur. Phòng ông làm việc thì chỉ có sách ơi là sách được bày trên các kệ thật cao. Luật sư Tuyên luôn khuyến khích việc anh chị em thanh niên chúng tôi làm công tác xã hội tại các quận 6,7,8 Saigon. Có lần ông xuống thăm mấy công trường tái thiết các khu nhà bị tàn phá thời Tết Mậu Thân 1968 và thân mật nói chuyện trao đổi với chúng tôi.Sau ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi có đến thăm ông bà vẫn còn ở lại Việt nam, ông có giữ tôi lại ăn cơm trưa với ông bà, và đó là bữa cơm cuối cùng giữa ông và tôi. Vì sau đó, thì ông phải vào trại” tù cải tạo”, rồi bị mất tại trại Hà Tây gần với ga xe lưả Văn Điển ngoài Bắc vào cuối năm 1976.
Vào hồi năm 1981-82, thì bà Luật sư Tuyên tức là Phạm Thị Côn có cho tôi hay rằng : “Sách cuả anh Tuyên để lại quá nhiều, mẹ con tôi phải cho bán bớt đi. Nhưng tôi muốn để cho các anh là chỗ thân thiết lâu năm với anh Tuyên, thì các anh được quyền ưu tiên chọn lấy các sách về chính trị, luật pháp mà các anh thích. Riêng anh, thì anh muốn chọn lấy bao nhiêu cũng được, vì anh là người bạn rất tâm đắc cuả anh Tuyên. Xin anh cứ thoải mái chọn các sách mà anh ưa thích, như là một kỷ niệm đẹp đẽ cuả anh Tuyên vậy...” Và tôi đã chọn được đến vài ba chục cuốn sách mà tôi ưa thích, đặc biết có cả bộ sách trên 10 cuốn cuả nhà khảo cổ lừng danh thế giới là Teilhard de Chardin cuả Pháp.Tủ sách cuả Luật sư Tuyên rất quý, vì ngoài các sách ông mua sắm trong các chuyến công du ở ngoại quốc, lại còn các sách ông được giới ngoại giao hay chính khách quốc tế tăng biếu ông nưã. Cụ Nguyễn Hiến Lê là bạn cùng học chung với Luật sư Tuyên tại trường Bưởi Hanoi năm 1930-32, thì cụ nói với tôi :” Anh Tuyên ngày xưa học rất giỏi, đặc biệt là về môn Toán. Sau này anh ấy học Luật, chứ nếu mà anh ấy theo đuổi ngành khoa học, thì anh vẫn có thể xuất sắc như thường.” Thành ra tôi là người đều có duyên thân thiết với cả hai vị tiền bối, mà là bạn đồng môn với nhau tại ngôi trường mà sau này đổi tên là Trường Chu Văn An, và tôi là kẻ hậu sinh cũng đã theo học tại ngôi trường này vào hồi trước năm 1954 nưã.
Người thứ ba mà rất có duyên với tôi về chuyện sách vở vào thời kỳ tôi qua định cư ở California, đó là nhà báo Đỗ Ngọc Yến. Dĩ nhiên là chúng tôi quen biết gắn bó với nhau trong công tác xã hội từ rất lâu trước kia ở Việt nam. Hồi năm 1965, Yến là Tổng Thư Ký cuả Chương trình Công Tác Hè cuả giới Thanh niên, Sinh viên , Học sinh toàn miền Nam Việt nam, lúc mới có 24 tuổi.


Ngoài chuyện hoạt động xã hội rất năng nổ nhiệt thành, Yến còn có sự say mê với sách vở. Anh chiụ khó tiện tặn trong các khoản chi tiêu để còn dành dụm tiền vào việc mua sắm sách báo, ngay từ cái thời còn ở Việt nam. Nhưng qua đến Mỹ, thì trong vài chục năm Yến đã mua sắm được cơ man nào là sách báo. Sách nhiều đến nỗi trong các phòng ngủ, đâu đâu cũng đày ắp sách ơi là sách, kể cả cái garage nưã, đó không phải là chỗ chứa xe, mà là cả một kho sách với các kệ chưá kín mít. Mà Yến lại rất rộng rãi, đem chia sớt cho bất cứ bạn bè nào có nhu cầu tham khảo, tìm kiếm kiến thức nơi sách báo. Từ ngày qua Mỹ năm 1996, tôi đã được Yến cho đến cả mấy chục cuốn sách mới xuất bản rất có giá trị, mà sau năm 1975 tại quê nhà tôi it có dịp được biết tới. Yến lại khuyến khích tôi nên tập trung vào một số lãnh vực mình có sở trường, chứ không nên bao biện dàn trải mở rộng trong nhiều bộ môn. Và trong hầu hết các sách Yến cho tôi, thì đều có những ghi chú cuả anh khi đọc. Đó là điều chứng tỏ là Yến đọc sách rất nghiêm túc, tôi thấy Yến cũng giống như cụ Nguyễn Hiến Lê trong khiá cạnh đọc sách và ghi chú rất kỹ lưỡng vào lề các trang sách. Cụ thể như trong các sách cuả Henry Kissinger hay cuả Raymond Aron mà Yến cho tôi mấy cuốn, thì tôi thấy đày rãy những ghi chú cuả anh dọc theo các trang sách, khi thì bằng mực đỏ, lúc thì bằng bút chì đen. Kể cả sau khi Yến mất đi, thì tôi vẫn còn đến nhà chị Loan là bà xã cuả anh để xin thêm một vài cuốn sách nưã. Chị Loan nói : Anh cứ thoải mái chọn các sách mà anh cần, vì tôi đang phải tìm cách chuyển cái kho sách quá nhiều này đến các nơi nào có nhu cầu như tủ sách cuả các cơ quan đoàn thể chẳng hạn.
Chị Loan còn nhắc lại cho tôi biết về cái niềm say mê cuả ông xã cuả chị với sách vở chữ nghiã. Hầu như không mấy dịp nghỉ cuối tuần nào mà Yến không đi lùng kiếm sách nơi các chợ sách hay nơi các thư viện trong vùng Orange County. Có lần Yến mua cả một lô đến cả ngàn cuốn sách cũ cuả thư viện Đại học Fullerton và phải giao hẹn với cơ sở này để dành cho Yến kiếm xe đến chở đi lần lần. Tôi cũng vốn có sự say mê với sách vở, nhưng chưa thấm vào đâu so với nỗi đam mê này cuả Yến. Anh đã từ giã cõi đời được trên 3 năm rồi, nhưng cái ký ức cuả tôi về Yến trong chuyện sách vở, cũng như sự quý mến bằng hữu thì không bao giờ phai lạt tan biến đi đâu được.
*           *          * 
Ngay từ cái hồi còn theo đuổi học tập tại đại học ở Saigon, tôi đã hăm hở lui tới hầu hết các thư viện trong thành phố, đặc biệt là thư viện cuả phòng thông tin Hoa kỳ, thư viện cuả hội Alliance Francaise cuả Pháp, cuả Học viện Quốc gia Hành chánh do đại học Michigan bảo trợ, và dĩ nhiên là thư viện cuả đại học Luật khoa. Đó là chưa kể thư viện cuả các linh mục Dòng Đaminh nơi cư xá sinh viên Phục Hưng ở số 43 Nguyễn Thông mà tôi được cư ngụ trong các năm 1956 – 58 hồi còn học luật ở Saigon. Sau này khi ra trường, thì tôi đi làm cho Quốc hội Việt nam thời Đệ nhất Cộng hoà, nơi đây cũng có một thư viện với khá nhiều sách báo mới do các sứ quán ngoại quốc gửi tặng, cũng như do văn phòng Quốc hội mua sắm riêng cho các dân biểu tham khảo. Nhưng thường ngày, thì chỉ có mấy chuyên viên trẻ tuổi như tôi mới hay lui tới đọc sách tại đây, vì thư viện này được giao cho Sở Nghiên cưú Pháp chế chúng tôi quản lý. Hồi đó tôi hay nói đuà với mấy bạn đến thăm tại văn phòng rằng :  Vốn là một tên mọt sách, tôi làm việc tại nơi có thư viện như cơ quan này, thì giống như là một thứ “chuột sa chĩnh gạo “ấy !
 Và nhất là khi tôi được gửi đi du học tu nghiệp tại Mỹ vào năm 1960-61, thì tôi được tới tập sự tại Thư viện Quốc hội Mỹ (Library of Congress) là một cơ sở văn hoá có tiếng tăm vào bậc nhất trên thế giới. Tôi được các bậc đàn anh trong Sở Sưu tầm Lập pháp (Legislative Reference Service LRS) tại đây chỉ dẫn tận tình về cách thức nghiên cưú sưu tầm tài liệu phục vụ chuyên biệt cho Quốc hội với một chuyên viên mới có cỡ 25-26 tuổi vưà mới từ một cơ sở non trẻ tại Việt nam tới để học tập nâng cao trình độ chuyên môn trong ngành nghiên cứu luật pháp. Các vị huynh trưởng này phần nhiều đã vào tuổi trên dưới 40, là luật sư hay giáo sư đại học, họ thấy tôi ham tìm kiếm học hỏi thì lại càng hết sức truyền thụ kiến thức chuyên môn cho tôi. Vì thế mà kể từ năm 2000, tôi đã luôn luôn tìm cách trở lại cơ sở nghiên cưú này để tìm kiếm tài liệu cho đề tài nghiên cưú dài ngày cuả tôi về” sự phục hồi xã hội dân sự tại Đông Âu kể từ khi chế độ công sản sụp đổ vào năm 1989”. Các chuyên gia phân tích luật pháp (legal analyst) hiện làm việc tại cơ sở Law Library này, thì hầu hết chỉ vào cỡ tuổi 40 – 50, nên họ có sự quý trọng đối với một vị “laõ thành” đã vào cái tuổi thất thập như tôi, mà đã từng lui tới cơ sở này từ trên 40 năm trước vào đầu thập niên 1960, dưới trào Tổng Thống Eisenhower và Kennedy.
Vậy đó, sau nhiều năm miệt mài theo đuổi hoạt động xã hội trong thời gian chiến tranh khói lưả ở Việt nam, rồi tiếp đến những năm tháng dài đằng đẵng phải sống dưới chế độ cộng sản, và nhất là sau mấy năm bị nhốt trong các trại tù, thì bây giờ được sống trong một xã hội tự do thông thoáng và tiến bộ như ở nước Mỹ hiện nay, tôi đã tìm lại được cái niềm say mê thích thú với sách vở chữ nghiã, như đã từng theo đuổi từ cái hồi trai trẻ vào lưá tuổi đôi mươi trong muà xuân cuả cuộc đời mình. Và nhất là ngày nay, nhờ có internet nên việc sưu tầm nghiên cứu cũng dễ dàng mau lẹ và chính xác hiệu quả hơn trước đây rất nhiều. Cũng phải kể đến các tiện nghi dễ dãi mà các thư viện cuả các thành phố lớn, cũng như cuả các đại học luôn dành sự ưu đãi cho các chuyên viên nghiên cứu nưã. Nhờ vậy mà tôi có thêm sự phấn khởi để dấn thân vào cái công việc học hỏi nghiên cứu trong lãnh vực xã hội học về chánh trị và văn hoá (politico-cultural sociology), mà tôi đã để tâm theo đuổi từ mấy chục năm qua, ngay khi còn ở quê nhà thời kỳ trước năm 1975.
Tôi thật an tâm thanh thản để tiếp nối con đường cuả một kẻ có niềm say mê với sách vở chữ nghiã ngay từ buổi thiếu thời ở quê nhà giưã cái thời chiến tranh đày những hận thù và tang thương khói lưả. Và tôi luôn cố gắng hết sức để có thể trả xong được” cái món nợ aó cơm và nợ đèn sách” mà quê hương và xã hội đã cung ứng quá đày đủ cho mình suốt trong bao nhiêu năm nay.Tôi vui thích được học “chữ nghiã cuả thánh hiền” trong truyền thống văn hoá dân tộc Việt nam cuả mình. Và tôi cũng biết ơn đối với nền văn hoá Âu Mỹ mà tôi cũng tiếp thu được để bồi bổ cho cái vốn liếng văn hoá dân tộc cuả cha ông mình. Trong ý hướng sòng phẳng và lành mạnh đó, tôi vui mùng phấn khởi với công việc sưu tầm và nghiên cứu đã khởi sự từ nhiêu năm nay cuả mình vậy./
California, Tháng 11 Năm 2009
Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày 20/7/1969, hai phi hành gia Neil Armstrong và Edwin Aldrin đi vào lịch sử như là hai người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng thế nhưng sự kiện này bị một số nhà “lý thuyết âm mưu” lên tiếng phủ nhận. Căn cứ vào những điểm “khả nghi” trong tấm hình chụp Armstrong đứng cạnh lá cờ cắm trên Mặt Trăng, họ quả quyết rằng tất cả chỉ là chuyện dàn dựng và bức hình này chỉ được chụp tại một sa mạc ở Nevada. Nhưng bằng chứng của vụ đổ bộ ấy đâu chỉ duy nhất một tấm hình? Tàu Appollo 11 phóng từ mũi Kennedy trước con mắt hàng chục ngàn người và hàng trăm triệu người qua ống kính truyền hình. Hàng trăm ngàn thước phim quay được và chụp được khi tàu Appollo vờn trên quỹ đạo quanh mặt trăng, cảnh tàu con rời tàu mẹ để đổ bộ, cảnh các phi hành gia đi bộ và cả những túi đất đá mang về từ Mặt Trăng v.v. Chúng ta thấy gì ở đây? Những bằng chứng xác thực thì nặng như núi nhưng, khi đã cố tình không tin, đã cố vạch ra những âm mưu thì chỉ cần mấy điểm khả nghi nhẹ tựa lông hồng.
Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…” Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực...
Năm 2012 Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí Thư Trung Ương Đảng; năm 2013 trở thành Chủ Tịch Nước; đến năm 2018 tư tưởng Tập Cận Bình được chính thức mang vào Hiến Pháp với tên gọi “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội với đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới”. Tập Cận Bình đem lại nhiều thay đổi sâu sắc trong xã hội Trung Quốc, mối bang giao Mỹ-Trung và nền trật tự thế giới...
Xem ra thì người Mỹ, không ít, đang chán tự do và nước Mỹ đang mấp mé bên bờ vực của tấn thảm kịch mà nước Đức đã sa chân cách đây một thế kỷ khi, trong cuộc bầu cử năm 1933, trao hết quyền tự do cho Adolf Hitler, để mặc nhà dân túy có đầu óc phân chủng, độc tài và máu điên này tùy nghi định đoạt số phận dân tộc. Mà nếu tình thế nghiêm trọng của nước Đức đã thể hiện từ trước, trong cương lĩnh đảng phát xít cả khi chưa nắm được chính quyền thì, bây giờ, với nước Mỹ, đó là Project 2025.
Từ 20 năm qua (2004-2024), vấn đề hợp tác giữa người Việt Nam ở nước ngoài và đảng CSVN không ngừng được thảo luận, nhưng “đoàn kết dân tộc” vẫn là chuyện xa vời. Nguyên nhân còn ngăn cách cơ bản và quan trọng nhất vì đảng Cộng sản không muốn từ bỏ độc quyền cai trị, và tiếp tục áp đặt Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh “làm nền tảng xây dựng đất nước”...
Cái ông Andropov (“nào đó”) nghe tên cũng có vẻ quen quen nhưng nhất thời thì tôi không thể nhớ ra được là ai. Cả ủy ban nhân dân Rạch Gốc và nhà văn Nguyên Ngọc cũng vậy, cũng bù trất, không ai biết thằng chả ở đâu ra nữa. Tuy vậy, cả nước, ai cũng biết rằng trong cái thế giới “bốn phương vô sản đều là anh em” thì bất cứ đồng chí lãnh đạo (cấp cao) nào mà chuyển qua từ trần thì đều “thuộc diện quốc tang” ráo trọi – bất kể Tây/Tầu.
Việt Nam và Trung Quốc đã ký 14 Văn kiện hợp tác an ninh Chính trị, Kinh tế-Thương mại và Văn hóa-Báo chí trong chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm từ ngày 18 đến 20/08/2024. Trong số này, Văn kiện kết nối và thiết lập 3 Tuyến đường sắt giữa hai nước được gọi là “anh em” đã giúp Trung Quốc liên thông ra Biển Đông và bành trướng thế lực kinh tế...
Tại Campuchia, kênh đào Phù Nam Techo, trị giá 1,7 tỷ USD sẽ kết nối Phnom Penh và Vịnh Thái Lan, tượng trưng cho niềm tự hào dân tộc, an ninh và kết nối thương mại quốc tế. Người ta có thể cảm thấy như thế qua lời tuyên bố của Thủ tướng Campuchia Hun Manet và của ông Hun Sen, trong cương vị cố vấn, người đã chuyển giao quyền lực từ cha sang con vào năm ngoái...
Danh từ được tác giả dùng trong bài này không phải là danh từ theo tự loại mà là một thuật ngữ của Việt Cộng. Thuật ngữ Việt Công hay là danh từ Việt Cộng là những thuật ngữ, những từ được dùng trong nước dưới chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ở trong nước người ta không dùng từ “Việt Cộng” mặc dầu Việt Cộng chỉ có ý nghĩa là Cộng Sản Việt Nam chớ không có nghĩa gì khác. Phải nói rõ ràng và dài dòng như vậy để tránh hiểu lầm và hiểu sai. Những danh từ đề cập trong bài viết này đa số là những danh từ kinh tế, vì chủ đề của bài viết là kinh tế, phân tích những ván đề kinh tế, nhận định về kinh tế chớ không phải chính trị, mặc dầu kinh tế không thể tách rời khỏi chính trị, xuất phát từ chính trị và tác động trở lại đời sống của mỗi con người chúng ta.
“Tôi hơi chậm hiểu lại rất chóng quên nên dù đã lê lết qua hơi nhiều trường ốc (trong cũng như ngoài nước) nhưng trình độ học vấn và kiến thức cũng chả̉ tới đâu, vẫn chỉ ở mức làng nhàng. Nói tóm lại là thuộc loại “xoàng”! Ơ! “Xoàng” thì đã sao nhỉ? Cũng không đến nỗi trăng/sao gì đâu, nếu tôi biết điều (biết chuyện – biết thân – biết phận) hơn chút xíu. Khổ nỗi, tôi lại cứ tưởng là mình cũng thuộc loại đầu óc trung bình (hoặc chỉ dưới mức đó không xa lắm) nên ghi danh học – tùm lum/tùm la – đủ thứ phân khoa: Triết Lý, Tâm Lý, Xã Hội, Nhân Chủng …
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.