Hôm nay,  

Cõi Đó

25/08/200800:00:00(Xem: 9994)
Cách đây mấy năm, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài "Sự Chết và Đời Sống Vĩnh Cửu" do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Đang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn"! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.

Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ  Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi... 

Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách bình thản, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!

 THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT TRONG KHÓA TRIẾT THẦN 

Thú thực, trong suốt khóa học, tôi được nghe nhiều tư tưởng hấp dẫn, nhiều khám phá mới mẻ của nhiều nhà thông thái lỗi lạc, nhưng tôi lại bị, hay được một đoạn thật ngắn gây xúc động bất ngờ. Hình ảnh cứ lảng vảng bên trong suốt mấy ngày. Đó là khi giáo sư Nguyễn Thái Hợp nhắc tới câu chuyện nhà thơ Du Tử Lê ngồi đối diện với quan tài của người mẹ thân yêu đã suốt đời khổ nhục mà nay sắp tan vào bụi đất. Ông đã trăn trở với vấn nạn thẳm sâu nhất của một đời người:

 Chưa bao giờ tôi thấy,

tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế.

thầy M.G. nói, chết là về nhà

ông quên chỉ, ngôi nhà nào đây"

trên mặt đất hay sâu lòng địa ngục"

Tôi hình dung ra cảnh chính mình một ngày nào đó cũng đóng vai trò Du Tử Lê phải từ biệt người mẹ thân yêu nhất đời, vĩnh viễn hay có ngày gặp lại" Đúng vậy, chỉ khi nào đụng chạm tới những gì thân thiết nhất, mình mới nhận ra rằng những điều suy nghĩ trước đây dù sao vẫn chỉ là những cái ở ngoài, còn bây giờ "cái đó" đã trở thành "cái này" rồi. Hơn nữa, cứ tưởng tượng mà coi, chiếc quan tài kia lại đang chứa thi hài của chính mình, nằm bất động giữa bao nghi lễ và thủ tục đang diễn ra... rồi cũng được di chuyển tới nghĩa trang. Cõi đó, riêng tôi. Một mình...

Vũ Khắc Khoan trong "Đọc Kinh" đã khắc khoải nói lên: "Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ tát nào mô tả được hình tượng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên  -mặt trời lại mọc lúc đêm tàn- nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, vô lượng danh hiệu... Những nửa khuya tỉnh giấc, cái đó - chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hóa trang thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhòa dần, biến hẳn tuyệt mù."

Và Vũ Khắc Khoan đã khơi dậy câu hỏi ngàn đời nay trở thành câu hỏi chính mình: "Cõi đó, lạ lạ quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình." (Đọc Kinh, An Tiêm xuất bản, trang 40)

 ĐI VÀO CÕI LỚN 

Muốn lý luận gì thì lý luận, nhưng đứng trước quan tài của một người thương yêu, mình mới thấy thấm thía. Thân xác đẹp đẽ có quấn quít mấy rồi cũng thối rữa. Cái gì còn lại" Câu nói từ thực chứng não nề của Du Tử Lê có uy lực lay động con tim, thay đổi nhãn quan cua cả một đời người: "Chưa bao giờ tôi thấy, tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế." Vợ chồng dù có trở thành một xương một thịt, rồi cũng đến một lúc thấy chẳng phải vậy khi một trong hai phải bước đi lên xe hoa là chiếc quan tài mà bay vào cõi đó. Một mình.

Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh

Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn

Ở nhịp trần gian, quay cuồng...

Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn

Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn...

Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai

Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa.

(Phạm Duy, Rong Khúc Hát Cho Năm 2000)

Ai mà chả có một lần ra đi. Sinh ký tử qui: sống gửi thác về. Nhưng về đâu, quê nào, nhà nào, thì vẫn là một câu hỏi khúc mắc nhất. Cõi lớn nào, Ngàn Mai nào, Ngàn Xưa nào" Đó là một niềm tin hay một ảo tưởng" Có lần tôi đã tâm sự với nhạc sĩ Phạm Duy như vậy trong Đêm Hàn Mặc Tử ở New Orleans, khi thấy Hàn Mặc Tử đã cảm nghiệm được cõi đó là cõi sáng của tình yêu rung động lớp hào quang: 

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

Không u ám như cõi lòng ma quỉ

Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị

Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh. 

Đúng là đứng trước cái chết, con người mới thấy niềm tin quan trọng tới cỡ nào. Niềm tin sống gửi thác về gắn liền với sinh mệnh người mình. Vì thế mà nhiều người lớn tuổi thản nhiên mua trước cỗ quan tài để sẵn trong nhà, như sắm sẵn một chiếc xe để đi về quê mẹ sau những chiều chiều ra đứng ngõ sau vọng nhìn canh cánh ruột đau chín chiều.

 TIN VUI NẮM BẮT ĐƯỢC CHÌA KHÓA

Khóa Triết Thần này cũng nhằm trả lời cho câu hỏi ngàn đời trên. Giáo sư Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, nhà Phật học có thế giá vào bậc nhất hiện nay, cũng góp phần diễn tả niềm tin vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu là cõi Tịnh Độ, cõi Niết Bàn, theo quan niệm Phật giáo. Thần học gia Phan Đình Cho thì thao thao về một Đức Kitô là thân mình vũ trụ (Cosmic Christ) theo hướng "Bài Ca Vũ Trụ" (Hymn of the Universe) của Teihard de Chardin. Cái nhìn rất hiện đại này đã được thi sĩ William Blake hé mở từ lâu:

Thấy được cả đất trời trong một hạt cát nhỏ

Và thấy cả thiên đàng trong một bông hoa dại.

Hãy chứa đựng cõi vô biên trong lòng bàn tay

Và nắm bắt được vĩnh cửu trong một tiếng đồng hồ.

Như vậy, Quê Mẹ, Cõi Lớn, Ngàn Xưa, Ngàn Mai... đã bắt đầu từ giây phút hiện tại trong cuộc sống đời thường; đồng thời cũng vượt qua không gian và thời gian mà đi vào vĩnh cửu. Bởi vì chính Chúa Trời là cõi đó, là ngôi nhà hằng thể, là bến đậu vĩnh hằng, là nguyên thủy và là cùng đích, là Alpha và là Omega: Chúa là gia nghiệp đời con, như thánh vịnh từng diễn lên.

Chân lý của Chúa thì trường tồn, nhưng cần được diễn đạt cho hợp với văn hóa mỗi dân tộc cũng như cảm quan thời đại; vì thế mà cần đến suy tư thần học. Mỗi khía cạnh về Đức Kitô cũng được nhấn mạnh theo cảm quan đó. Tuy nhiên tất cả cũng chỉ là những suy tư để mở rộng nhãn giới, để hội nhập môi trường. Điều quan trọng vẫn là có gặp gỡ được chính Chúa trong tương giao thân tình hay không. Vì thế mà trong Tin Vui tuần này, Chúa Giêsu đã hỏi cho rõ: "Người ta bảo Con Người là ai"" Nước Trời tức Cõi Đó đang hiển hiện nơi đây là nơi Chúa đang hiện diện. 

Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, là Êlia, là Giêrêmia hay một vị ngôn sứ nào đó. Người thì bảo là Đấng Giải Phóng mang công bằng xã hội, là Thân Mình trời đất v.v. Nhưng Chúa muốn biết liên hệ tình nghĩa của từng người. Chúa muốn mỗi người nhận ra Chúa không do một mớ lý thuyết hay ý niệm nào cả, mà như một người thân thương có con tim biết rung động: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai"" (Mt 16:15). Đây là lúc người tin Đạo nhìn sâu vào con mắt rưng rưng cảm động của Chúa mà trả lời như thánh Phêrô, và đó cũng là nắm bắt được then chốt của triết thần. Nhìn được như vậy là được trao chìa khóa Nước Trời (Mt 16:19) mà mở cửa bước vào quê nhà ấm êm gặp gỡ chính Chúa vẫn luôn sống động hiện hữu đây: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16:16).

 PHÚT CHỜ BÃO EL NINO

 Nhà thơ Du Tử Lê sau nhiều trăn trở đã bước tới cảm nghiệm thật lạ trong thi tập Hoa Nào Tin Quả Đắng Đến Không Ngờ. Trong lúc chờ cơn bão El Nino chụp xuống, mọi vật mọi loài đều biết tìm cách trú núp, phương chi là con người.

thì ra, không chỉ em và, tôi

ngay thời gian / chim muông / mây, gió / ... /

cũng cần một nơi

để treo / móc /

những đồ lỉnh kỉnh

cuối đời chúng.

Mong ước của cả một đời người là tìm được "một chỗ cất dấu rất an toàn" nơi tình yêu, nơi mái tóc, nơi trái tim, nơi nụ cười. Đúng vậy, tình yêu tinh ròng thì đi vào vĩnh cửu, vì Thượng Đế chính là tình yêu, như Thánh Kinh đã tỏ lộ. Bến đậu vĩnh hằng nơi quê trời đây không còn như một khối lực vô vị tẻ lạnh đến rợn người như kiểu tượng muối hòa tan trong biển cả mênh mông, mà là một Thượng Đế Tình Yêu trong tương giao ấm áp cõi lòng với rung động con tim như Du Tử Lê cảm nghiệm:

 tất cả những nơi cất dấu nọ

(ngay linh hồn tôi)

lại được cất dấu an toàn:

- trong bàn tay Thượng Đế.

 Lm. Trần Cao Tường

Mời vào Mạng Lưới Dũng Lạc www.dunglac.org.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người còn tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.