Hôm nay,  

Biện Pháp Tiền Tệ Bất Thường

04/12/200800:00:00(Xem: 7376)

Biện pháp Tiền tệ Bất thường

Nguyễn Xuân Nghĩa & RFA
...Mỹ kim vẫn sẽ lên giá mạnh và chỉ tạm đứng giá vào giữa năm tới...
 Thứ Hai đầu tháng 12, Hoa Kỳ xác nhận là kinh tế đã chính thức trôi vào suy trầm kể từ tháng 12 năm 2007, tức là từ 12 tháng trước. Trong phương thức đối phó, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp tiền tệ bất thường khiến người ta nghĩ đến trường hợp Nhật Bản mươi năm trước, khi kinh tế bị giảm phát, hàng họ xuống giá mà vẫn ế và thất nghiệp kéo dài. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu biện pháp tiền tệ đó và về triển vọng hồi phục của kinh tế Hoa Kỳ. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, thế là kinh tế Hoa Kỳ đã chính thức trôi vào nạn suy trầm từ năm ngoái như thế giới vừa được thông báo hôm Thứ Hai mùng một tháng 12. Vì sao kinh tế của một siêu cường như Hoa Kỳ bị suy trầm cả năm sau rồi bây giờ ta mới được biết"
- Ông nêu ra một câu hỏi rất hay vì giúp ta nhìn ra vấn đề hầu tránh được những suy đoán hay lý luận sai và gây thiệt hại cho mình. Thứ nhất, khi nghiên cứu sinh hoạt kinh tế về dài, các nhà kinh tế nghiệm thấy là đà sản xuất có lúc tăng thì cũng có lúc giảm. Sự thăng giáng này thường xảy ra một cách định kỳ, theo khái niệm "chu kỳ kinh doanh". Chẳng hạn như tại Hoa Kỳ thì từ hơn 150 năm nay, bình quân kinh tế thịnh đạt 38 tháng liền thì cũng sa sút mất 17 tháng. Nhờ sự hiểu biết ấy, từ ba chục năm nay người ta đã có phương cách ứng phó khi kinh tế trôi vào chu kỳ sa sút nên nạn suy trầm mới chỉ xảy ra có bốn lần, lần thứ bốn là bây giờ.
Hỏi: Thế suy trầm là gì" Vì sao có người gọi là suy thoái"
- Suy thoái là "depression" là khi có sự thoái lui, một tình trạng sa sút nặng nề và tổng quát. Suy trầm là khi sản xuất đình đọng trầm lắng, nếu ta nhớ vậy thì dễ hiểu và không dùng chữ sai gây ấn tượng bi quan vì nếu gọi recession là suy thoái, khi kinh tế bị depression thì ta gọi là gì" Về suy trầm hay recession, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF định nghĩa là khi đà tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa GDP suy giảm trong hai quý liền, tức là trong sáu tháng liền. Định nghĩa chính thức đó được đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng. Hoa Kỳ lại khác. Họ có một cơ quan nghiên cứu tư nhân, gọi là National Bureau of Economic Research hay NBER, chuyên phân tích các chu kỳ kinh tế. Họ định nghĩa suy trầm là khi tồng sản lượng GDP sút giảm trong sáu tháng liên tục, sự sút giảm ấy được ghi nhận ở các yếu tố như thất nghiệp tăng, lương bổng đình đọng và số lượng hàng bán lẻ sa sút.
- Nói chung, cả hai cách đo đều có một nét là ta chỉ biết sinh hoạt kinh tế có suy trầm hay chưa sau khi thu thập dữ kiện, phân tích và điều chỉnh lại cho chuẩn xác. Cho nên, khi có đủ dữ kiện kết luận là kinh tế bị suy trầm thì thực tế có khi đã ra khỏi suy trầm mà mình chưa kịp đếm, kịp biết. Nếu không khéo đối phó, như bệnh nhân đã khỏi mà cứ bắt uống thuốc, thì có khi mình lại gây ra hậu quả xấu.
Hỏi: Lần này, nạn suy trầm kéo dài suốt một năm mà nay mình mới biết. Thế thì trong các đợt suy trầm trước đây, kinh tế Hoa Kỳ đã bị lâu hay mau"
- Theo định nghĩa của Văn phòng NBER thì lâu nhất là trận suy trầm hai năm, từ tháng Giêng  năm 1980 tới tháng 11 1982. Ngắn nhất là tám tháng suy trầm tính tới tháng Ba năm 1991. Mới nhất là sau khi bể bóng đầu tư cổ phiếu năm 2000 rồi Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công năm 2001, là một vụ suy trầm kéo dài 12 tháng. Dù sao, nếu kinh tế Hoa Kỳ đã bị suy trầm từ cuối năm ngoái, tức là sa sút trong 12 tháng liền, thì tình hình có thể sẽ sáng sủa hơn từ giữa năm tới trở đi. Sở dĩ như vậy là vì từ ba tháng nay, do hậu quả của khủng hoảng tài chính, Mỹ đã tung ra nhiều biện pháp kích thích kinh tế chưa từng thấy từ mấy chục năm nay.
Hỏi: Nhưng ông giải thích thế nào về sự kiện dư luận Hoa Kỳ và thế giới lại e ngại là kinh tế toàn cầu có thể bị suy xụp mạnh và thậm chí bị nạn giảm phát như Nhật Bản đã từng bị" Một trường hợp như vậy có thể xảy ra không"
- Nhật Bản bị bể bóng cổ phiếu từ năm 1991 và ba lần chống đỡ mà không xong nên mới bị nạn giảm phát, deflation. Lần đầu là từ 92 đến 94, lần hai là từ 95 đến 96 và lần ba là từ 97 đến 99. Sau khi hạ lãi suất gần với số không, mãi tới năm 2002 đến 2006 họ mới tìm ra liều thuốc là bơm thẳng tiền vào kinh tế. Họ gọi đó là "lượng đích kim dung hoà hoãn chính sách", Mỹ gọi chính sách đó là "quantitative easing" mà ta có thể dịch là biện pháp "gia tăng mức lưu hoạt tiền tệ có định lượng". Nôm na là không chỉ hạ lãi suất cho đồng tiền trở thành rẻ hơn, là biện pháp định phẩm, mà còn định lượng là bơm thẳng tiền vào doanh nghiệp. Đây là biện pháp rất đặc biệt hãn hữu và xuất phát từ bài học thất bại của Nhật Bản ngày trước. Dù không dùng từ ngữ đó, hôm Thứ Hai vừa qua, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mỹ đã thông báo chính sách này. Mà cũng cần nói rằng đây là chính sách đang được Ngân hàng Trung ương ECB của Âu Châu và Ngân hàng Trung ương của Anh quốc áp dụng. Đề tài này khá chuyên môn nên tôi không rõ là mình có nên trình bày ở đây không"


Hỏi: Chính là vì nó quá chuyên môn nên xin ông phân tích cho thính giả hiểu vì sao lại hãn hữu và liệu có công hiệu không" Trong nhiều chương trình trước, ông có nói đến bốn loại biện pháp kích thích kinh tế, đầu tiên là tiền tệ; vậy biện pháp gia tăng lưu hoạt tiền tệ có định lượng này có thuộc loại giải pháp tiền tệ ấy không" Và có triển vọng gì không"
- Biện pháp tiền tệ của các Ngân hàng Trung ương là trước tiên hạ lãi suất. Khi đã giảm lãi suất gần tới số không mà chưa công hiệu thì kinh tế có thể bị rơi vào hoàn cảnh các kinh tế gia gọi là "bẫp xập tiền tệ", tức là có tiền đó mà không ai dám xài, cũng bất lực tựa như ta đẩy một sợi dây, là trường hợp Nhật Bản. Khi đó ta có loại biện pháp bất thường cũng trong lĩnh vực tiền tệ.
- Thứ nhất, là cho dân chúng biết rằng lãi suất ngắn hạn ấy sẽ được duy trì rất lâu ở mức thấp đó để mọi người nghĩ rằng lãi suất thấp sẽ đẩy lạm phát. Công dụng của lời phát biểu là khiến cho thiên hạ sợ lạm phát làm đồng tiền mất giá, nên hết dám ghim trong nhà mà đem ra xài. Thứ hai là Ngân hàng Trung ương có thể in thêm bạc đem ra mua lại các tài sản đầu tư tài chính. Tất nhiên, không ai nói là "in bạc" theo lối thô thiển như vậy mà nói là "gia tăng bảng kết toán tài sản" của Ngân hàng Trung ương. Thực chất vẫn là Ngân hàng Trung ương đem tiền ra chợ mua lại tài sản của các doanh nghiệp tài chính để khai thông ách tắc tín dụng hay nạn cạn kiệt thanh khoản. Thứ ba, ngay trong cấu trúc các loại tài sản được mua lại, Ngân hàng Trung ương có thể chọn mua những khí cụ tài chính có kết quả kích thích kinh tế cao nhất. Thí dụ là ào ạt mua công khố phiếu dài hạn khiến phân lời sút giảm, tức là làm lãi suất dài hạn của nhiều loại tín dụng cũng giảm với kết quả tương tự như hạ lãi suất ngắn hạn. Loại biện pháp bất thường này đã được Ngân hàng Trung ương Mỹ áp dụng từ tháng Chín. So sánh với Nhật Bản là mất 10 năm xoay trở mới đi tới đó, Hoa Kỳ và Âu Châu đã phản ứng nhanh hơn, nhất là Hoa Kỳ, vì quy chế độc lập của hệ thống Ngân hàng Trung ương, tức là Hội đồng Dự trữ Liên bang.
Hỏi: Nhưng nếu ta hiểu không lầm thì biện pháp ấy có thể thổi lên nguy cơ lạm phát hay không"
- Chính vì vậy mà mình mới nói đến việc cho con bệnh uống thuốc khi bệnh đã lui thì nguy lắm! Thực tế thì nguy cơ lạm phát đã giảm trong các nước công nghiệp vì thương phẩm hạ giá, dầu thô tuột giá hai phần ba trong năm tháng có góp phần cho hiện tượng đó. Nói cho đơn giản và quá khich, giới hữu trách còn mong là vì thị trường sợ lạm phát mà đem tiền ra đầu tư tiêu thụ nhiều hơn hầu khỏi gây ra nạn giảm phát còn đáng sợ hơn lạm phát.
Hỏi: Nhưng nếu Mỹ áp dụng biện pháp tiền tệ ấy thì đồng bạc của Mỹ có bị mất giá hay chăng" Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm, nhất là ở tại Việt Nam.
- Trên nguyên tắc, khi lãi suất hạ và tiền nhiều thì trị giá đồng bạc phải giảm. Nhưng đô la Mỹ sẽ mất giá là so với ngoại tệ nào khi mà các nền kinh tế kia còn sa sút hơn kinh tế Mỹ" Tiền Mỹ chỉ mất giá khi lạm phát tại Mỹ cao hơn các xứ khác là điều chưa và khó xảy ra. Tôi thiển nghĩ Mỹ kim vẫn sẽ lên giá mạnh và chỉ tạm đứng giá vào giữa năm tới khi kinh tế Mỹ ra khỏi suy trầm.
Hỏi: Câu hỏi cuối, thưa ông: dựa trên cơ sở gì mà ông vẫn lạc quan tin rằng kinh tế Hoa Kỳ sẽ ra khỏi suy trầm"
- Vì cuộc tranh cử, dân Mỹ mất một năm bi quan than khóc và gây hốt hoảng cho các thị trường và khủng hoảng cho hệ thống tài chính. Cuộc tranh cử đã xong, nước Mỹ sẽ có lãnh đạo mới và có nhiệm vụ quản lý kinh tế nên hết dự báo thảm kịch làm dân chúng sợ hãi. Khi tin tức suy trầm được công bố hôm Thứ Hai, ta còn thấy ra là tình hình không thể là một vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933 như đã từng cảnh báo. Và với quyết định tiền tệ khá đặc biệt mình vừa trình bày, tương lai sẽ không là một vụ suy thoái kéo dài như Nhật Bản đã bị. Thứ ba, sau cả ngàn tỷ Mà Hoa Kỳ đã  tung ra, Chính quyền mới của Tổng thống Barack Obama có nhu cầu kích thích kinh tế rất mạnh, với kế hoạch có thể lên tới 500 tỷ là ít, để lập thành tích trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào năm 2010.
- Thứ tư, sau sáu tháng kiềm hãm sản xuất liên tục vì dự báo số cầu sút giảm, doanh nghiệp chế biến sẽ phải tái lập tồn kho kể từ quý hai năm tới trở đi, tức là sẽ nâng mức sản xuất và tuyển dụng. Thứ năm, vì số cầu sút giảm, hàng hóa giảm giá sau khi đã tăng trong sáu tháng đầu năm nay do e sợ lạm phát. Hiện tượng giảm giá ấy cũng sẽ kích thích tiêu thụ trong bối cảnh chung là lãi suất ngắn và dài hạn cùng hạ. Vì vậy, tin xấu vừa loan cũng thông báo là đêm dài đang chấm dứt. Dù sao, ta sẽ không thấy kinh tế tăng trưởng mạnh như sau mấy lần suy trầm trước và dân Mỹ sẽ thận trọng hơn khi tiêu xài và khi phán đoán những hứa hẹn của các chính trị gia.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.