Hôm nay,  

Vấn Đề Trung Quốc Của Úc

23/05/200900:00:00(Xem: 11203)

Vấn Đề Trung Quốc Của Úc
Nguyễn Xuân Nghĩa

Đóng Tầu Ngầm Ra Khỏi Pháo Đài...
Mùng hai tháng Năm vừa rồi, bộ Quốc Phòng Úc Đại Lợi công bố một Bạch thư về quốc phòng cho các thập niên tới ("Defending Australia in the Asia-Pacific Century: Force 2030). Văn kiện này được Chính quyền của Thủ tướng Kevin Rudd trang trọng giới thiệu với các chính quyền khác và lập tức được sự hưởng ứng của Jakarta, nhưng bị Bắc Kinh đả kích - là mở ra một cuộc thi đua võ trang.
Thiên triều bị chạm nọc!
Các quốc gia văn minh như Úc vẫn thường công bố viễn ảnh và chiến lược quốc phòng của mình trong các tập "bạch thư". Những lần trước là vào các năm 1987, 1994 và sau cùng là năm 2000, dưới Chính quyền bảo thủ của Thủ tướng John Howard. Sau khi đắc cử năm 2007, Chính quyền thiên tả Kevin Rudd đã muốn xét lại chiến lược quốc phòng nên chỉ thị cho bộ Quốc phòng nghiên cứu lại và soạn ra một bạch thư khác trước năm 2009. Văn kiện này bị trễ mất bốn tháng vì... lực bất tòng tâm: khủng hoảng kinh tế đã đảo lộn các ưu tiên về chiến lược và ngân sách.
Nhưng cuối cùng Bạch thư Force 2030 vẫn kịp xuất hiện và... trở lại chuyện cũ. Hoặc đúng hơn, hướng vào chuyện mới, là vấn đề Trung Quốc.
Cũ và Mới khác nhau thế nào, ta cần nhìn lại (độc giả có thể vào website của bộ Quốc phòng Úc để tham khảo tài liệu 143 trang này - và xin nhớ rằng bộ Quốc phòng viết theo Anh ngữ của Anh, không phải của Mỹ, là defence).
***
ÚC ĐẠI LỢI VÀ HOA KỲ
Cách đây 18 tháng, mùng năm tháng Chín năm 2007, Thủ tướng John Howard ký kết Hiệp định Hợp tác Thương mại và Quốc phòng với Tổng thống George W. Bush.
Hiệp định Mỹ-Úc được ký kết bên lề Thượng đỉnh APEC năm đó tại Sydney và tái khẳng định mối quan hệ chiến lược giữa hai quốc gia: Úc là đồng minh của Mỹ tại Á Châu y như Anh là đồng minh của Mỹ tại Âu Châu. Nghĩa là không thể nào gắn bó hơn, còn nặng hơn Nhật Bản, vốn thuộc một nền văn hoá khác. Sau đấy, Chính quyền Howard thất cử - một phần cũng vì quá gắn bó với Chính quyền Bush và tai họa Iraq - và phe đối lập thắng cử, ông Kevin Rudd lên làm Thủ tướng. Ông Rudd muốn rà soát lại chiến lược quốc phòng Úc nên mới chỉ thị việc nghiên cứu và công bố một bạch thư mới thay thế những gì ông cho là lỗi thời từ Bạch thư 200 của chính quyền tiền nhiệm.
Là người thông thạo Hoa ngữ, ông Rudd muốn gia tăng quan hệ với Trung Quốc tại Châu Á. Trong Thượng đỉnh G-20 tháng 11 năm ngoái ở Washington DC, khi Úc Đại Lợi là đồng chủ tịch ủy ban cải cách Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, ông kêu gọi IMF phải mở rộng cửa đón nhận Trung Quốc và các nước tân hưng khác. So sánh với chính quyền Howard, chính quyền Rudd có quan điểm thân thiện và ôn hoà hơn với Trung Quốc  - và độc lập hơn với Hoa Kỳ.
Khác biệt về quan điểm ấy có được phản ảnh qua hai cuốn Bạch thư về Quốc phòng Úc của các năm 2000 và 2009.
Một cách sơ lược thì chính quyền bảo thủ Úc tự coi là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và cùng Mỹ đảm bảo trật tự an ninh của Á châu Thái bình dương (tạm gọi là Thái-Á) trong khi hoàn toàn trông cậy vào Mỹ cho việc bảo vệ an ninh chiến lược của Úc. Nôm na thì quân lực Úc ("Lực lượng Phòng vệ Úc Đại Lợi" - ADF) sẽ cấp tốc có mặt trên các chiến trường nóng của khu vực Thái Á trong khi chờ đợi viện binh Hoa Kỳ tới giải quyết vấn đề trên một quy mô lớn hơn. Lớn nhất là việc phòng thủ cho Úc Đại Lợi khi có xung đột cấp quốc gia với võ khí chiến lược.
Chính quyền hiện hành thì có đổi khác - và sự khác biệt này được giới quan sát đưa lên hàng đầu - đó là Úc không thể hoàn toàn trông cậy vào Hoa Kỳ vì nước Mỹ bị bận chân hoặc có thể có ưu tiên khác. Thủ tướng Kevin Rudd đánh giá không sai chính quyền Barack Obama và số phận của các đồng minh cứ tưởng là chiến lược của Mỹ.
Vì vậy, dưới cái nhìn hiện đại của Úc - ít ra là từ nay đến năm 2030 - nước Úc phải tự lo lấy thân và trong ý nghĩa đó, cuốn Bạch thư là tiếng chuông cảnh tỉnh chính quyền Obamê. Ông Obama còn đang bận làm cách mạng xã hội nên chưa thấy có phản ứng vì về sự thay đổi này.
Nhưng, nếu nhìn xa hơn vấn đề Mỹ-Úc, Bạch thư Force 2030 lại có nhiều chỉ dấu còn đáng quan tâm hơn khiến Bắc Kinh mới giẫy nẩy. Chúng ta nên tìm hiểu về những chỉ dấu đó...
***
PHÁO ĐÀI ÚC ĐẠI LỢI
Nước Úc thật ra là một đại châu lục ("Úc Châu") ở miền Nam biển Thái bình, có diện tích vĩ đại là 7,7 triệu cây số vuông (so với khoảng 9,6 của Trung Quốc và Hoa Kỳ) mà chỉ có dân số thưa thớt là 22 triệu! Đa số dân cư lại tập trung ở các tiểu bang miền Đông, Đông Nam và Tây Nam. Với sản lượng kinh tế đứng hàng thứ 14 của thế giới, Úc là một quốc gia... "khiếm khai", chưa phát triển hết tiềm năng và tài nguyên thiên nhiên rất dồi dào của mình.
Mà đa số diện tích bạt ngàn ở miền Bắc lại là vùng đất không người.
Đóng bè qua biển Bắc ấy đi vài trăm hải lý là Úc gặp một vựa người đông đảo, 240 triệu dân của Nam Dương quần đảo, tuyệt đại đa số theo Hồi giáo. Xứ Nam Dương là một quần đảo có chừng 17.000 đảo lớn nhỏ trải ngang đường thông thương của Úc với biển Thái bình và qua Ấn Độ dương. Nam Dương mà có loạn, các tộc trưởng hoặc lãnh chúa mà làm chủ một số đảo để đòi tiền mãi lộ, hoặc thuyền nhân mà đóng bè tỵ nạn là Úc sẽ lãnh họa.
Vì địa dư hình thể ấy, các chính quyền tả hữu của Úc đều cùng theo đuổi một chiến lược phòng thủ có cái dạng của những hình tròn đồng quy. Nằm trong cốt lõi sau cùng, và ưu tiên nhất, là bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ, như một thành lũy bất khả xâm phạm. Một pháo đài giữa biển.
Ở vòng hai là góp phần - hay tự thân - bảo vệ sự ổn định của toàn khu vực Nam Thái bình dương, từ đảo quốc Fiji tới Đông Timor đến cả Nam Dương quần đảo.


Khi Trung Quốc thời Mao muốn bành trướng chủ nghĩa cộng sản xuống Nam Dương thời Sukarno và bị vụ phản đảo chánh năm 1965 khiến nửa triệu người thiệt mạng, Canberra ngồi trên tuyến đầu như ngồi trên lửa. Khi chế độ Suharto bị đổ vì vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998, Úc cũng trực tiếp tham gia vào việc ổn định Đông Timor. Đấy là vùng trái độn sinh tử cho an ninh của Úc.
Ở vòng thứ ba bên ngoài, Úc muốn góp phần phát triển khu vực Đông Nam Á, gia tăng hợp tác với Hiệp hội 10 quốc gia Đông Nam Á và ổn định luồng giao lưu hàng hải ngoài Đông hải của Việt Nam, là cửa ngỏ thông thương với Âu Châu và Đông Bắc Á. Hơn hai chục năm trước, khi Hà Nội cho Liên bang Xô viết vào tới Cam Ranh Đà Nẵng, oanh tác cơ chiến lược của Liên Xô đã có thể uy hiếp miền Bắc Úc Đại Lợi, và đấy là chuyện đáng cho Úc quan tâm.
Ngoài cùng, ở vòng "toàn cầu" của thiên hạ sự, Úc cũng muốn đóng góp vai trò cứu trợ, viện trợ hay ổn định của mình, từ A Phú Hãn tới Pakistan hay cả Trung Đông. Cứ theo từng vòng đồng quy ấy, ta có thể hiểu ra từng cấp ưu tiên trong hệ thống phòng thủ quân sự của Úc: ngần ấy vòng đều phải xoay tròn từ pháo đài Úc qua Thái bình dương ra tới bên ngoài.
Nhưng bây giờ, ở vòng ngoài, Liên Xô mới chỉ mon men trở lại Đông Bắc Á (xin xem bài "VẤN ĐỀ TRUNG QUỐC CỦA NGA" trên cột báo này trong số ra tuần trước), còn Đông Nam Á lại trở thành "ao nhà" của Trung Quốc, thì tất nhiên Canberra không yên tâm.
Mà càng không yên tâm khi Hoa Kỳ vẫn cứ như muốn nhìn qua nơi khác...
Vì vậy, một phần chính trong tập Bạch thư mới có nội dung nhắc nhở và cảnh báo Washington về vai trò của Hoa Kỳ, như một siêu cường có khả năng và trách nhiệm ổn định khu vực Thái - Á cho cả thế giới. Nhưng, Úc sẽ không thiết kế chiến lược quốc phòng của mình trong những năm tới trên một lời cảnh báo hay một sự trông đợi vào Hoa Kỳ. Canberra muốn tích cực giải quyết lấy bài toán của mình thay vì chỉ mong chờ "kỵ binh Mỹ" - hay Đệ thất Hạm đội.
Chúng ta không quên rằng Hoa Kỳ và Úc cùng Tân Tây Lan vẫn còn thoả ước phòng thủ ANZUS, theo đó một xứ bị tấn công là hai nước kia đều có nhiệm vụ liên đới. Dù Tân Tây Lan ngả theo chủ trương "phi nguyên tử" và gây khủng hoảng cho thỏa ước, Hoa Kỳ và Úc vẫn tiếp tục duy trì quan hệ phòng thủ chiến lược ấy. Nhưng, Canberra vẫn chuẩn bị tự vệ trước khi trông cậy vào Mỹ.
Lý do được nhìn ra từ Bạch thư Force 2030 này là trong khi Hoa Kỳ lúng túng việc nhà thì Trung Quốc đã bước ra tới ngoài ngõ - của Úc Đại Lợi. Vì vậy, Úc cũng phải ra khỏi pháo đài làm Bắc Kinh thất kinh la hoảng.
Chỉ vì dù có mơ mộng như nhiều lãnh tụ cánh tả, Thủ tướng Kevin Rudd của Úc cũng hiểu thành ngữ Trung Hoa. Cư an mà không tư nguy thì sẽ thành cư nguy tư an!
***
CƯ AN TƯ NGUY
Trên bình diện ngoại giao, lập trường của Canberra là không gây hấn mà còn muốn góp phần chuyển hóa Trung Quốc thành cường quốc có trách nhiệm với thiên hạ sự, với các vấn đề lớn của nhân loại. Và hành xử một cách văn minh. Nhưng, Úc không mấy yên tâm về sự thiếu minh bạch của Bắc Kinh. Bạch thư Force 2030 nói thẳng ra một sự thật là "Trung Quốc đang xây dựng lực lượng võ trang quá thừa cho một vụ xung đột với Đài Loan". Chỉ duy Quân lực Hoa Kỳ, Đô đốc Michael Mullen nói thêm cho rõ: "Trung Quốc thực ra muốn nhắm vào Mỹ".
Bắc Kinh chưa thể và có lẽ không bao giờ có khả năng gây chiến với Hoa Kỳ, nhưng - dù có Mỹ hay không - sức nặng quân sự và nhất là hải quân Trung Quốc là một vấn đề cho Úc Đại Lợi. Thành thử, dù nói chuyện hiếu hoà và còn có thiện chí chuyển hoá Trung Quốc, Canberra vẫn phải thực tế nhìn vào việc phòng vệ của mình.
Nếu chịu khó tìm hiểu Bạch thư Force 2030 vừa công bố, ta có thể thấy ra hai hướng phát triển rất mới của quân lực Úc.
Thứ nhất là tăng cường khả năng không quân để mở rộng tầm hoạt động vượt quá Nam Dương quần đảo, như sẽ thay thế các chiến đấu cư loại F-111 đã lỗi thời và đầu tư thêm vào phi cơ thám báo và các vận tải cơ phụ trách tiếp liệu trên không. Úc bay ra khỏi pháo đài là trong ý nghĩa đó.
Thứ hai, quan trọng nhất, là tăng cường hải quân với mức độ chưa từng thấy. Úc sẽ nhân đôi số tiềm thủy đĩnh của mình và trang bị thêm nhiều chiến hạm lẫn hoả tiễn có thể bắn lên từ ngoài - hoặc dưới - biển (hỏa tiễn thiết trí trên chiến hạm và tầu ngầm).
Canberra không muốn một cường quốc khu vực nào có thể khống chế đại dương - ở ngoài cửa ngõ thông thương của mình - và coi như sẽ phải tự lo lấy thân chứ không còn trông cậy vào Hạm đội Thái bình dương của Mỹ nữa.
Và chính là việc đầu tư rất mạnh vào hải quân mới khiến Bắc Kinh la làng!
***
Tổng kết lại, Chính quyền John Howard của Úc có thể đã phải trả một cái giá rất đắt khi sát cánh với Mỹ về mặt chiến lược và bị mắc nạn vì chuyện Iraq, nên Chính quyền Kevin Rudd đã điều chỉnh tại tầm nhìn của mình. Cứ coi như Hoa Kỳ mắc bận đi, Úc vẫn phải lo lấy vấn đề Trung Quốc của Úc.
Úc Đại Lợi là một hải đảo nằm sâu ở vùng cực Nam của Thái bình dương, có lịch sử và quá khứ xuất phát từ Âu Châu. Nhưng kinh tế và tương lai lại gắn bó với châu Á. Vì tương lai và cả sự tồn vong của mình, Úc phải đảm nhiệm vai trò cường quốc Á Châu. Cùng với Nhật Bản tại Đông Bắc Á, Úc sẽ phải góp phần ổn định Đông Nam Á. Vì mục tiêu khách quan ấy, Canberra không thể ngồi yên nhìn hải đội Trung Quốc khống chế biển Đông nên nói thẳng ra mục tiêu bành trướng sức mạnh quốc phòng của mình.
Không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Úc đã long trọng công bố Bạch thư trên một chiến hạm!
Nhìn về dài, Hoa Kỳ tất nhiên không thể tháo chạy khỏi Thái bình dương nhưng trước khi tầu ngầm Trung Quốc có thể chơi trò du kích với Hạm đội Mỹ thì đã gặp tiềm thủy đĩnh của Úc. Mà về kinh nghiệm hàng hải, Bắc Kinh sẽ còn phải học khá lâu thì mới nói chuyện phải quấy được với "Miệt Dưới".

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.