Hôm nay,  

Kinh Tế Việt Nam

01/04/201000:00:00(Xem: 10787)

Kinh Tế Việt Nam

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...rốt cuộc thì vẫn là trở lại chủ đích bảo vệ quyền lợi cho thiểu số...
Sản lượng kinh tế Việt Nam tăng được gần 6% trong quý một năm nay, coi như gần gấp đôi so với cùng kỳ vào năm ngoái. Nhưng nguy cơ lạm phát vẫn còn đó và là mối quan tâm của nhiều người khi vật giá có thể lại vượt 12% trong vòng ba tháng tới. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nghịch lý đó trong phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa. Sau đây là cuộc phỏng vấn do Việt Long thực hiện.
Việt Long: Kinh kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, hôm Thứ Ba 30, Cục Thống kê của Hà Nội vừa công bố dữ kiện sơ khởi về tình hình kinh tế Việt Nam trong quý một, là ba tháng đầu của năm 2010. Dư luận chú ý nhất đến đà tăng trưởng đã lên tới 5,83%, tức là cao gần gấp đôi đà tăng trưởng chỉ có 3,14% vào quý một của năm ngoái. Đây là một tin đáng mừng trong bối cảnh sản xuất còn èo uột của toàn khu vực Á Châu.
Nhưng tuần qua, người ta cũng không khỏi quan tâm về mức độ lạm phát quá cao của Việt Nam. Như trong tháng Ba, vật giá đã tăng 0,75% và so với năm ngoái thì đã tăng 9,46%. Liệu đà sản xuất mạnh hơn có thể đẩy lui được nguy cơ lạm phát hay không là câu hỏi khiến nhiều người thắc mắc. Ông nhận định ra sao về chuyện này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thống kê thu thập được của quý một có thể khiến chúng ta hơi lạc quan, không vì tốc độ tăng trưởng mà vì nội dung của đà tăng trưởng đó. Nhưng, nguy cơ lạm phát mới là một mối lo chính đáng mà người ta cần quan tâm vì sẽ ảnh hưởng đến đời sống của đa số người dân. Ngoài ra, ta cần thấy là nhiều thất quân bình vĩ mô thì vẫn còn nguyên vẹn.
Việt Long: Chúng ta bắt đầu từ đà tăng trưởng sản xuất và về nội dung của đà tăng trưởng đó.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, trong toàn khu vực Á Châu, tình hình kinh tế thật ra đã khả quan hơn so với năm ngoái nên nhiều quốc gia đã lần lượt nâng lãi suất và ra khỏi kế hoạch kích thích đã ban hành từ cuối năm 2008. Thứ hai, từ đầu năm nay, giới chức Việt Nam đã dự báo đà tăng trưởng khoảng 6% cho quý một. Nay đạt được 5,83% thì dù thấp hơn dự đoán cũng vẫn là điều đáng mừng. Đáng mừng hơn cả là lực đẩy của đà tăng trưởng ấy lại nằm trong thị trường nội địa thay vì nhờ xuất khẩu. Đáng chú ý nhất là yếu tố đóng góp của khu vực xây cất, tăng được hơn 7%, hoặc khách sạn và dịch vụ, tăng được gần 9%.
- Trong điều kiện còn khó khăn chung của các thị trường xuất khẩu lớn trên thế giới như Hoa Kỳ và Âu Châu thì lực đẩy nội địa ấy là đáng mừng, nhất là cho công ăn việc làm của dân chúng. Nói vắn tắt thì từ nhiều năm nay, diễn đàn này của chúng ta đã từng cảnh báo rằng Việt Nam cần chú trọng nhiều hơn đến thị trường nội địa thay vì giàng số phận kinh tế vào việc xuất cảng ra ngoài. Chúng ta càng nên nhìn ra điều ấy vì thế giới sẽ có nhiều thay đổi sau trận tổng suy trầm vửa qua, mà ta sẽ đề cập tới vào cuối chương trình này.
Việt Long: Nghĩa là người ta có thấy vài chỉ dấu thay đổi lạc quan hơn so với năm ngoái. Thế còn những mối lo kia, như lạm phát hay thất quân bình vĩ mô"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Khi bộ máy sản xuất chạy mạnh hơn thì ta lại phải lo ngại hiện tượng nóng máy và nguy cơ lạm phát. Tại Việt Nam, hiện tượng ấy dễ xảy ra vì kế hoạch kích thích kinh tế đặt trọng tâm vào tín dụng qua biện pháp hạ lãi suất để bơm thêm tiền vào kinh tế. Lượng tín dụng gia tăng ồ ạt, tới gần 40% suốt năm ngoái, càng có thể hâm nóng bộ máy sản xuất. Dù Ngân hàng Nhà nước của Việt Nam đã nâng lãi suất từ đầu tháng 12 và bỏ chế độ lãi suất trần cho loại tín dụng trung và dài hạn, tình hình vẫn rất đáng quan tâm và canh chừng. Tôi thiển nghĩ là chỉ tiêu hạn chế đà gia tăng tín dụng ở mức 25% sẽ khó đạt và có khi còn chứng kiến nạn bể bóng đầu tư cổ phiếu.
- Lý do thứ nhất là Việt Nam bị rơi vào vòng luẩn quẩn với chế độ ngoại hối ấn định quá cao và cứng ngắc nên phải liên tục phá giá hai lần nội trong hai tháng 11 và tháng Giêng. Càng phá giá là càng khiến tiền rẻ hơn và hàng họ đắt hơn, tức là càng dễ gây lạm phát. Thứ hai, trong cơ cấu giá cả thì giá lương thực và nhất là nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu cũng tăng với tỷ lệ quá cao, đã vượt 10% trong tháng Ba so với tháng Ba năm ngoài, nên càng dễ đưa tới lạm phát về phí tổn. Thứ ba, lãnh đạo Việt Nam đang muốn gây tâm lý hồ hởi phấn khởi để chuẩn bị Đại hội đảng cho nên vừa tăng lương cho đảng viên cán bộ vừa tạo ra ấn tượng tiền rẻ cho dân chúng vui vẻ mua xắm. Yếu tố ấy dễ thổi bùng lạm phát.
- Kết cuộc thì lãnh đạo kinh tế có thể quan ngại đến tình hình vật giá, nhưng lãnh đạo chính trị ở trên lại muốn toàn quốc có không khí lạc quan của ngày hội lớn mà không chú ý đến cái giá mà người dân sẽ phải trả sau này. Vì thế, từ nay đến cuối năm thì lạm phát càng dễ tăng. Nói chung, cả khu vực Á Châu đều quan tâm đến nguy cơ lạm phát và chuẩn bị đạp thắng để kinh tế khỏi nóng máy, nhưng Việt Nam dễ bị nặng nhất vì những vấn đề riêng của mình.
Việt Long: Chúng ta bước qua vấn đề vĩ mô. Ông nói đến thất quân bình trong cơ cấu vĩ mô, những thất quân bình ấy là gì"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Vì theo đuổi chiến lược đi làm gia công để xuất khẩu, Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào nguyên nhiên vật liệu nhập từ bên ngoài mà giá cả các nhập lượng này đang trên đà gia tăng, thí dụ như bông vải cho ngành dệt sợi, hoặc linh kiện điện toán cho công nghiệp chế biến để tái xuất khẩu. Vì vậy, Việt Nam dễ nhập khẩu đà gia tăng của vật giá của xứ khác. Đây là ta chưa nói đến xăng dầu, thép hay phân bón cho thị trường nội địa. Trong khi ấy, xuất khẩu vẫn chưa khởi sắc và nhập khẩu vẫn tăng mạnh nên xứ này bị nhập siêu nặng. Trong tháng Ba vừa qua thì bị thiếu hụt thương mại mất một tỷ 330 triệu đô la, điều ấy càng gây sức ép cho chế độ ngoại hối vì bào mỏng số dự trữ ngoại tệ của Việt Nam.


- Trong hoàn cảnh Việt Nam cần tới đầu tư từ nước ngoài để có ngoại tệ và đẩy mạnh sản xuất sau này thì nguồn đầu tư ấy cũng lại tạo ra sức hút rất mạnh về nhập khẩu để tái xuất khẩu và gây thêm khiếm hụt ngoại thương. Yêu cầu giảm thiểu số thiếu hụt ấy khiến Việt Nam muốn duy trì tỷ giá thấp của đồng bạc thì càng khó vét đô la trên thị trường. Và trị giá bấp bênh của đồng bạc càng khiến các thị trường tài chính thế giới mất niềm tin và hậu quả là công khố phiếu Việt Nam mất giá trị, sẽ chỉ có thể huy động bằng phân lời cao hơn là mâu thuẫn chúng ta đã đề cập tới trong chương trình ngày 17, khi công ty Fitch hạ thấp cấp độ của trái phiếu Việt Nam.
Việt Long: Đó là một lẽ về những mâu thuẫn trong chế độ quản lý vĩ mô. Ông còn thấy có vấn đề gì khác đáng quan tâm không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang ở trong một giai đoạn chuyển tiếp hay quá độ từ nạn suy trầm qua chu kỳ hồi phục, cho nên Việt Nam có thể bị lúng túng trong chính sách vĩ mô và bị kẹt giữa hai nguy cơ là ngoại hối và lạm phát. Trong điều kiện ấy, yêu cầu chính trị của lãnh đạo cho Đại hội đảng sẽ gây sức ép cho giới lãnh đạo kinh tế trong bộ máy nhà nước. Ban hành biện pháp kiểm soát vật giá và tăng lương công chức là những đòi hỏi dễ gây thêm bội chi ngân sách và càng thu hẹp khả năng xoay trở của chính phủ.
- Thứ hai nữa, cũng vì yêu cầu chính trị, lãnh đạo của Việt Nam duy trì chính sách nâng đỡ khu vực quốc doanh kém hiệu năng và đầy tốn kém. Doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tổng công ty, là những thế lực kinh tế trong xã hội và thế lực chính trị bên trong đảng. Chúng có sức đóng góp rất thấp về kinh tế và xã hội nhưng lại làm lệch lạc chính sách kinh tế vĩ mô của toàn dân. Chúng gieo họa cho thị trường vì nạn bong bóng đầu cơ và cho xã hội vì nạn bất công và tham nhũng. Việt Nam chưa thể thoát khỏi tàn dư của một cơ chế lỗi thời và khu vực nhà nước mà còn giữ vai trò chủ đạo thì thất quân bình vĩ mô sẽ còn kéo dài. Đó là hiện tượng "quít làm cam chịu" vì đa số sẽ chịu nhiều thiệt hại để bảo vệ quyền lợi cho một thiểu số. Việc tổ chức Đại hội đảng và việc phân bố quyền lợi ở bên trong sẽ chỉ đẩy mạnh thêm hiện tượng đáng tiếc ấy.
Việt Long: Ông nhắc tới Đại hội đảng vào năm tới và ảnh hưởng của khóa họp này tới sinh hoạt kinh tế của toàn dân qua chính sách kinh tế của nhà nước, thì trong diễn văn tổng kết hội nghị trung ương đảng mới đây Tổng bí thư Nông Đức Mạnh nhắc đi nhắc lại chính sách kinh tế của Việt Nam là "kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa'. Ông Mạnh có nói thoáng qua về nhân sự là sẽ sử dụng những nhân sự có tư duy đổi mới, nhưng ngay sau đó lại nhấn mạnh về nền kinh tế định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa cho Việt Nam. Ông có ý kiến thế nào, và ông cho rằng trong một giả thuyết lý tưởng thì lãnh đạo chính trị của Việt Nam nên lấy những quyết định kinh tế như thế nào cho quyền lợi của đại đa số dân chúng"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lý tưởng thì tất nhiên là chuyện xa vời và càng khó thấy cho đảng Cộng sản Việt Nam vì thật ra người ta ưu tiên nghĩ tới vị trí trong một đảng độc quyền hơn là nghĩ tới quyền lợi của người dân. Dù sao thì ta vẫn có thể nghĩ đến những gì người dân mong ước một cách chính đáng.
- Thứ nhất, sau hai chục năm đổi mới vì sự phá sản hiển nhiên của chế độ bao cấp, Việt Nam nên nghĩ lại về vai trò của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. Đấy là một khu vực xương sống quằn quẹo đang kềm hãm sức bật của người dân và gây ra nạn bè phái, tham nhũng và nhất là làm lệch lạc các quyết định kinh tế của bộ máy nhà nước, vốn dĩ cũng chỉ là một biểu hiện của quyền lực đảng. Có khi đang trở thành công cụ của các tổng công ty. Một thống đốc ngân hàng nhà nước hoặc ủy viên thường vụ trong Quốc hội chưa chắc đã có quyền thế bằng một đại gia trong các tổng công ty này.
- Thứ hai, nếu vượt qua được những tính toán về nhân sự là ai đi ai ở và sẽ ngồi ở đâu, người ta cần nghĩ tới những thay đổi trong tư duy về chiến lược và chính sách. Về chiến lược thì nên nghĩ đến yêu cầu quân bình giữa thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu, tức là phải nâng đỡ tư doanh trong thị trường nội địa và khai thông ách tắc để phát triển các vùng nghèo đói bên trong, nhất là ưu tiên chăm lo cho nông gia và giới bần cùng trong xã hội thay vì chú ý tới quyền lợi của các đại gia ở thành phố. Về chính sách thì nên thảo luận về những biện pháp nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ ở bên trong thay vì tiếp tục khuyến khích cả nước đi làm gia công để xuất khẩu và giàng số phận vào những thăng trầm quốc tế hay sự trưng thu của các cơ sở tiếp cận với thị trường xuất khẩu.
- Nói chung, sau vụ tổng suy trầm vừa qua, cả thế giới đang chuyển qua một chu kỳ điều chỉnh. Các quốc gia xưa nay vẫn nhập khẩu mạnh, trước tiên là Hoa Kỳ, nay đều muốn đẩy mạnh xuất cảng và hạn chế nhập cảng nên mâu thuẫn về mậu dịch rất dễ xảy ra. Vì thế, chiều hướng nhập siêu của Việt Nam sẽ chỉ có tăng chứ không giảm vì sẽ khó xuất khẩu hơn và bị ép phải nhập khẩu nhiều hơn. Trong khung cảnh ấy, lãnh đạo Việt Nam nên nhân cơ hội đẩy mạnh việc cải tổ theo hướng ngược lại những gì tưởng là sáng suốt trong suốt thập niên vừa qua. Nếu không, vấn đề sẽ không chỉ là nạn lạm phát.
- Nói về những gì tưởng là sáng suốt là nhắc đến khái niệm "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" như ông vừa hỏi. Tôi cho rằng lãnh đạo Việt Nam đã lúng túng rất lâu, từ năm 1987 đến 1997, trước khi có thể tạm định nghĩa thế nào là "định hướng xã hội chủ nghĩa" mà rốt cuộc thì vẫn là trở lại chủ đích bảo vệ quyền lợi cho thiểu số. Bản thân tôi thì nếu muốn nói đến "định hướng xã hội chủ nghĩa", người ta phải ưu tiên chăm lo cho đời sống của đại đa số dân chúng vốn dĩ còn nghèo, thay vì tập trung bảo vệ quyền lợi của một thiểu số có chức trong hệ thống chính trị và có quyền trong đời sống kinh tế.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.