Hôm nay,  

Chúa Sinh Ra Đời

02/12/201000:00:00(Xem: 8955)

Chúa Sinh Ra Đời

Mây-cao-Nguyên
Cây thông 20 tuổi được trồng tại một nông trại ở bang Pennylvania, thuộc loại Douglas, cao 5.6m, được chở trên một chiếc xe ngựa đến tòa Bạch Ốc (vào ngày thứ Sáu 26/11/2010)trong khi một ban nhạc tấu các bản nhạc mừng lễ Giáng Sinh. Bà Obama và hai cô con gái, với nụ cười rạng rỡ trên môi, đưa ngón tay trỏ lên cao một cách thông thường để bày tỏ chấp nhận cây thông và chúc hai vợ chồng người nông dân trồng cây thông này một mùa lễ hội vui vẻ. Còn ông Obama đứng lấp ló sau cánh cửa sổ nhìn ra. Đáng ly’ ông Obama là người đứng ra nhận lãnh cây thông, nhưng, trong một cuộc chơi bóng rỗ, ông đã bị ông Rey Decerega (giám đốc nghiên cứu của người Mỹ Châu La Tinh) vô tình tông cùi chỏ vào trúng ngay môi và bị khâu 12 mũi.
Bạn biết không" Kể từ khi đặt chân lên đất tạm dung này, tôi không phải là một tín đồ, nhưng mỗi năm đến ngày lễ Giáng Sinh tôi đều treo đèn và dựng cây Giáng Sinh bằng ny-lông để đón mừng Ngài ra đời. Năm nay, tôi dựng một cây Giáng Sinh thật, cao 5 feet, xanh tốt được trồng trong chậu. Phải tốn gần nửa ngày trời mới hoàn tất vấn đề trang trí. Tôi đứng nhìn ngắm cái công trình “vĩ đại” của mình một cách thích thú: nào là những thiên thần, những con nai, những ông già Noel, những cây kẹo móc câu, những dây điện với những bóng đèn đủ màu sắc tắt, mở tự động, những lồng đèn tròn nhỏ xinh xinh, một ngôi sao lớn trên đỉnh cây thông, những bông tuyết được xịt kỹ lưỡng, những gói quà, những thiệp chúc được xếp ngay ngắn chung quanh cây Giáng Sinh..
Và còn một điều nữa, sau mùa Giáng Sinh không cần phải chở cây đi bỏ. Chỉ cần bê nó ra ngoài sân tìm một góc vườn nào đó trồng nó xuống để làm cảnh. “Nhứt cử lưỡng tiện” phải không bạn" Mà lại diệt được chất cạc-bô-níc (CO2) để chỉ còn lại chất O-xy để cho hơi thở của con người được thoải mái. Đây cũng là điều mà các nhà bảo vệ môi sinh yêu cầu chúng ta nên trồng nhiều cây cối ngay cả trong vườn nhà của chúng ta.
Sau khi dọn dẹp sạch sẽ đâu vào đó, tôi cắm điện để thử tài nghệ của mình. Thật tuyệt vời! Nhứt là ngôi sao trên đỉnh cây thông đã cho tôi một cảm giác lâng lâng.
Bạn để y’ xem, trong tất cả tranh ảnh Chúa Giáng Sinh, trên bầu trời bao giờ cũng có một ngôi sao sáng rực rỡ, Kinh Thánh gọi đó là “Ngôi Sao Bethlehem”, ngôi sao đã dẫn đường cho Ba Vua tới hang đá nơi Chúa Sinh Ra Đời. Ngôi sao này còn có tên là ngôi sao Giáng Sinh, từ lâu đã là mối tranh cãi của các nhà thiên-văn-học. Mới đây Nibel Henbest, một nhà khoa học người Anh đã dựa vào sự chuyển động của quỹ đạo trong Thái-dương-hệ, để giải tỏa câu hỏi tại sao chỉ có Ba Vua nhìn thấy ngôi sao đó, trong khi lịch sử thiên văn không ghi nhận được.
Theo Nibel, thì vào năm 1604, nhà toán học Johannes Kepler đã tính được vị trí các hành tinh vào thời Chúa Giáng Sinh, cũng tìm được sự giao hội đặc biệt của các chòm sao trong nhóm Song Ngư vào năm thứ 7 trước công nguyên. Có nghĩa là, sao Mộc và sao Hỏa, biểu tượng của người Do Thái gặp nhau trên bầu trời nhưng vẫn cách nhau một khoảng gần bằng đường kính của mặt trăng. Vài năm sau đó một sự hội ngộ khác lại diễn ra vào tháng Tám năm O3 trước công nguyên, Mộc tinh tiến gần sao Vệ Nữ-một ngôi sao rất sáng.
Ngày 17/06 năm O2 trước công nguyên, hai sao trên lại gặp nhau nhưng không va chạm, nhưng tạo thành một ngôi sao lạ, sáng chói khắp miền Trung Đông mà Kinh Thánh đã gọi là ngôi sao Bethlehem. Ngoài ra, với người theo đạo Ky-tô xưa thì ngôi sao Vệ Nữ, tức là sao Hôm mọc trước bình minh, được coi là biểu tượng của Chúa Giê-su, còn sao Hải Sư lại được người Do Thái coi là sao hộ mạng. Đây là hai ngôi sao sáng nhất trong Thái-dương-hệ và hiện tượng hội ngộ giao thoa, chỉ xảy ra một lần trong hai ba thế kỷ, như giải thích ở trên, được xem là giả thuyết hợp ly’ về ngôi sao Bethlehem trong truyền thuyết.
Ngoài y’ nghĩa khoa học kể trên, ngôi sao Nô-Ên còn có một y’ nghĩa tâm linh vô cùng quan trọng đối với những người công giáo. Đó là ngôi sao dẫn lối chỉ đường cho họ đến với Đức Chúa. Người theo đạo Ky-tô tin rằng ngôi sao đó cũng chính là Chúa Giê-su và ánh sáng ngôi sao của Chúa sẽ xóa tan bóng tối đêm đông lạnh giá, thắp lên một mùa xuân mới ấm áp và hạnh phúc cho muôn dân.
Cách đây khá lâu, vợ chồng tôi lái xe qua Cali để dự một tiệc cưới cũng vào mùa Giáng Sinh. Rất may thời tiết lúc đó chỉ lạnh mà không có tuyết (thật hú hồn). Khi đến gần tỉnh lỵ Sanger, California, tôi thấy một cây thông khổng lồ cao 267 feet (1 foot=0m3048), chu vi 107 feet, già cỡ 4000 năm tuổi, đứng sừng sững tại King Canyon National Park. Cái cây này nếu được trang trí đèn Giáng Sinh đủ màu thì “tuyệt cú mèo”, nhưng không thể nào thực hiện được, vì các nhánh cây thấp nhứt tỏa rộng 130 feet kể từ mặt đất-nhưng mỗi năm đến mùa Giáng Sinh, các công nhân chăm sóc công viên vẫn đặt những vòng hoa Giáng Sinh chung quanh cây cổ thụ. Kể từ năm 1867, cây cổ thụ này có tên gọi “Tướng Grant” (Một vị danh tướng trong cuộc nội chiến giữa Bắc, Nam của Hoa Kỳ).
Cây Giáng Sinh đối với các vị Tổng Thống của Hoa Kỳ: Andrew Jackson rất yêu thích Giáng Sinh và coi đây là một ngày lễ hội lớn. Năm 1835, vị đầu bếp người Pháp làm cho ông một cây thông bằng đường cát trắng với những con vật trang trí bằng nước đá, theo kiểu của người Pháp. Vào năm 1856, Franklin Pierce, người sinh quán tại New Hampshire, dựng cây Nô-Ên tại tòa Bạch Ốc. Vào năm 1895, Grover Cleveland là một vị tổng thống đầu tiên dùng đèn điện để trang trí cho cây Giáng Sinh tại tòa Bạch Ốc. Năm 1923, Calvin Coolidge bắt đầu truyền thống thắp sáng cây Nô-Ên tại khuôn viên tòa Bạch Ốc. Teddy Roosevelt là một vị tổng thống cổ hủ, vào năm 1902, ông cấm con cái của ông không được sử dụng cây Giáng Sinh. Nhưng thái độ của ông dịu lại khi một nhân viên trong Hội Đồng Nội Các cũng là người sáng lập đại học Yale, phân khoa lâm sản, ông Gifford Pinchot thuyết phục. Pinchot đoan chắc với Tổng Thống rằng làm thưa bớt đi những khu rừng rậm bằng cách đốn bớt đi những cây Giáng Sinh thật sự làm cho những cây khác được phát triển và sinh tồn; được thuyết phục, Roosevelt cuối cùng chịu cho các con dựng cây Giáng Sinh vào ngày vui trọng đại này.
Cây Giáng Sinh đầu tiên được dựng lên như thế nào". Nếu hỏi câu này thì có rất nhiều người tranh công đưa tay lên để tự cho mình là người đầu tiên dựng nên cây Giáng Sinh. Giữa năm 1832 và năm 1851, và có lẽ trước đó nữa, rất nhiều cây Giáng Sinh “đầu tiên” bắt đầu xuất hiện khắp nơi trên lãnh thổ Hoa Kỳ- từ Philadelphia, Pennsylvania, cho đến Pasadena, California-mỗi một tiểu bang đều muốn vỗ ngực cho rằng mình là người tiên phong.
Một loại cây như vậy được trang hoàng vào năm 1832 do một người tỵ nạn chính trị gốc Đức, ông Charles Follen của thành phố Boston, dành cho con trai của ông. Trong cuốn hồi ky’ của vợ ông vào năm 1842, bà đã viết: “Mỗi một mùa Giáng Sinh khi Charles được hai tuổi, thân phụ của ông đều làm một cây Giáng Sinh cho ông, dựa theo thời trang của nước Đức. Đây chính là ngày hạnh phúc nhất trong năm đối với ông. Thân phụ của ông đã không quản ngại khổ nhọc, thì giờ, tiền bạc để làm một cây Giáng Sinh tuyệt vời cho ông”.
Và mọi người trong gia đình cũng có công đóng góp công sức. Rồi sau đó, ông dùng những miếng băng keo bằng sáp để cột mỗi cành cây lại một cách cẩn thận để khi đốt sáng cây Nô-Ên không gây ra hỏa hoạn. Tất cả những đứa con nít thuộc những gia đình quen biết được mời đến để chiêm ngưỡng cây Giáng Sinh; sau tuần trà, họ rung chuông, cánh cửa nơi đặt cây Giáng Sinh mở ra, bọn trẻ đi vào….”Chính trong đôi mắt của đám trẻ thơ là cái điều mà tôi ưa thích nhất để nhìn cây Giáng Sinh” ông phát biểu. Sau khi những ngọn đèn trên cây Giáng Sinh lụn tắt, và những giỏ kẹo mận được gắn trên cây bắt đầu đem xuống để phân phát, đám trẻ nít nhảy nhót, vui đùa hoặc chơi những trò chơi suốt đêm.
Các sử gia đều đồng y’ rằng người Mỹ tiên phong trong vấn đề dựng nên cây Giáng Sinh do đám lính Hessian đóng tại các thuộc địa của Hoa Kỳ trong cuộc Chiến Tranh Cách Mạng. Nhưng với sự phong phú về lâm sản, cây Giáng Sinh về lối trang trí có tính cách thời thượng, rực rỡ phải do bàn tay khéo léo của các người tỵ nạn chính trị gốc Đức, như ông Charles F.E Minnegrode, đem lại tập tục cổ truyền về cây Giáng Sinh cho tỉnh Williamsburg, thuộc tiểu bang Virginia. Vào năm 1842, Minnegrode, một vị giáo sư dạy môn ngoại ngữ tiếng Hy-lạp và tiếng La-tinh tại trường Cao Đẳng William và Mary, đốn một cây thông trong một khu rừng gần nhà ông quan tòa Nathaniel B. Tucker. Ông và các con của Tucker trang trí cây thông bằng cách dùng dây nhợ treo những gói bắp ran và những gói hạt dẽ mạ vàng. Họ cột những cây nến vào các nhánh cây, các người hàng xóm và con nít xúm nhau lại xem. Vị quan tòa Tucker tiếp tục truyền thống này cho đến khi ông qua đời. Ngày nay, khi tỉnhWilliamsburg dựng lại cây Giáng Sinh truyền thống, họ đặt cây này gần nhà ông cố quan tòa Tucker, và cũng nên hiểu rằng đây cũng là một tập tục thắp sáng “cây Giáng Sinh cộng đồng” tại những tỉnh lỵ và thành phố lớn khắp nơi trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.
Một người thợ may thuộc diện di dân ở Wooster, Ohio, cũng được kể như người tiên phong mang cây Giáng Sinh lại cho thành phố này. Năm 1847, ông August Imgard, quyết định chứng tỏ cho các đứa cháu cả trai lẫn gái của ông Giáng Sinh đã được tổ chức ăn mừng như thế nào tại quê hương của ông. Câu chuyện của ông bắt đầu: “Tôi lặn lội đến dòng duối Apple, quẹo sang hướng Bắc bây giờ là đập Spruce. Khi tôi đến vùng cây mà tôi muốn tìm, ở đây mặt nước cao quá, tôi không thể nào băng qua được. Vì vậy tôi đi dọc theo đập nước cho đến khi tôi tìm được một cái cây ngã vắt ngang từ bờ bên này sang bờ nước bên kia và tôi dựa vào cây đó để băng qua suối. Tôi đốn một cây và trở lại chỗ gốc cây ngã. Nhưng muốn băng qua suối trên gốc cây ngã này, tôi phải cột cái cây vừa đốn vào cổ và bò cả tay lẫn chưn để được qua bên kia bờ. Dân chúng nhìn tôi một cách tò mò, tưởng tôi là một thằng điên khi tôi mang cả một cây thông lớn đi vào thành phố”.
Vào giữa thế kỷ thứ 19, cây Giáng Sinh được coi như biểu tượng cho ngày lễ trọng đại này được dựng nên khắp nơi xuống sâu tận miền Nam. Trong đám cây Giáng Sinh này có một cây được trang hoàng lộng lẫy đặc biệt dành cho nữ ca sĩ người Thụy Sĩ, cô Jenney Lind, do các mệnh phụ tại tỉnh Charleston, tiểu bang South Carolina. Cô ca sĩ Lind có một sô diễn tại thành phố này. Khi cô đến, hàng trăm các người ham mộ chạy chen lấn nhau trên đường để nhìn dung nhan người danh ca nổi tiếng này khi cô từ phi trường thẳng đến khách sạn Charleston nơi đây các vị mệnh phụ đã chuẩn bị cây Giáng Sinh đặt ngay cửa sở khách sạn.
Jenny Lind được biết là một người dù đi bất cứ nơi nào cũng đều gìn giữ, gắn bó với phong tục, tập quán của quê hương Thụy Sĩ của mình, đặc biệt, cô rất thích ngày lễ Giáng Sinh, vì vậy cô sẽ lấy làm cảm kích về cách đối xử của các mệnh phụ phu nhân đã mang lại cho cô.
Nhật ky’ của bà James Roach, cháu của Jefferson Davis, cho biết cây Giáng Sinh đầu tiên ở tại tiểu bang Mississippi vào năm 1851. Bà viết: “Những đứa con trong gia đình đã nhận rất nhiều quà vì vậy tôi phải làm một cây Giáng Sinh cho chúng: Mẹ, dì và những người lớn đến xem và họ cho biết lần đầu tiên trong đời mới thấy loại cây này. Tôi cũng chưa bao giờ nhìn thấy một cây Giáng Sinh nào hết ngoại trừ đọc và biết được trong một vài câu chuyện kể của người Đức”.
Khởi đầu trong cuốn nhật ky’ Giáng Sinh của bà thì vào năm sau đó cây Giáng Sinh này được cải tiến và coi như tiêu biểu cho khởi đầu ngày lễ truyền thống dành cho một gia đình tại tỉnh lỵ Vicksburg, tiểu bang Mississippi.


Nói cho đúng ra, đó không phải tiêu biểu cho câu chuyện Giáng Sinh đầu tiên, cũng có một sử liệu khác cho rằng sự xuất hiện đầu tiên về cây Giáng Sinh là câu chuyện của bác sĩ Constantin Hering của Philadelphia. Vào năm 1852, bác sĩ Hering, gốc từ Leipzig, bên này sông Delaware băng qua đến New Jersey, chính nơi đây ông và một người bạn, Friedrich Knorr, đốn một cây. Họ kéo nó trên đường phố để về nhà trong những con mắt thích thú, những khuôn mặt rạng rỡ, vui mừng của đám trẻ con, lẫn người lớn đang đứng chờ để xem cây Giáng Sinh. Bác sĩ Hering đã không phụ lòng của họ, cây Giáng Sinh đã được dựng lên trước hàng trăm con mắt của tất cả các bệnh nhân, bạn bè và dân chúng đến chiêm ngưỡng. Và ông tiếp tục cái truyền thống đó ít nhất trong vòng năm chục năm.
Và cũng vào năm 1851-cùng thời gian này tại Cleveland, Ohio- Mục sư Henry Schwan, dự định trang trí cây Giáng Sinh trong nhà giảng của ông. Hành động này đã tạo ra một sự tai tiếng làm cho ông suy’t mất chức Mục Sư vì Hội Đồng Truyền Giáo đã cho rằng những đồ dùng để trang trí là những loại tà ma ngoại đạo và phản thiên nhiên. Những sự tố cáo cực đoan đó đã làm cho cuộc đời của vị mục sư thật khốn khổ. Không nãn lòng, ông đã thu thập tất cả những dữ kiện và bằng chứng hiển nhiên để chứng minh việc làm của ông là vô tội. Một sự hỗ trợ mạnh mẽ đó là lá thư của Đức Giáo Hoàng Gregory I gửi cho Đức Cha Augustine của Canterbury vào năm 597, khuyến khích chấp nhận những trang sức để trang hoàng cho cây thông, cùng với những nghi thức khác, trong những cuộc Thánh lễ như một phương tiện để biến cải những người Anh quốc theo Công giáo. Mục Sư Schwan đã dùng hết khả năng hùng biện và ly’ giải cho Hội Đồng và ông đã thắng, năm sau đó ông và Ban Trị Sự Hội Thánh trang hoàng cây Giáng Sinh một cách xinh đẹp, rực rỡ mà không bị trở ngại gì cả.
Khu buôn bán cây Giáng Sinh được lập ra vào năm 1851 tại thành phố New York (Nửu Ước) do ông Mark Carr, một tiều phu từ vùng núi Catskill. Lúc đầu bà vợ cười “chọc quê” về cái y’ tưởng ngộ nghĩnh của ông, chẳng để y’ gì đến mụ vợ, ông chất một đống cây thông trên chiếc xe do hai con bò kéo vào thành phố, ông mướn một chỗ trên hè đường với giá một đô la. Những khách hàng thức thời không phí phạm thời gian đã mua hết. Năm sau ông trở lại, mang theo nhiều cây hơn, lần này ông phải trả 100 đô la để mướn một khu trên lề đường. Không một chút suy nghĩ, lo lắng, ông Carr đã kiếm lời khấm khá. Công việc buôn bán cây Giáng Sinh bắt đầu từ đây, và vào thập niên 1890, nhóm tiều phu tại dãy núi Catskill đã cung cấp hai trăm ngàn cây Giáng Sinh mỗi mùa Đại Lễ này.
Tôi xin kể cho bạn nghe tinh thần của ông già Nô-Ên (Noel) trong ngày Chúa Giáng Sinh. Ông ta có thật chứ không phải là huyền thoại. Cách đây hơn 1500 năm, ông già Nô-Ên suy ra chỉ là một huyền thoại và, trong nhiều quốc gia trên thế giới cũng tin như vậy. Nhưng khi ông cùng với những nhà thám hiểm Hòa Lan di cư đến Hoa Kỳ, giống như tất cả người di dân nào khác, tên của ông lúc bấy giờ là Sinterklaas, hẳn nhiên làm cho các viên chức trong Cục Di Dân rất khó phát âm và họ đã bảo với ông kể từ đây về sau tên mới của ông sẽ là Santa Claus. Chẳng bao lâu sau đó, ông tự hòa mình vào Tân Thế Giới, biến thể từ một nhân vật huyền thoại có tính cách tôn giáo để trở thành một vị anh hùng vĩ đại của Hoa Kỳ với những câu chuyện được thêu dệt thích thú, ngập tràn phiêu lưu và những hành động, nghĩa cử tuyệt vời. Tôi xin kể hầu bạn một vài câu chuyện sau đây nói lên được tinh thần của ông già Noel, không phải gói ghém trong bộ áo quần màu đỏ:
*Tôi chỉ là một đứa bé đang học lớp Tư, đang ngồi thừ người trên chiếc ghế của chiếc xe tải do ba tôi lái xuống phố để đi mua sắm và tôi đã xin ông quá giang. Thật sự tôi có một điều khúc mắc đã mấy tuần qua tôi muốn hỏi ông mà nay tôi mới có dịp.
“Ba ơi!...” Tôi bắt đầu. Và lại ngừng hỏi.
“Gì vậy"” Ông nói.
“Mấy đứa bạn ở trường đã nói với con một vài điều và con biết nó không đúng sự thật”. Tôi cảm thấy đôi môi của tôi hơi run run vì muốn cố gắng để cầm nước mắt.
“Cô gái nhà quê, con của ba, cái gì vậy"” Tôi biết tinh thần của ông vui vẻ khi ông phát ngôn như vậy.
“Tụi nó nói ông già Nô-ên không có thật. Chúng còn nói ngu xuẩn mới đi tin ông già Nô-ên…chỉ có bọn trẻ con tin mà thôi”. Mắt tôi rưng rưng ngấn lệ.
“Nhưng con tin những điều ba kể cho con. Ông già Nô-Ên có thật phải không ba"”.
Đúng lúc chúng tôi đến đại lộ Newell, lúc này con lộ có hai đường xe chạy dọc theo hai bên đường là những hàng cây sồi. Nghe tôi hỏi, ba tôi liếc mắt nhìn ngay mặt tôi và thế tôi ngồi. Ba tôi dừng xe lại một bên đường và tắt máy, ông nhích lại sát bên tôi:
“Đám bạn học của con sai, Kim Kubey. Ông già Nô-Ên có thật”.
“Con biết mà”. Tôi thở dài nhẹ nhõm.
“Nhưng còn một vài điều ba muốn kể cho con về ông già Nô-ên. Ba nghĩ con bây giờ đã lớn khôn để hiểu ba sẽ chia sẻ với con những gì. Con sẵn sàng chứ"”. Ba tôi với ánh mắt trìu mến và khuôn mặt dịu dàng. Tôi biết một vài điều nghiêm trọng và tôi sẵn sàng để đón nhận bởi vì tôi hoàn toàn tin tưởng ở ba tôi. Ông không bao giờ nói dối với tôi.
“Ngày xưa có một người đàn ông thật sự ông đi du hành khắp thế giới và phân phát quà cáp cho những đứa trẻ ngoan ngoãn bất cứ nơi đâu ông đặt chân qua. Con có thể tìm thấy ông ở bất cứ lãnh thổ nào với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng trong lòng ông ta mọi ngôn ngữ gọi ông ta đều giống nhau. Tại Hoa Kỳ chúng ta gọi ông là Santa Claus. Ông tượng trưng cho tinh thần của một thứ tình thương vô-điều-kiện và niềm lạc thú để chia sẻ tình thương đó bằng cách ban phát những món quà phát xuất từ tận đáy tâm hồn của ông. Khi con lớn khôn đến một tuổi nào đó, con sẽ có một sự nhận thức sắc bén ông già Nô-Ên thật sự không phải là một người chui xuống từ những ống khói vào đêm Giáng Sinh. Đời sống thật sự và tinh thần của vị Thánh nhân kỳ diệu này sống mãi trong tim của con, của ba, của má và trong tinh thần của tất cả mọi người tin tưởng vào niềm vui nhờ sự giúp đỡ cho những người nghèo khổ khác mang lại cho họ. Tinh thần thật sự của ông già Nô-Ên khi con ban phát hơn là đón nhận. Một khi con hiểu được điều này và nó trở nên một phần đời của con, ngày Giáng Sinh sẽ trở nên thích thú hơn và thần diệu hơn bởi vì con đã trở nên y’ thức sự thần diệu ở con khi ông già Nô-ên sống trong lòng con. Con có hiểu ba đang cố gắng giải thích cho con hay không"”.
Tôi nhìn đăm đăm một cây lớn qua khung cửa kính xe ngay trước mặt. Tôi sợ không dám nhìn thẳng ba tôi-người đang kể cho tôi nghe trong suốt cuộc đời của tôi rằng ông già Nô-ên là một người có thật. Tôi muốn tin tưởng như tôi đã tin hồi năm ngoái-rằng ông già Nô-ên là một vị thần mập ù trong bộ quần áo màu đỏ. Tôi không muốn nuốt viên thuốc trưởng thành và thấy bất cứ gì khác.
“Kim, nhìn ba đây”. Ba tôi chờ đợi. Tôi xoay đầu lại và nhìn ông.
Ba cũng rưng rưng ngấn lệ-những hạt lệ vui mừng. Khuôn mặt ông rực sáng như ánh sáng của hàng ngàn dãy ngân hà và tôi đã nhìn thấy trong đôi mắt của ông là đôi mắt của ông già Nô-ên. Ông già Nô-Ên thật sự. Người đã phí không biết bao nhiêu thời giờ để chọn cho tôi những thứ đặc biệt mà tôi muốn cho tất cả những mùa Giáng Sinh trong quá khứ kể từ khi tôi được chào đời trên hành tinh này. Ông già Nô-ên đã ăn một cách cẩn thận những chiếc bánh được trang trí và đã uống những ly sữa ấm. Ông già Nô-ên có thể đã ăn những củ cà-rốt tôi để dành cho đàn nai kéo xe tuyết. Ông già Nô-ên người- thiếu kiến thức về tài năng máy móc-ráp nối cho tôi những chiếc xe đạp, những toa xe lửa và những vật dụng linh tinh khác suốt những giờ khắc cận kề của những buổi sáng trong mùa Giáng Sinh.
Tôi đã hiểu được. Tôi đã gặt hái niềm vui, sự chia sẻ, tình thương yêu. Ba tôi kéo tôi lại gần và ôm tôi vào lòng thật lâu. Và cả hai chúng tôi cùng khóc.
“Bây giờ con thuộc một nhóm người đặc biệt”, ba tôi tiếp tục. “Từ đây, con sẽ chia sẻ niềm vui của ngày Giáng Sinh, mỗi một ngày trong năm, không phải chỉ có ngày đặc biệt này. Kể từ bây giờ, ông già Nô-ên sẽ sống trong lòng của con, như ông đã sống trong lòng của ba. Đây là trách nhiệm của con phải thực hiện cho trọn vẹn tinh thần ban phát như một phần của ông già Nô-ên đang sống trong lòng con. Đây là một trong những điều quan trọng nhất đối với con trong suốt đoạn đường đời, bởi vì từ bây giờ con biết rằng ông già Nô-ên không thể nào tồn tại mà không có những người như con và ba để gìn giữ hình ảnh của ông được sống động. Con nghĩ con có thể làm được như vậy không"”.
Cõi lòng tôi vươn lên một niềm hãnh diện và tôi chắc đôi mắt của tôi sáng rực với niềm thích thú. “Dĩ nhiên, ba. Con muốn ông già Nô-ên sống mãi trong tâm hồn của con, như ông đã ở trong lòng của ba vậy. Con thương ba quá, ba ơi! Ba chính là ông già Nô-ên tuyệt vời nhất trên thế giới”.
 Khi đúng thời điểm trong đời tôi, tôi sẽ cắt nghĩa sự thật về ông già Nô-Ên cho con cái của tôi, tôi sẽ trổ tài hùng biện và lòng nhiệt thành như tôi đã học hỏi ở ba tôi để làm cho con cái của tôi tin tưởng ông già Nô-ên không phải mang một bộ áo quần màu đỏ. Và tôi hy vọng chúng sẽ chấp nhận sự thật đó như tôi đã đón nhận ở ba tôi. Tôi hoàn toàn tin tưởng chúng và tôi nghĩ chúng sẽ tin tôi.
Xin phép kể thêm cho bạn một câu chuyện nữa thật cảm động:
*Cách đây nhiều năm, có một cô bé mồ côi cha sống với mẹ tại một vùng quê hẻo lánh. Nhà rất nghèo, hai mẹ con phải làm việc quần quật cả ngày mới kiếm đủ ăn. Cô bé không có bạn bè, không có đồ chơi nhưng cô không bao giờ cảm thấy buồn và cô đơn. Gần nhà cô là một khu rừng, lúc nào cũng tràn ngập tiếng chim hót và những bông hoa rực rỡ….Vào mùa đông năm đó, mẹ cô bé bị bệnh và không thể làm việc được, cô bé bận rộn cả ngày với việc đan len để sau đó mang ra chợ bán những đôi vớ bằng len, dù rằng ngay chính đôi chân trần của cô luôn tái xanh vì lạnh.
Gần đến ngày Giáng Sinh, cô bé nói với mẹ : “Không biết năm nay ông già Noel có mang quà đến cho con không, nhưng con vẫn đặt đôi giày trong lò sưởi. Chắc ông già Noel không quên con đâu phải không mẹ"”. Bà mẹ âu yếm vỗ về: “Đừng nghĩ đến điều đó trong ngày Giáng Sinh năm nay con gái ạ. Chúng ta chỉ cầu mong có đủ thực phẩm để qua mùa đông khắc nghiệt này là quy’ lắm rồi”. Nhưng cô bé không tin rằng ông già Noel có thể quên cô. Vào buổi tối trước ngày Giáng Sinh, cô đặt đôi giày trong lò sưởi và đi ngủ với giấc mơ về ông già Noel. Người mẹ nhìn vào đôi giày của con và buồn rầu khi nghĩ đến sự thất vọng của con gái, nếu buổi sáng hôm sau cô không nhìn thấy một món quà nào trong đó. Năm nay, ngay cả một món quà Giáng Sinh nhỏ cho con, bà cũng không lo được.
Buổi sáng hôm sau, cô bé thức dậy sớm và chạy đến nơi cô đặt đôi giày. Đúng như sự mơ ước của cô, đêm qua ông già Noel đã đến và mang cho cô bé một món quà. Đó là một con chim nhỏ bé nằm thiêm thiếp trong chiếc giày, có lẽ vì đói và lạnh. Nó nhìn cô bé với đôi mắt long lanh và kêu lên mừng rỡ khi cô vuốt nhẹ lên bộ lông mềm mại của nó. Cô bé nhảy múa vì vui mừng và ôm chặt con chim nhỏ bé vào ngực mình. Cô chạy đến bên giường, nơi mẹ cô đang nằm và reo lên: “Hãy nhìn con đây mẹ ơi! Ông già Noel không quên con và đã mang đến cho con món quà y’ nghĩa này!”. Những ngày sau đó, cô bé săn sóc con chim, sưởi ấm và cho nó ăn. Con chim líu ríu bên cô bé và đậu lên vai cô trong khi cô làm việc. Khi mùa xuân đến, cô bé mở lồng cho con chim bay vào rừng nhưng nó không chịu bay xa, cứ loanh quanh gần nhà cô bé và mỗi buổi sáng, cô bé lại thức giấc bởi tiếng hót líu lo bên ngoài song cửa sổ.
Lại một mùa Noel đến với tất cả chúng ta-những người Việt đang lưu vong nơi xứ lạ quê người-tôi xin kính chúc bạn và toàn thể quí quyến hưởng nhiều ơn điển của Thiên Chúa Ba Ngôi và được sự che chở trong vòng tay nhân ái của Ngài. Ngay giây phút này, tôi chợt nhớ đến nữ Thánh Teresa-Mẹ mang trái tim của một vị nữ Thánh sống, mẹ luôn luôn cầu nguyện: ‘Lạy Chúa kính yêu, hãy dẫn dắt con đến với những người đang hấp hối cô đơn. Nếu trên thiên đường có Thượng Đế, và Chúa Giê-xu kính yêu, thì không một ai được chết cô đơn”. Và Mẹ đã phán: “Không có gì làm cho bạn sung sướng hơn khi bạn xả thân ban phát lòng nhân đối với những kẻ thực sự đau khổ”.
Mây-cao-Nguyên
(Giáng Sinh 12-2010)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cơn mưa phùn đêm qua còn đọng nước trên đường. Gió thu đã về. Lá vàng theo gió lác đác vài chiếc cuốn vào tận thềm hiên. Cây phong đầu ngõ lại chuẩn bị trổ sắc đỏ ối như mọi năm. Người đi xa từ những mùa thu trước, sẽ không trở về. Những người bạn lâu không gặp, thư gửi đi bị trả lại, nhắn tin điện thoại không thấy trả lời. Có lẽ cũng đã ra đi, không lời từ biệt. Đã có những cuộc ra đi rất lặng lẽ từ gần hai năm qua, không chỉ ở nơi đây, mà ở khắp toàn cầu. Ra đi bất ngờ, ra đi nhanh chóng. Không hoa tang. Không lễ nghi tôn giáo. Không lời ai điếu. Những túi bọc thi thể chất vội vào những thùng xe đông lạnh. Những thi hài quấn vải hoặc cuộn trong manh chiếu được chất trên những giàn củi, hỏa thiêu. Những chiếc quan tài được chôn lấp vội vàng trên đất công, với bia mộ đơn giản, không hình ảnh, ghi tên tuổi của một người già bệnh hay một người trẻ cường tráng, một người quyền quý hay một người bần cùng vô danh… Tất cả những người ra đi ấy, từ những nơi chốn khác nhau, thành thị hay
Hoá ra không phải chùm khế nào cũng ngọt. Quê hương, đôi khi, cũng thế. Cũng chua chát và đắng nghét đối với rất nhiều người mà tôi (chả may) là một. Cùng cả triệu dân Việt khác, tôi cũng đã có lúc hốt hoảng đâm sầm ra biển (dù không biết bơi) khi tóc hãy còn xanh. May mắn, tôi thoát chết. Lên lại được bờ, tôi đi lang thang tứ xứ cho mãi đến khi tóc đã đổi mầu nhưng vẫn chưa bao giờ trở về cố lý. Có kẻ tưởng là tôi chảnh, có mới nới cũ, có trăng quên đèn, quên cả cố hương. Không dám chảnh đâu. Tôi bị chúng “cấm cửa” mà!
Dù vậy, tôi vẫn cũng còn có đôi chút suy nghĩ lăn tăn. Hay nói theo ngôn ngữ của thi ca là vẫn (nghe) “sao có tiếng sóng ở trong lòng.” Chúng ta có nhất thiết phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để tạo nên một đống bùn bẩn thỉu nhầy nhụa như hiện tại không?
Một sự trùng hợp về thời gian 20 năm trong chiến tranh Việt Nam đã lập lại ở Afghanistan vào ngày 15/08/2021 với hình ảnh chiếc trực thăng di tản người Mỹ chạy thoát từ nóc Tòa Đại sứ Mỹ trong lúc phiến quân Taliban đã chiếm dinh Tổng thống không tốn một viên đạn, ngay sau khi Tổng thống Ashraf Ghani bỏ trốn ra nước ngoài.
Mùa Vu Lan hiếu hạnh – báo ân cha mẹ – là truyền thống lâu đời của người con hiếu thảo nhưng làm sao tạo được một cơ hội chia sẻ, an ủi và liên tưởng đến mặt phản diện của những đứa con bất hiếu chưa gặp duyên lành để biết ăn năn sám hối trở về với cha mẹ.
Nhận định của một số giới chức quân sự và chính trị cho đó là thất bại về tình báo từ phía Hoa Kỳ đã đánh giá sai về bộ đội cộng sản Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam, nay lại sai về quân Taliban ở Afghanistan khiến Mỹ phải vội vàng di tản. Hình ảnh máy bay trực thăng di tản người Mỹ và những người đã hợp tác với Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn cuối tháng Tư 1975 và ngày 15/8 vừa qua ra khỏi Kabul sẽ còn in dấu trong tâm thức người Mỹ và dư luận thế giới trong nhiều năm.
Trên Bloomberg Opinion ngày 26 tháng 04 năm 2021, một trong hai tác giả là Cựu Đô đốc James G. Stavridis, trình bày kịch bản này trong bài “Four Ways a China-US War at Sea Could Play Out” mà bản dịch sau đây sẽ giới thiệu. Theo Stavridis,“bốn điểm nóng” mà Hải quân Trung Quốc có khả năng tấn công là eo biển Đài Loan, Nhật Bản và Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam và các vùng biển xa hơn xung quanh các nước Indonesia, Singapore, Australia và Ấn Độ. Nhưng nguy cơ cao nhất là Đài Loan.
Đó là lý do cần nhắc sơ lại Hòa Ước Doha 2020, bởi nếu xem chính phủ Afghanistan là một "đồng minh" của Hoa Kỳ thì đồng minh này đã bị phản bội và bức tử ngay tháng Hai năm 2020 theo sau Hòa Ước Doha của nội các Donald Trump ký với Taliban chứ không phải hôm nay. Liệu có cần nhắc lại hòa đàm Paris vào năm 1973 đã dẫn đến sự sụp đổ báo trước của miền Nam Việt Nam vào tháng Tư năm 1975? Và giới sử gia thường nhắc lại vai trò của tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger trong việc bỏ rơi Nam Việt Nam chứ không phải tổng thống Gerald Ford, vị tổng thống Mỹ đương nhiệm năm 1975.
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.