Hôm nay,  

Sức Nặng APEC

11/09/200700:00:00(Xem: 9300)

...Bush chỉ mời các lãnh tụ thuộc loại đồng minh chiến lược tới nông trại riêng của mình ở Crawford...

Chủ Nhật vừa qua, Thượng đỉnh của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương, gọi tắt là APEC, đã kết thúc tại Sydney của Australia với một bản Tuyên bố chung của 21 hội viên. Văn kiện ấy được dư luận quốc đánh giá trái ngược, nhiều phần là tiêu cực. Nhân dịp này, Diễn đàn Kinh tế có cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về tầm quan trọng của APEC, do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.   

Hỏi: Xin chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Thưa ông, hội nghị cấp lãnh đạo Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương, thường được biết đến với tên tắt là APEC, đã kết thúc tại Sydney vào cuối tuần qua. Năm ngoái hội nghị này được triệu tập tại Hà Nội, năm nay, đến lượt Australia đăng cai tổ chức. Kết thúc hội nghị APEC năm nay, 21 quốc gia và lãnh thổ hội viên đã có một bản tuyên bố chung về hiện tượng thay đổi khí hậu, về an ninh năng lượng và về phát triển trong lành. Văn kiện ấy bị truyền thông Tây phương đánh giá thấp, ngược với quan điểm tích cực của nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam.

Chúng tôi xin đề nghị là chúng ta cùng trao đổi về tầm quan trọng của APEC và về lý do vì sao lại có những đánh giá khác biệt như vậy.

Tôi xin được trả lời ngay về câu hỏi thứ hai, vì sao lại có sự đánh giá trái ngược như vậy từ dư luận Tây phương.

Trên đại thể thì trọng lượng thế giới đã chuyển từ Đại tây dương qua Thái bình dương, từ quan hệ giữa Hoa Kỳ với Âu châu qua quan hệ giữa các nước Á châu với toàn khu vực Mỹ châu, ở miền Đông Thái bình dương. Sự chuyển dịch ấy ít được truyền thông hay dư luận đánh giá đúng mức, cũng như không đánh giá đúng mức tầm quan trọng của APEC.

Vì đánh giá sai nên đa số dư luận tại Tây phương coi nhẹ bản tuyên bố chung của APEC. Riêng dư luận Hoa Kỳ thì tập trung chú ý vào hồ sơ Iraq, vào cuốn băng hình của trùm khủng bố al-Qadea là Osama bin Laden, về báo cáo của vị Tư lệnh Mỹ tại chiến trường Iraq và những vấp váp ngọng nghịu của Tổng thống Bush tại Sydney.

Trong khi sự thể ở tại chỗ, giữa 21 hội viên kinh tế của APEC đã thực tế vượt khỏi phạm vi hợp tác kinh tế, và cho thấy một chiều hướng khác. Vì vậy, tôi xin đồng ý là chúng ta sẽ phải tìm hiểu về trọng lượng của APEC trong quan hệ quốc tế.

Hỏi: Nếu vậy, xin đề nghị là chúng ta khởi đầu với sức nặng của APEC. Ông muốn nói tới sức nặng kinh tế trước phải không"

APEC quy tụ 21 hội viên kinh tế, thay vì 21 quốc gia, vì hoàn cảnh riêng của Hong Kong - vốn là một Đặc khu Kinh tế của Trung Quốc - và Đài Loan, vốn là Trung Hoa Dân quốc, mà không được công nhận như một quốc gia và chỉ tham dự APEC như một nền kinh tế.


Đây là 21 hội viên trên vòng cung Á châu Thái bình dương, từ các nước Đông Nam Á lên Đông Bắc Á, kể cả Trung Quốc, Nhật Bản và Liên bang Nga, qua khu vực Bắc Mỹ là Canada, Hoa Kỳ, xuống tới Trung Nam Mỹ, gồm có Mexico, Chile, Peru và về tới Úc Đại Lợi với hai hội viên là New Zealand và Australia.

Xin nói thêm: sáng kiến thành lập APEC là do Australia đề xướng năm 1989 nhằm gây dựng một lực đối trọng về kinh tế với hai khối kinh tế lớn đang thành hình vào thời đó là Liên hiệp Âu châu và khu vực Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ, gọi là NAFTA, giữa Canada, Hoa Kỳ và Mexico. Giờ đây, APEC đã có trọng lượng đáng kể hơn nhiều. 

Hỏi: Ông nói đáng kể là về những khía cạnh nào"

Về dân số, diễn đàn APEC quy tụ chừng 40% dân số thế giới, là thị trường có hai tỷ 700 triệu người tiêu thụ. Các hội viên APEC tập trung sản xuất ra 60% tổng sản lượng của toàn cầu, 50% khối lượng ngoại thương của thế giới và riêng với Hoa Kỳ thì đây là nơi tiếp nhận gần 2/3 lượng xuất khẩu của Mỹ. Chẳng những khối APEC bao gồm ba nền kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc mà còn quy tụ các cường quốc có trọng lượng về an ninh là Mỹ, Nga, Trung Quốc, và cả Nhật Bản lẫn Australia.

Hỏi: Thế vì sao ông lại cho rằng truyền thông Tây phương nói chung ít chú ý đến một khu vực trọng yếu như vậy"

Ta có nhiều cách giải thích lắm. Một là do quán tính, thói quen của quá khứ vốn vẫn quá chú trọng đến quan hệ giữa Âu châu và Hoa Kỳ - chủ yếu là Thượng đỉnh của nhóm G-8 là tám nước công nghiệp hàng đầu thế giới. Hai là do sự chậm lụt của các tổ chức vận động ngoài chính phủ, các NGO, vốn tập trung tranh đấu và đòi hỏi hướng vào các định chế quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới WTO, hay Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF.

Khi WTO hay Nhóm G-8 hoặc hai định chế tài chính kia mà có kỳ họp hàng năm, ta thấy hàng vạn người biểu tình chống đối và thậm chí bạo động vì chống toàn cầu hoá, chống kinh tế thị trường, tự do mậu dịch, hay để bảo vệ môi sinh. Tại các hội nghị của APEC, ta không thấy một sự huy động đông đảo và rối loạn như vậy. Tại Hà Nội năm ngoái thì lãnh đạo Việt Nam cấm biểu tình đã đành, chứ tại Sydney tuần qua, theo lượng định của báo chí, số người biểu tình chỉ có chừng 5.000; còn theo lượng định của nhà đương cuộc Australia, số người biểu tình chỉ có ba nghìn. Và có thể nói thêm là phân nửa số dân biểu tình có lẽ là thành phần phản chiến, hay chống Tổng thống Bush. Nếu Tổng thống Mỹ mà không tham dự Thượng đỉnh APEC như người ta đã đồn đãi tuần trước thì có lẽ chẳng ai nói đến APEC nữa, và đó là một sai lầm!

Vì dư luận thiếu quan tâm như vậy, truyền thông có thể khiến dư luận đánh giá thấp APEC, chứ nhìn vào khu vực Á châu, sức nặng của diễn đàn này đang gia tăng, là điều Việt Nam cần chú ý.

Hỏi: Nếu có thể, xin ông lược duyệt chiều hướng gia tăng ấy kể từ thời thành lập APEC.

Khi Australia, và cả New Zealand, đề xướng việc thành lập một diễn đàn đối thoại vào năm 1989, 12 hội viên kinh tế thời ấy mới sản xuất ra chừng phân nửa sản lượng thế giới, và người ta coi diễn đàn này chỉ là nơi đẩy mạnh nỗ lực tự do thương mại giữa các nước. Nỗ lực ấy khởi sự với Thượng đỉnh đầu tiên vào năm 1993 tại Mỹ - năm nay là Thượng đỉnh thứ 15 - và được nối tiếp năm sau với việc thành lập một khu vực tự do mậu dịch, gọi là "Mục tiêu Bogor" do địa danh của Thượng đỉnh năm đó tại Indonesia.

Sau năm 2001, khi vòng đàm phán Doha về tự do mậu dịch toàn cầu của Tổ chức WTO bị bế tắc, các nước mong đợi là APEC sẽ là diễn đàn khai thông, là chuyện của năm nay.

Hỏi: Ngoài tự do mậu dịch, APEC còn có hoạt động gì khác hay không"

Ngoài phạm vi đẩy mạnh tự do ngoại thương, APEC còn đạt nhiều kết quả khác, như khiến các hội viên phải quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ môi sinh, an toàn năng lượng, kiểm soát vệ sinh và an toàn thực phẩm. Vì hoàn cảnh độc đáo là nơi gặp gỡ gần bình đẳng giữa lãnh đạo các nước giàu và nghèo - khác với Thượng đỉnh của nhóm G-8 - các nước đang phát triển có dịp nêu thẳng vấn đề với lãnh đạo các cường quốc, như bữa ăn sáng và đàm đạo giữa Tổng thống Bush và đại diện của bảy trong 10 nước của Hiệp hội ASEAN hôm mùng bảy. Sau cùng, APEC cũng là diễn đàn trao đổi giữa các nước về an ninh và chính trị, như chống khủng bố, như hồ sơ Bắc Hàn hay nạn độc tài tại Myanmar, hay Miến Điện như chúng ta thường gọi ngày xưa.

Hỏi: Sau khi ông trình bày quá trình thoát xác và lớn mạnh của Diễn đàn APEC, chúng ta sẽ bước qua phần lượng định về thành quả của Thượng đỉnh năm nay. Ông đánh giá thế nào về thành quả khi các hội viên APEC thì ngợi khen mà các nước khác thì coi thường"


Tôi thiển nghĩ rằng sự khác biệt đó có nguyên nhân chính trị, nên chúng ta phải "trừ bì", hoặc gia giảm tầm quan trọng của những lời chỉ trích.

Tôi xin giải thích: các nước công nghiệp đang gặp bế tắc khi phải đối phó với hiện tượng gọi là nhiệt hoá địa cầu, hay lồng kính, hay sự thay đổi của khí hậu. Bế tắc vì Nghị định thư Kyoto đã không đem lại kết quả khi các nước gây nhiều khí thải nhất, như Hoa Kỳ thì không ký kết và Trung Quốc lại không bị ràng buộc vì không được coi là nước công nghiệp tiên tiến. Nhiều nước đã ký kết lại không đạt nổi chỉ tiêu hạn chế khí thải của mình. Từ nhiều năm nay, Tổng thống Bush đã đề nghị giải pháp thay thế là kêu gọi tinh thần tự nguyện mà không đặt ra hạn ngạch tiết giảm khí thải, và dùng diễn đàn APEC là nơi xây dựng tinh thần đồng thuận và trao đổi công nghệ về môi sinh.

Kết quả là năm nay, các hội viên APEC đã tập trung thảo luận về vấn đề này và khi bản Tuyên bố chung ghi rõ tiêu đề là "Thay đổi Khí hậu, An toàn Năng lượng, và Phát triển Trong lành", ta thấy vấn đề nhiệt hoá địa cầu đã chiếm phần quan trọng trong nghị trình thảo luận của APEC. Mà quyết định của diễn đàn này sẽ ảnh hưởng tới chính sách riêng về môi sinh, bảo vệ rừng và tiết kiệm năng lượng của từng hội viên, dù có ký hay không ký vào Nghị định thư Kyoto, một văn kiện bề nào cũng ít có tác dụng và sẽ hết hiệu lực.

Đáng chú ý trong thành quả này là Chương trình Hành động được đính kèm bản Tuyên bố chung của APEC, mà tôi thiển nghĩ rằng Việt Nam nên nghiên cứu, và khai triển để áp dụng vì sẽ có cơ hội tiếp nhận nhiều công nghệ hiện đại về bảo vệ môi sinh và tiết kiệm năng lượng trong khuôn khổ của mạng lưới Á châu Thái bình dương về Công nghệ Năng lượng, gọi tắt là APNet, sẽ được các hội viên APEC thành lập năm tới.

Hỏi: Ngoài ra, năm nay, Thượng đỉnh APEC còn đạt kết quả gì về mậu dịch không"

Về mục tiêu nguyên thủy là mở rộng tự do mậu dịch, các hội viên APEC chưa thể khai thông được những bế tắc của vòng đàm phán Doha của Tổ chức WTO, nhưng đồng thời chứng minh được một sự chuyển động khác. Đó là nếu WTO bị ách tắc, khối APEC sẽ có những hiệp định tự do thương mại song phương hay cấp vùng, tức là nếu không thể tự do hoá ngoại thương trên toàn cầu, giữa 185 hội viên của WTO, thì sẽ có những thoả ước riêng liên hệ đến phân nửa khối lượng xuất nhập khẩu của thế giới.

Đáng chú ý trong đó là các Hiệp định Tự do Thương mại song phương gọi là FTA mà cả Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc đều muốn ký với các hội viên của APEC. Cho nên, thực tế thì APEC là giải pháp điền thế cho WTO, như cũng thay thế Nghị định thư Kyoto. Và đấy là lý do khiến APEC bị truyền thông Tây phương đả kích hay đánh giá thấp.

Hỏi: Bước qua các vấn đề ngoài kinh tế thì APEC năm nay còn đạt kết quả gì khác nữa"

Có một vấn đề nhạy cảm cho ASEAN là nạn độc tài của một hội viên, tại Myanmar. Năm nay, APEC có đề cập thẳng đến vấn đề ấy trong các cuộc hội đàm song phương giữa lãnh đạo của Hoa Kỳ, Trung Quốc và bảy nước ASEAN. Từ đó, mình có thể suy ra là tình hình Miến Điện rồi cũng sớm thay đổi.

Ngoài ra, tại cuộc gặp gỡ song phương giữa hai Tổng thống Hoa Kỳ và Nam Hàn, vấn đề Bắc Hàn cũng được nêu lên, với một đề nghị bất ngờ từ Tổng thống Bush là sẽ tìm cách kết thúc Chiến tranh Cao Ly, một tình trạng chiến tranh lạnh lưu cữu từ Hiệp định Ngưng bắn năm 1953. Có thể là Mỹ và hai nước Nam-Bắc Hàn sẽ ký kết một Thỏa ước bất tương xâm và thiết lập hoà bình cho bán đảo Triều Tiên nếu Bắc Hàn thực sự từ bỏ kế hoạch võ khí hạch tâm của họ.

Sau cùng, người ta cũng cần chú ý đến một Hiệp định Hợp tác Chiến lược về Quân sự và Thương mại mà Tổng thống Bush đã ký kết với Thủ tướng John Howard của Australia hôm Thứ Tư mùng năm. Hiệp định này có nội dung tương tự như một văn kiện Mỹ đã ký với Anh hôm 27 tháng Sáu, khiến Australia sẽ có thủ tục đặc biệt về mua bán võ khí của Mỹ và trở thành một đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ tại châu Á, như nước Anh là đồng minh chiến lược của Mỹ tại Âu châu. Thượng đỉnh APEC vì vậy có ảnh hưởng lâu dài và rộng lớn hơn phạm vi thuần túy kinh tế, như trường hợp của câu lạc bộ ASEAN.

Hỏi: Nói tới Hiệp hội ASEAN, nhân Thượng đỉnh APEC, Tổng thống Bush đã gặp riêng lãnh đạo hay đại diện của bảy hội viên ASEAN, ý nghĩa của việc đó là gì"

Hoa Kỳ bị mang tiếng là vì quá bận với cuộc chiến chống khủng bố và hồ sơ Iraq nên hết quan tâm đến khu vực Đông Nam Á và Ngoại trưởng Mỹ đã không tham dự hai trong ba hội nghị cấp Bộ trưởng hàng năm của ASEAN. ASEAN là đối tác kinh tế đứng hàng thứ tư của Hoa Kỳ và đã có tròn 30 năm hợp tác với Mỹ.

Vì lịch trình làm việc quá nặng ở nơi khác, tại Iraq và ở nhà, nhân kỷ niệm sáu năm vụ khủng bố 9-11, ngày 11 tháng Chín năm 2001, Tổng thống Bush không tham dự hội nghị đánh dấu 30 năm đó tại Singapore là nước luân phiên chủ tịch ASEAN năm nay. Ông đến và rời Australia sớm một ngày nên đã chuẩn bị phiên họp với bảy đại diện của ASEAN và mời họ tham dự thượng đỉnh giữa ASEAN với Hoa Kỳ tại nông trại của ông ở Texas.

Ông Bush chỉ mời các lãnh tụ thuộc loại đồng minh chiến lược tới nông trại riêng của mình ở Crawford nên lời mời đó có ý nghĩa khá đặc biệt. Có thể là đầu năm tới, người ta sẽ thấy thượng đỉnh này thành hình và qua đó cũng thấy Hoa Kỳ vẫn gắn bó với Á châu về cả quyền lợi lẫn an ninh, và các chế độ độc tài sẽ lại bị đả kích ngay tại Crawford này.

Xin cảm tạ ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.