Hôm nay,  

Mối Nguy Lạm Phát

31/01/200800:00:00(Xem: 9349)

...Trung Quốc và Việt Nam cũng có tỷ lệ bất công xã hội cao nhất Đông Á...

Tổng cục Thống kê tại Việt Nam vừa cho biết là chỉ số giá tiêu dùng đã tăng gần 2,4% so với tháng 12. Và nếu so với tháng Giêng năm ngoái, lạm phát tại Việt Nam đã vượt quá 14%, một trường hợp chưa từng thấy trong cả chục năm nay và cũng chưa từng thấy trong cả khu vực Đông Á. Trong chương trình chuyên đề tuần này của Diễn đàn Kinh tế đài RFA, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về khả năng ổn định giá cả của Việt Nam qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, hôm 29 vừa qua, Tổng cục Thống kê của Việt Nam đã mới công bố một số dữ kiện về kinh tế trong đó đáng chú ý nhất là việc lạm phát trong năm qua đã vượt 14% và riêng trong tháng này thì gần lên tới 2,4% so với tháng 12. Mối lo về vật giá gia tăng đang ám ảnh nhiều người, nhất là trong dịp giáp Tết. Vì vậy, chúng tôi đề nghị là trong chương trình kỳ này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các nguyên nhân của lạm phát và về khả năng ổn định giá cả của Việt Nam qua phương cách quản lý kinh tế.

Tôi xin được nói ngay về phương cách quản lý kinh tế ấy qua việc Tổng cục Thống kê loan báo những dữ kiện quan trọng về kinh tế. Chúng ta hãy tạm gác qua một bên mức độ chính xác của các thống kê, là điều mình vẫn còn phải trừ hao, mà chỉ nói đến những thông tin quá giản lược và không giúp gì cho nhà sản xuất hay người tiêu dùng. Và tất cả đều được tráng bên ngoài một lớp men lạc quan. Thí dụ như ở tiêu đề bản tin: "kinh tế tháng 1 tiếp tục tăng trưởng nhiều mặt". Nếu đọc kỹ ta mới thấy là dù xuất khẩu có tăng gần 20% so với cùng kỳ của năm ngoái thì nhập khẩu lại tăng đến 27%, khiến Việt Nam bị nhập siêu, là nhập hơn xuất khẩu, tròn một tỷ Mỹ kim, gần một phần tư số xuất khẩu.

Chỉ trên bề mặt như vậy, ta thấy ra tàn dư của tình trạng "làm láo báo cáo hay" tưởng như phải chấm dứt từ lâu. Kinh tế thị trường khó phát triển trong tinh thần tô hồng thực tế như thế, nhất là khi nhà nhà đều lo ngại là vật giá và nhất là lương thực đã vượt khỏi tầm tay của nhiều người - dù có Tết hay không. Đáng chú ý không kém về khả năng quản lý, ta thấy vật giá tại Hà Nội đã tăng gần gấp ba vật giá tại Sàigòn và lương thực, vốn là nhu yếu phẩm cho dân chúng thực ra tăng giá tới hơn 20%. Nếu có một cơ sở khảo sát độc lập có lẽ ta còn có nhiều thống kê chính xác hơn về một tình hình thật ra rất đáng lo ngại.

Hỏi: Ông cho rằng các thống kê này chưa đáng tin hay sao"

Nói về sự khả tín của các thống kê do nhà nước thu thập và công bố trong một xã hội chưa thực sự có tự do thông tin, tôi chỉ xin nhắc tới một thành ngữ của giới kinh tế. Là "con số không biết nói dối, nhưng người nói láo cũng có thể tạo ra con số". Cho nên mình cũng phải trừ hao, là điều mà giới đầu tư nước ngoài vẫn nói về tình trạng thống kê của Việt Nam và Trung Quốc, ngẫu nhiên sao cũng lại là hai quốc gia đang có mức lạm phát cao nhất trong khu vực, và cao nhất từ mươi năm nay. Chúng ta có thể thấy ngay trong đó một nguyên nhân chính, là khả năng quản lý vĩ mô rất kém của nhà cầm quyền.

Hỏi: Nhưng xin hỏi ông ngay tại đây, với giá dầu thô tăng vọt và kéo theo nhiều mặt hàng khác thì nhiều nước trong khu vực cũng đang phải đối phó với nạn lạm phát, thí dụ như chỉ số giá cả tại Nhật đã tăng gấp đôi so với năm ngoái. Đây có phải là một hiện tượng chung của các nước hay chăng"

Tại Nhật, chỉ số vật giá loại tiêu dùng - mà không kể thực phẩm tươi - có tăng thật vì dầu thô lên giá, nhưng không tăng tới mức đáng ngại như tại Việt Nam hay Trung Quốc. Người ta còn cho rằng Nhật đang thoát khỏi tình trạng giảm phát, và thật ra Chính quyền xứ này có khả năng quản lý vĩ mô tinh vi hơn người ta có thể nghĩ tại Hà Nội. Nói đến khả năng quản lý vĩ mô, ta nghĩ sao về việc ngoại tệ, chủ yếu là đô la, đang tràn vào Việt Nam mà các ngân hàng không thu hút kịp" Và việc lãi suất ngân hàng vẫn được ấn định quá thấp nên tiền bạc vẫn dư dôi ngoài thị trường và góp phần thổi lên nạn lạm phát"

Chúng ta có nạn lạm phát tiền tệ, đi cùng với nạn lạm phát nhập khẩu vì giá cả thương phẩm hay dầu thô, nói chung là nguyên nhiên vật liệt đều tăng. Khi cả hai nền kinh tế có cùng một mô thức phát triển và cùng một cơ chế chính trị là Trung Quốc và Việt Nam đều bị lạm phát mạnh vào cùng lúc, chúng ta nên nhìn ra những bất toàn của mô hình đó.

Hỏi: Nếu vậy, ta hãy đi lại từ đầu để cùng tìm hiểu về nguyên nhân trước khi mình nói đến việc quản lý. Vì sao lạm phát lại bùng nổ vào lúc này"

Ta đều biết là giá lương thực và thực phẩm đã gia tăng mạnh trong năm qua trên thế giới, bình quân là 40% so với 16% của năm 2006. Nhưng Trung Quốc và Việt Nam cũng sản xuất nông phẩm và lương thực, vì sao nông dân tại hai xứ này lại bị thiệt hại nhiều nhất vì lạm phát" Người ta có lý do trước mắt là dịch heo tai xanh khiến thịt thà lên giá và kéo theo giá tôm cá nhưng đấy chỉ là nguyên nhân ngắn hạn cho một số mặt hàng lương thực mà thôi. Nguyên nhân sâu xa nằm trong cơ cấu kinh tế là phương thức quản lý tập trung vào việc xuất khẩu với giá rẻ và tỷ giá rất thấp của đồng bạc. Chính là chiến lược ấy mới khiến tiền đồng được tháo ra như nước và gây ra lạm phát tiền tệ. Trung Quốc còn biết sợ nên nâng lãi suất chín lần và tăng mức dự trữ pháp định để phần nào kềm hãm lạm phát, Việt Nam chưa đi tới chỗ đó mà chỉ tự hào là đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%. So với giá lương thực đã tăng 22% thì con số trên không còn ý nghĩa gì, nhất là khi thực phẩm chiếm một tỷ trọng rất lớn, tới gần 40% ngân sách chi tiêu của các gia đình.

Khi một ông Bộ trưởng của Hà Nội phát biểu rằng "để kềm chế tốc độ lạm phát trong năm 2008, nhiệm vụ hàng đầu hiện nay là nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng" - đó là tôi trích dẫn nguyên văn - thì mình phải tự hỏi là ông ta có hô khẩu hiệu để nói đùa hay chăng.

Hỏi: Dường như ông giải thích nguyên nhân chính của lạm phát là cơ chế quản lý và chiến lược kinh tế của Việt Nam, chứ không hẳn là một thất quân bình nhất thời của cung và cầu về hàng hoá hay tiền tệ. Nhưng vì sao điều ấy lại xảy ra vào lúc này, hai chục năm sau khi Việt Nam tiến hành đổi mới kinh tế"

Vì một lý do đầy nghịch lý là Việt Nam đã quá thành công trong việc đổi mới nửa vời, đổi mới ở ngoài da, tại các đô thị mở cửa ra ngoài. Một năm sau khi bắt đầu hội nhập vào thị trường quốc tế với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO thì bắt đầu thấy ra những chênh lệch quá lớn ở bên trong cơ cấu xã hội. Nôm na là nhập khẩu cả lạm phát và đẩy lạm phát xuống thôn quê và các tỉnh nghèo đói.

Hỏi: Ông có thể giải thích điều này cho rõ hơn được không" Thế nào là đẩy lạm phát xuống thôn quê"

Việc đổi mới kinh tế có cải thiện mức sống của nhiều người, và vì vậy cũng cải thiện bữa ăn của nhiều gia đình khiến một số người tập trung ở thành phố có thể ăn ngon và bổ hơn. Vì vậy, nhu cầu về ngũ cốc hay ngô khoai để nuôi gia súc cũng tăng với tốc độ cao hơn dân số, nó tăng với đà tăng trưởng kinh tế. Nhưng đa số người dân vẫn chưa tiến tới tình trạng ăn ngon và bổ như vậy và vẫn cần tới loại lương thực cơ bản, nay đã trở thành đắt giá hơn. Vì khả năng quản lý kinh tế rất kém, hay rất chậm so với những bài toán quá mới, nên khi thất quân bình xảy ra, thành phần nghèo túng lại là nạn nhân đầu tiên.

Nhìn một cách khác, chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, và của cả Trung Quốc, là đi làm gia công cho thiên hạ để xuất khẩu tối đa. Những gì không có lợi cho việc đó thì bị lãng quên. Hạ tầng vận chuyển và phân phối không nhắm vào việc phục vụ thị trường nội địa và các địa phương mà nhắm ra nước ngoài nên vẫn còn quá thô sơ để có thể kịp thời giải quyết bài toán phân phối cho các vùng kém phát triển.

Hỏi: Nhưng từ nhiều năm nay, thế giới vẫn ngợi ca thành quả kinh tế của Việt Nam, và còn dự đoán Việt Nam có thể là một con rồng kinh tế mới. Ông nghĩ là thế giới lầm lẫn hay sao"

Đấy là thế giới của các nhà đầu tư hay những ai tiếp cận với các nhà đầu tư, và nhìn vào Việt Nam từ mặt nổi đầy hào nhoáng ở thành phố. Ta có thể thấy nghịch lý ấy ở những trái bóng đầu tư đang căng phồng và sắp bể ở thành phố với những tỷ phú triệu phú sống như người Đài Loan hay Thái Lan, trong khi vật giá cũng căng phồng trong một địa hạt thiết yếu cho quần chúng bình dân, là lương thực. Nhược điểm bất công của đường lối đổi mới nửa vời đó đang hiển hiện thành nạn lạm phát phi mã đối với mặt hàng nhu yếu cho quảng đại quần chúng. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai quốc gia có cùng một mô thức phát triển là Trung Quốc và Việt Nam cũng có tỷ lệ bất công xã hội cao nhất Đông Á, nếu đo lường ở hệ số Gini hay lợi tức của nhóm dân số giàu nhất so với nhóm nghèo nhất. Mức chênh lệch giàu nghèo này đang gia tăng cùng tốc độ mở cửa mà đấy cũng lại là hai quốc gia tự xưng là xã hội chủ nghĩa.

Hỏi: Nếu như không có cải tiến thì tình trạng này có thể kéo dài được bao lâu" Và những gì có thể xảy ra sau đó"

Nếu nhìn vào lịch sử Á châu trong trường kỳ với nhãn quan kinh tế thì nhiều biến động lớn có thể đã xảy ra vì khủng hoảng kinh tế và vì nạn lạm phát, trước khi từ ngữ này được phát minh. Nhà Minh sụp đổ năm 1644 cũng vì lạm phát khiến nông dân nổi dậy. Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch cũng bị thua trận vào năm 1949 trước tiên cũng vì nạn lạm phát. Và vụ khủng hoảng Thiên An Môn khiến mấy ngàn người Trung Hoa bị tàn sát vào tháng Sáu năm 1989 cũng do nạn lạm phát châm ngòi. Vì vậy mà chính quyền Bắc Kinh đang coi lạm phát là vấn đề sinh tử và ráo riết đề phòng để khỏi bùng nổ thành động loạn sau Thế vận hội Bắc Kinh vào tháng Tám này.

Lạm phát tại Việt Nam cũng thế, nó đang phơi bày nhiều nhược điểm của cơ chế chính trị và hệ thống quản lý kinh tế của xứ này. Ở một quốc gia có dân chủ, nếu chính quyền bất lực để dân đói khồ thì chính quyền đổ và người dân bầu ra một nội các mới để cải thiện tình hình. Tại Việt Nam và Trung Quốc, vì cơ chế chính trị hiện hành, khủng hoảng kinh tế sẽ biến thành động loạn xã hội và tất yếu trở thành khủng hoảng chính trị vì không thể thay thế chính quyền được.

Nếu không sớm giải trừ được lạm phát thì chẳng những uy tín của đảng và nhà nước bị sa sút mà cả đường lối gọi là "kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa" cũng bị người dân chối bỏ. Cho nên, chuyện vật giá leo thang tại Việt Nam không chỉ là một vấn đề kinh tế nhất thời. Nó là chuyện rất đáng lo, nhất là trong khung cảnh có nhiều bất trắc của kinh tế thế giới trong năm nay.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.