Hôm nay,  

Tản Mạn: Tô Phở Berlin

05/02/200800:00:00(Xem: 10246)

- Phan Thanh Tâm

Mùa Giáng Sinh 2007 vừa rồi, khi thăm lại miền Đông nước Mỹ, tôi đã la cà ăn uống với bạn bè, trước là hàn huyên đấu láo, sau là có dịp tìm về kỷ niệm của một thời đã qua bằng cách thưởng thức các món ăn đậm đà hương quê, trong đó có phở. Ở Houston, phở được rao ra rã: “Phở! Phở! Phở ngon đây!” trên làn sóng điện của một đài phát thanh tiếng Việt. Còn Hoa Thạnh Đốn và vùng phụ cận, các tiệm phở chỉ quảng cáo ngắn gọn trên báo: thơm ngon, bổ dưỡng, chính thống, danh bất hư truyền, tinh khiết. Hồi tháng 5/1995 tờ Washington Post cho biết vùng này suýt xảy ra một cuộc chiến tranh vì tiệm nào cũng  xưng mình là vua phở.  

 Tôi thấy phở vào lời ra chớ không phải chỉ có rượu vào lời ra mà thôi. Thực khách sau chầu phở đều thích nói chuyện nước, chuyện non, chuyện văn, chuyện báo. Ở đâu có người mình là ở đó có mùi phở, như bóng với hình và đều có bàn ra tán vào. Khởi từ Bắc vô Nam, món ăn quốc hồn quốc túy này theo chân người tị nạn đi cùng khắp thế giới, chinh phục bao tử nhân loại. Nó đi vào văn học từ thời Tự Lực Văn Đoàn. “Nếu là gánh phở ngon thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu dòn chứ không dai, chanh, ớt với hành tây đủ cả.”

Câu văn từ hồi tiền chiến của Thạch Lam còn đúng với tô phở ngày nay hay không" Cuôc sống đổi thay, tâm người thay đổi thì tô phở cũng phải khác. Xuôi dòng thời gian và địa lý, nó mọc ra giá sống, ngò gai, húng quế, tương đen, tươmg đỏ. Bá nhơn bá bao tử. Sáng tạo là bản chất con người. Nội dung tùy thích nhưng bản sắc tức cái mùi vẫn phải giữ và được xác định bởi hai chức năng mủi và lưỡi. Phở mà vô hương thì vô duyên tân mạng. Việt gian có thể lầm chớ phở gian thì biết liền. Mùi phở rất độc đáo, bất biến, vượt không gian, thời gian, xuyên mọi biên giới, qua đường thực quản thấm đậm lòng người.

Theo tôi, rất khó mô tả mùi phở. Cái mùi làm thế giới phải lụy. Dò sông, dò biển dễ dò, chớ bàn về mùi này chữ nghĩa đâu mà viết" Định nghĩa được Mùì Phở cũng khó như định nghĩa TìnhYêu; nhất là với một tô phở ngon. Nhà báo Ngô Nhân Dụng đề nghị người Việt chúng ta cần có một sử gia về Phở Học để giữ bản quyền. Phở cách đây 100 năm giống và khác Phở bây giờ như thế nào" Phở di cư từ Bắc vô Nam so với Phở Bắc Kỳ cũ vào Nam làm đồn điền cao su và nhất là cuộc di cư vĩ đại của hai giòng Phở từ hai miền Nam và Bắc khắp thế giới khác ra làm sao" Còn Phở trong nước và Phở hải ngoại nữa. 

Ngoài ra, phở đã được toàn cầu hóa; đã có nhiều phó bản: Phở Đại Hàn, Phở Nam Dưong, Phở Thái, Phở Lào, phở Hmong. Anh bạn người Hmong Mouhfu cho biết họ ăn kèm với lòng heo nướng.Trên đường University ở Saint Paul Minnesota, có đôi ba tiêm ăn treo chữ Fawm. Chủ yếu nhằm vào 60 chục ngàn sắc dân Hmong. Họ ăn theo lối tổng hợp. Trên bàn có thứ gì tương, ớt, đường, xì dầu, nước mắm, muối, rau, chanh, dấm họ đều  trộn lẫn vào. Khách Mỹ thì phân tích; vắt chanh vaò diã rau, nhẫn nha thưởng thức từ cọng quế, cọng giá. Hết sạch rau mới tới phở. Có người đòi cho thêm vaì con tôm và bông cải broccoli.

Lên vút tận trời

Mặt khác, một tô phở ngon có chắc sẽ cho ta một bửa ăn ngon" Không, cho dù phở được nấu bởi một vua phở chính thống. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu rất chí lý khi nói,” Đồ ăn ngon, giờ ăn không ngon, ăn không ngon. Đồ ăn ngon, giờ ăn ngon, chỗ ngồi ăn không ngon, ăn không ngon. Đồ ăn ngon, giờ ăn ngon, chỗ ngồi ăn ngon, người cùng ăn không ngon, ăn không ngon”. Vậy, để có một bửa phở ngon, ngoài phần cốt lõi có phở hợp khẩu vị, phở cần phải được ăn hợp lúc, ngồi nơi hợp chỗ và với người hợp ý thì bửa ăn phở mới cho ta “bay lên vút tận trời”, để thấy lại “đường lối cũ”. Mấy ai có được một bửa ăn “phê” như vậy"

Dạo về Việt Nam cuối năm 2006, tôi đã ăn phở từ cái quán lá xập xệ bên đường ở Phù Mỹ, Bình Định, bụi bay mù trời mỗi khi xe chạy qua; cho đến tiệm ông Clinton ăn ở Saigon hay ở Hà nội với ve bột ngọt trên bàn. Mùa hè rồi, tôi có dịp ăn phở ở Berlin, Paris, Houston, Austin trong các tiệm đông khách vào ra cho đến phở nhà bạn bè. Tôi thấy Phở thiệt là đa dạng. Nơi nào cũng có cái ngon riêng là nhờ có vị phở. Không ngon thì làm sao lập được cơ nghiệp" Hợp khẩu hay không còn tùy bụng người. Ăn nhiều nơi, giờ nghĩ lại, tô phở ở Berlin là cho tôi nhiều dư vị nhất, “đạt” nhất vì nó thoả được điều mà tác giả bài Tống Biệt nêu ra ở trên. 

 Thật vậy, chưa bao giờ tôi thấy tình đồng hương nơi xứ người thắm thiết và câu nói “Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương” lại hiện thưc bằng bửa ăn phở vào lúc nửa đêm về sáng ở thành phố Berlin, thủ đô của Cọng Hòa Liên Bang Đức hồi tháng sáu năm ngoái. Sau khi xe chạy lạc loanh quanh cả giờ trong thành phố, dù có điện thoại lưu động của anh Vũ Thư Hiên liên lạc với gia chủ chỉ dẫn đường hướng, mà vẫn trở lại chốn cũ nhiều lần; chúng tôi đành phải đứng lóng ngóng ở lề đường, đợi người quen đến đưa về, giữa lúc cả thành phố còn đang ngủ kỹ trong một đêm hè Âu Châu mát lạnh. 

Hương vị phở thơm phưng phức trong căn phòng ấm cúng, cùng với tính hiếu khách của anh chị Huỳnh Kim Thiên - Mỹ Lâm, tuy mới gặp lần đầu nhưng giọng nói thân mật miền Trung xứ Quảng của anh chồng đã làm tôi tỉnh hằn, hết còn mệt mỏi sau chuyến hành trình ta ba lô dài trên 1100 cây số, trên chiến xe minivan chở sáu người của anh Phan Văn Song. Không ngờ, khi tựa cột đèn chờ, lẩn thẩn nhìn các vì sao trên trời, mong ước bâng quơ “giá có một tô phở”, đã trở thành sự thật. Ngoài việc tá túc qua đêm, khách phương xa còn được anh chị chủ nhà đải cho một nồi phở nóng hổi, đầy đủ gia vị, rau, tương, hành ngò.

Nhất ẩm nhất thực giai do tiền định. Năm 1974 tôi đã đến Tây Bá Linh theo học một lớp tu nghiệp về báo chí trong gần bốn tháng; nhớ nước mắm và phở vô kể. Nay thì hai thứ này chẳng còn lạ gì với thế giới năm châu. Phở gắn bó với lịch sử cận đại như hai mặt của đồng tiền. Ông Hồ Chí Minh về ngự ở khu Ba Đình thì phở bị thất truyền vì chế độ bao cấp và sự xuất hiện của “phở không người lái” kể từ Geneve 54. Nó chỉ được phục  hưng sau ngày bộ đội cụ Hồ tiến vô Sài gòn. Viếng Hà Nội năm 2006, hai lần ăn tôi thấy nó không bằng phở miền Nam hay ở hải ngoại. Có lẽ họ quen dùng quá nhiều bột ngọt.

 Không hàn gắn được

Ở Sài gòn phở đang ngon lành thì bị xuống cấp. Hương vị như trước chỉ còn là vang bóng một thời. Nghệ thuật nấu phở chính thống đã vượt biên rồi. Khi họ Mao toàn thắng hồi sau thập niên 40, muốn tìm thức ăn ngon của Tàu thì qua Hồng Kông, New York… Muốn thưởng thức mùi vị Sài gòn của VNCH thì viếng các khu phố người Việt ở Mỹ, Pháp, Canada. Vì thấy nhiều ông tây bà đầm xì xụp húp phở, các ông thầy bàn bèn tán loạn lên về nguồn gốc của phở: tây ”pot au feu” hay tàu “ngầu pín”" May là các sử gia Hà nôi chưa xí phần nói rằng nó có được là nhờ óc sáng tạo của ông Hồ khi nằm đọc sách Marx trong hang Pac Pó.

Sau màn phở, anh chị Thiện còn chu đáo pha cho trà và cà phê nữa. Một bửa ăn đậm đà màu sắc dân tộc! Trên xe đi Ba Lan có sáu người. Giáo sư Trương Bổn Tài, mới gặp trong chuyến đi này và tôi ở Mỹ. Còn lại bốn người ở Pháp; anh Phan văn Song tôi quen năm 2004 khi anh qua Mỹ họp ở vùng Maryland và anh Nguyễn văn Trần, Vũ Thư Hiên, chị Ca Dao. Chúng tôi nói đủ thứ đề tài; sôi nổi nhất là nhắc chuyện con cháu họ Lạc đi lạc. Giờ vui qua mau. Nằm thao thức chờ sáng. Nước Đức chia hai; cũng có quân Mỹ đóng. Họ thống nhất không tốn một viên đạn.Còn mình đánh nhau sặc máu. Bom đạn tơi bời. Dân mình thiệt là hết thuốc chữa. 

Để xóa lằn ranh, dân Đức chỉ cần đập bể mấy viên gạch. Ngày 9/11/1989 bức tường Berlin, được chính quyền Cọng Sản dựng lên 28 năm trước, nhằm chặn những người muốn chạy bỏ thiên đường của mình, bị giật sập. Sau đó dân Đông Đức sống nhờ vào sự trợ giúp hào phóng của kẻ thắng ở phía Tây; đã được viện trợ đến 2.100 tỷ đô la tính từ năm tái thống nhất. Đã thế, việc xây dựng lại phần đất phía Đông vẫn là ưu tiên hàng đầu, khiến nhiều người dân phía Tây thường nói đùa với nhau rằng Đông Đức là “một gánh nặng không thể chối bỏ được”.

Còn ở Việt Nam, miền Bắc là “một gánh nặng không thể chối bỏ được” cho dân thua trận. “Miền Nam là con ở để bọn chủ miền Bắc nắm đầu” hay “Bất cứ thằng dốt nào vào Nam hay từ trong khu chui ra cũng đều làm quan hết. Chúng cướp nhà của dân để ở, vơ vét của cải dân Nam và chở ra Bắc cho gia đình, họ hàng”. Đó là những đoạn trích trong X-café VN. Năm 1976 tôi thấy từng đoàn quân xa trên quốc lộ 1, chở chiến lợi phẩm về Bắc. Ác nhất là xét lý lịch. Rất nhiều mầm non bị thất học. Thay vì “Người trong một nước phải thương nhau cùng”, thực dân Cọng Sản lại chủ trương “Người trong một nước đì nhau tới cùng” hơn cả thời Pháp thuộc.

Nói cuộc chiến là vì “Độc Lập, Thống Nhất, Chống Mỹ Cưú Nước, Giải phóng miền Nam”, nhưng thực chất họ Hồ chỉ nhằm đưa cả nước vào quỷ đạo Cọng Sản. Khẩu hiệu đầy tính Việt gian: “Yêu Nước Là Yêu Xã Hội Chủ Nghiã” từ đó mà ra. Họ xử dụng phương pháp đấu tranh bằng bạo lực cách mạng, không từ nan bất cứ phương tiện khủng bố nào để đạt được cứu cánh. Nhà văn Dương Thu Hương, từng “xẻ dọc Trường Sơn đi cưú nước” hiện sinh sống ở Pháp gọi “cuộc chiến tranh này là cuộc chiến ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc”. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, sinh năm 1976, quê vùng Mũi Cà Mau thì cho rằng nó đã gây ra “những vết thương mãi mãi không hàn gắn được”.

Con đường tình ái

Hôm sau dậy trễ. Tôi được anh chị chủ nhà cho dằn bụng với phở. Vậy mới hết sẩy. Sau đó, cả đoàn rời Berlin đi Ba Lan, dự Họp Mặt Dân Chủ năm 2007, tổ chức tại một địa điểm tĩnh mịch cạnh bờ hồ cách Varsaw khoảng 40 cây số. Tuy khác nhau trong xã hội,  nhưng chúng tôi đều có một điều chung cùng là mong muốn Việt Nam phồn thịnh, tự do, dân chủ và công bằng. Con lộ dẫn vào thủ đô xứ cựu Cọng Sản được gọi là con đường tình ái vì có nhiều kiều nữ vẫy tay xin quá giang. Dọc hai bên có nhiều căn nhà đề bảng cho thuê ngủ qua đêm. Xe chạy chao đảo, xàng qua, xàng lại thay vì nhồi xóc.

Suốt 600 cây số đường trừơng không có trạm nghỉ. Muốn thư giản thì phải chơi trò chun vô bụi. Đàn ông bên này. Đàn bà bên kia. Hồi năm 2006 tôi đi từ Moscova đến Saint Peterberg cũng vậy. Đi xa mới biết các tiện ích công cộng cầu tiêu, cầu tiểu ở Mỹ thoải mái; không mất đồng xu cắc bạc nào. Ở Âu Châu khá sạch; mỗi lần muốn trút bầu tâm sư thì phải trả tiền. Nhờ có anh Vũ Thư Hiên từng sống ở Varsaw ba năm nên xe chạy thẳng đến quán Kantyna ở Quảng Trường Hiến Pháp. Tại quán, Anh Lê Diễn Đức, một trong những cây bút trụ cốt của Đàn Chim Việt đã cho chúng tôi thưởng thức các món đặc sản Ba Lan, đặc biệt là dưa cải, xúc xích thịt heo. Dân Ba Lan uống bia với cái cốc một lít.

Quá nửa đêm mới về nơi họp mặt nằm giữa một rừng thông bên cạnh một hồ lớn. Anh Trần Ngọc Thành bị đánh thức để phân phối chỗ ngủ cho chúng tôi. Ba mươi lăm người từ Hoa kỳ, Pháp, Đức, Tiệp, Tân Tây Lan đã tham gia tĩnh hội trong ba ngày.Đây là một dịp kết thân, trao đổi về tiến trình chuyển hóa Việt Nam từ độc tài sang dân chủ chính thống. Thời gian ngắn nhưng cũng cho tôi thấy dân Ba Lan hiếu khách và thức ăn Ba Lan không khác gì ở Pháp lắm. Ngày về Paris có anh chị Đoàn Viết Hoạt, Trần thị Thức thế chỗ nhà văn Vũ Thư Hiên ở laị. Tuy còn mang thương tích tai nạn xe cách đó mấy tháng, Anh Phan văn Song vẫn tiếp tục ôm tay lái vì không ai trong chúng tôi quen xử dụng xe sang số.

Tôi định ở lại Berlin vài ngày rồi đi Dortmund gặp hai vợ chồng Minh Hằng - Thế Giang, tác giả cuốn Thằng Người Có Đuôi. Nhưng mưu sự tại nhân, trật sự tại lạc. Xe vào Berlin vì trời tối, chạy lộn bậy. Càng tìm điạ chỉ càng lạc dữ. Cả đoàn quyết định mua cái gì ăn trước khi thẳng về Paris. Đêm hôm khuya khoắc, hàng quán đều đóng. Loanh quanh rồi cũng có một tiệm còn để đèn. Khi vô toilet, tôi tình cờ nhấn một nút, vành cầu tiêu tù từ xoay tròn, méo lại. Đồng thời, một bàn chải nhỏ nhô ra, chùi chỗ ngồi. Lúc đầu tôi tưởng vì ngái ngủ trông gà hoá quốc. Thử một lần nữa, nhìn kỹ và nhớ là có đọc đâu đó về loại cầu tiêu tân thời này. Nước Đức văn minh thật.

Ra xa lộ xe phóng ào ào. Âu Châu không có giới hạn tốc độ. Hai lần đi qua chỉ thấy Berlin về đêm khi xe chạy lòng vòng. Kỳ này không có duyên, đành hẹn dịp khác.Thành phố nhiều cây, có đường dành riêng cho xe đạp. Tiến sĩ Luật Phan Văn Song, làm tài xế khỏe thiệt. Lái phon phon đi và về 4,000 cây số mà vẫn tỉnh rụi. Anh còn kể chuyện vui ở tù Việt Cọng nữa. Đến nhà luật sư Trần Thanh Hiệp thì trời đã chiều, mới hay anh chị Huỳnh Kim Thiên- Mỹ Lâm tối qua có nấu một nồi bánh canh giò heo chờ phái đoàn.Hụt ăn, tôi tiếc hùi hụi. Anh du học trước 75, kỹ sư công nghệ cho hảng Siemen; còn chị Bác sĩ vượt biên làm việc ở bệnh viện Berlin. 

 Hồ Chí Minh và Unesco

Trong chuyến đi đường xa này, tôi được quen anh Nguyễn văn Trần, một trong những người tham gia vận động để Unesco tháng 5/1990 quyết định không thi hành tổ chức và không can dự bất cứ hành động nào để vinh danh Hồ Chí Minh tại trụ sở Unesco Paris. Sau này hồ sơ về Việt Nam của anh bị bác với lời phê “Đơn xin về nước của ông không được trong nước chấp thuận”. Năm 1987 khi nhà báo Trần văn Ngô báo động cho cộng đồng ở Paris biết là Hà nội đang vận động Unesco kỹ niệm “100 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh danh nhân thế giới”. Người Việt quốc gia ở Paris liền họp để bàn cách chống lại. Ủy Ban Tố Cáo Tội Ác họ Hồ được thành lập và anh Nguyễn văn Trần làm Tồng Thư Ký.

Nổ lực tranh thủ có sự đóng góp và hành động tích cực của nhiều thành phần, nhiều cá nhân khắp nơi. Một phần cũng nhờ thời cơ thuận lợi: Tổng thư ký Unesco thân Hànội thất cử, biến động ở Đông Âu, bức tường Berlin sụp đổ, bộ mặt thực của các lãnh tụ Staline, Mao Trạch Đông, Ceaucescu, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh bị phơi trần, nên đạt được kết quả. Ông Giám Đốc Đông Nam Á Vụ Unesco xác nhận quyết định nói trên với anh Trần, có sự hiện diện của Trung Tướng Guy Simon, Chủ tịch Hội ANAI (Association Nationale des Anciens dIndochine). Anh Trần trước 75 là nhà giáo dạy Pháp văn. Sang Pháp anh lấy được bằng Tiến Sĩ Chính Trị Học.

Ấy vậy mà chuyện Unesco suy tôn họ Hồ là Danh Nhân Văn Hoá Thế Giới vẫn được in trong sách giáo khoa cấp 2 của Bộ Giáo Dục ở Việt Nam.và Viện Văn Học trong cuốn “Suy Nghĩ Mới về Nhật Ký Trong Tù và Nhật ký trong tù- Bản dịch trọn vẹn”, nhằm phản bác lại việc “Giáo Sư Lê Hữu Mục cho công bố tài liệu Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký”, cũng còn viết “Unesco tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh danh nhân văn hóa Hồ Chí  Minh”. Việt Nam có hai Viện: Viện Sử Học để cho ông anh cả Trần Huy Liệu đẻ ra Lê Văn Tám; còn Viện Văn Học thì phịa ra chuyện Unesco vinh danh Bác.

Trở lại Paris, tôi tá túc ở nhà Luật sư Hiệp và nhà anh Trần. Mãi đến sau này tôi mới biết anh Trần liên hệ nhiều trong việc “bôi nhọ hình ảnh Bác và ngăn cản Unesco tổ chức kỹ niệm ngày sinh ra Bác” như lời tố cáo của tác giả Văn Chấn trong tờ An Ninh Thế Giới xuất bản trong nước ngày 19/5/2000. Ông Hiệp tuy đã 82 tuổi nhưng giọng vẫn sang sảng. Ông là vua ta ba lô vì năm nào cũng xách cái lap top đi cùng khắp nước Mỹ để “vận động đổi mới tư duy chính trị cho Việt Nam. Và cũng là tiếp xúc, vận động, trao đổi, tìm phương thức mới cho đồng bào hải ngoại có thể làm gì cho sự dân chủ hóa tại Việt Nam”. 

 Trong khi nhà văn Võ Phiến qua bài “Theo Chân Một Món Ăn” đề nghị “tìm về lịch sử dân tộc bằng đầu lưỡi”; còn tôi thì tìm về kỹ niệm bằng cách thưởng thức các món ăn. Do đó, để ghi nhớ sâu đậm nơi chốn mình đến, tôi thường ăn các món đặc sản những nơi đó; vì các thứ chỉ-riêng-có-ở- một-điạ-phương tích lũy văn hóa của một vùng, một dân tộc. Tới Paris mà không ăn bánh mì kẹp nách hay ngồi trầm ngâm ở các quán cà phê viả hè là một thiếu sót lớn. Ngoài ra, thành phố này không chỉ là kinh đô của ánh sáng mà còn là trung tâm văn hóa ẩm thực của thế giới.

Cơm Tàu trên đất Tây                                   

Các món đặc sản không những cho thấy bản sắc của một xứ mà nó còn bảo tồn và gìn giữ nguồn gốc. Cuốn sách nấu ăn Di Sản Của Các Bà Mẹ Trong Trại Tập Trung Terezin (In Memorys Kitchen: A Legacy From The Women Of  Terezin)  bằng hai thứ tiếng Anh và Đức của nhà xuất bản Jason  Aronson, Inc là một xác tín cho điều này. Năm 1944 trong khi đói lạnh bị giam cầm nằm chờ chết, các bà mẹ Do Thái đã ghi lại các món ăn mà các bà ưu thích hầu lưu lại hậu thế. Hơn 50 năm sau con cháu các bà đã sưu tập lại và cho xuất bản có cả thủ bút của các bà nữa.          

Giáo sư Vũ Thiện Hân, trưởng một phân khoa ở Conservatoire nationale des Arts et Metiers và Luật sư Hiệp, một thành viên của nhóm Sáng Tạo, đã cho tôi một bữa ăn Tàu trên đất Tây, trong ngày đầu tiên ghé Paris kỳ này. Tôi thấy cơm Tàu ở Pháp và Mỹ chẳng có gì khác biệt. Không dầu mở lênh láng như cơm Tàu trên đất Tàu. Tô Phở ở quận 13 nhỏ hơn tô phở ở Mỹ nhưng vẫn lớn hơn tô phở ở Việt Nam. Đặc biệt, tôi được ăn một chầu phở do bạn tôi nấu ở nhà ông Trần Thanh Hiệp. Đó là phở Trần Công Sung, một cựu ký giả của Việt Tấn Xã, sống ở Paris từ năm 1968.  

Nhìn Trần Công Sung nấu phở và ông TrầnThanh Hiệp loay hoay với món bò kho thì phải nhận rằng cái bếp không còn là giang san riêng của quí bà nữa. Trong hơn một tuần ở Paris, tôi đã quen thuộc các tuyến của tàu điện ngầm nên đã thả rong cả ngày tới nhiều khu phố kinh đô ánh sáng. Một phần cũng nhờ có ông bạn Sung chở đi la cà nhiều nơi nên Paris hết còn xa lạ. Bệnh lè phè của nước Pháp thiệt khó chữa. Miệng chửi Mỹ nhưng khi bầu thì chọn ứng cử viên có cung cách bắt chước Mỹ. Hễ ông ta canh cải thì rũ nhau xuống đường ăn vạ, phản đối.

Nhân đi theo Luật sư Trần Thanh Hiệp, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt và Kỹ sư Huỳnh Hùng cháu bốn đời của Tổng Đốc Hoàng Diệu, đến viếng trụ sở Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới ở Paris và tiếp xúc với ông Vincent Brossel, đặc trách vùng Á châu và Thái Bình Dương của Tổ chức này, tôi thấy một bích chương lớn có hình Nông Đức Mạnh trong số 36 nhà độc tài trên thế giới. Họ được gọi là kẻ thù của báo giới. Năm 2006, Tổ Chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) đặt Việt Nam vào vị trí 155 trên 168 trong bảng xếp hạng hàng năm về tự do báo chí. Hà nội chỉ thị không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức.

Rời Âu Châu về Mỹ, tôi đi Houston dự lễ họp mặt của cựu hoc sinh Trung Thu (nhà tôi dạy trường này trước 75). Người Việt ở Cali hiện có khuynh hướng dọn về vùng cao bồi vì nhà rẻ, mức sinh hoạt dễ sống. Houston cũng là nơi duy nhất tiếng “Phở, phở, phở ngon đây” vang vang trên làn sóng điện. Sinh hoạt của 160,000 người Việt trong thành phố rất sinh động và đa dạng. Chỗ nào có buôn bán là có ăn uống, có mùi phở. Khi tôi đến Houston thì trời mưa tầm tả suốt cả tuần, gây nhiều cảnh lụt lội làm hư hại nhà cửa, đường sá, cầu cống trong khi miền Tây thì bị hạn hán nặng.

Người Đàn Bà Ngoại Hạng

Viếng Texas lần này, tôi không còn được ăn phở và các món ăn mà chị Trần thị Ngọc Loan nấu nữa vì chị đã qua đời năm 2002, thọ 62 tuổi vì bệnh nhưng phần lớn vì các vết thương hồi còn là sinh viên tái phát. Năm 1963 chị bị lựu đạn của Việt Cọng liệng trúng đầu trước khi nổ trong rạp hát Vĩnh Lợi gần chợ Bến Thành, cạnh nhà thương Đô Thành Saigon. Khủng bố Al-Qaida chỉ là học mót của CSVN. Giật mìn xe đò, ám sát, pháo kích vào trường học, thành phố, liệng chất nổ vào chỗ đông người, chợ búa, rạp hát đều đã xảy ra ở miền Nam trong cuộc nội chiến vừa qua. Chị là một người đàn bà ngoại hạng. Tuy thương tích đầy người, điếc và bị cưa hẳn một chân chị vẫn là trụ cột của gia đình.

Bạn tôi Lê Thái Hưng, cưu phóng viên Việt Tấn Xã và sĩ quan VNCH thường nói một cách tự hào với bạn bè “moa là thân cư thê”. Không có chị Ngọc Loan thì làm sao anh ra khỏi tù rồi vượt biên sang Mỹ, gầy dựng cơ nghiệp, con cái thành đạt được" Nhìn chị di chuyển tôi không hiểu làm sao chị có thể lặn lội vào tận trại tập trung, tìm cách hối lộ tên trại trưởng để “cỏng” ông bạn tôi ra" Rồi còn lo cuộc sống hằng ngày, móc nối đường dây. Trăm công ngàn việc đều do chị nghĩ ra. Bạn tôi chỉ là ông dám làm thôi. Hằng ngày, anh bạn Hưng đều ngồi cạnh bàn thờ, nói chuyện với chị như khi chị còn sống vậy. 

Trong một bữa ăn trưa tại quán Café Bistro Houston, tôi gặp lại em của một bạn đồng nghiệp Bình Minh. Jane Nga Dung Nguyễn, dược sĩ trước 1975, hiện là một chuyên viên tài chánh, thuế vụ, và đia ốc, cho biết rõ về cái chết của hai nhà báo Trần  Đại - Vũ thị Bình Minh và cháu nhỏ trên đường vượt biên. Chiếc thuyền bị dạt vào một đảo san hồ và bị vỡ. Một người đi cùng liều chết ôm mảnh gỗ cho trôi giạt; may được một thương thuyền vớt, mới kể lại cho gia đình biết rõ sự việc. Cô Nga Dung hiện có một chương trình trên đài phát thanh giải đáp thắc mắc về tài chánh cho thính gỉa. Rất ăn khách.

Dự buổi “Kỹ niệm 50 năm một thuở học trò” của cựu học sinh Trung Thu, tổ chức tại Houston, được đọc Đặc San Trung Thu, “có phấn trắng bảng đen, có những giờ ra chơi rộn rã tiếng cười, có những hàng Phương Vĩ nở đỏ rực trong sân trường, có những hàng quà thật quyến rũ mời gọi ngoài cổng trường” và nghe bản nhạc Ngày Xưa Hoàng Thị, thơ của Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc “Em tan trường về, Đường mưa nho nhỏ” tôi không khỏi chùng lòng nhớ đến một thời đã qua, một thời đã hết và nghĩ đến Saigon, tuy xa mà thật gần. 

Du lịch với Voyage Saigon viếng Bắc Âu, hè năm 2006, sau khi dạo mấy phố chính của Saint Peterburg ở Nga, thay vì theo các bạn vào một tiệm phở, tôi tới quán Literaturnoe Kafé (Cà phê Văn Học), nơi Pushkin ngày xưa thường đến đọc thơ, và cũng là nơi gặp gỡ của giới văn nghệ sĩ trước và sau cuộc Cách Mạng Bolshevik năm 1917. Lặng nghe tiếng dương cầm và vĩ cầm của hai nghệ sĩ, tôi nghĩ đến việc thành phố Leningrad đã lấy lại tên Saint Peterburg thì tên Saigon cũng phải trả lại cho dân miền Nam; vì “tục” nhất tên người. Khi đó, tô phở ở Givral đường Tự Do chắc sẽ ngon nhiều. Và “Saigon đẹp lắm! Saigòn ơi! Saigon ơi!” sẽ vang vang cùng khắp.

Văn hóa nhựt trình Saigon

Hiện nay, quán ''phở ông Mạnh' -chữ của nhà báo Bùi Tín- độc chiếm đất nước 60 năm, không bán phở mà chỉ bán đồ “xạo hết chỗ nói”. Rao giảng đạo đức ông Hồ đâu không biết mà chỉ thấy Vàng Anh và con tướng Công An trần truồng trên mạng. Ém nhẹm tin tức về Hoàng Sa,Trường Sa vì CSVN đã dâng cho Tàu trước khi xua quân lùa cả nước vào rọ đại đồng. Họ bóp mủi báoTuổi Trẻ, muốn nó thuần như nhà thơ Phùng Cung viết về con ngưa chúa Trịnh :“Tất cả những cảnh vật trước mắt nó đều nhỏ lại, và thẳng tắp. Nó nhìn cánh đồng, cánh đồng cũng chỉ là một đường thẳng. Rồi cây cỏ, núi đồi cho đến bầu trời xanh cũng chỉ thu lại là một đường thẳng..”.

Báo này lớn nhất nước, ấn hành gần nửa triệu số. Tờ báo đã qui tụ một số thanh niên có thiên chức truyền thông thời VNCH, đã thể hiện một phần nền văn hóa nhựt trình Saigon; đồng thời muốn nhen nhúm lại cái hào khí Nam Bộ - thấy việc bất bình chẳng tha- đã bị thui chột sau 30/4/75, qua phong cách làm tin bén nhạy, đã khiến cho Hà Nội thấy nguy cơ cho cơ chế toàn trị; nên cất chức hai Phó Tổng biên Tập Huỳnh Sơn Phước và Trương Quang Vĩnh để dễ quản lý. Nền văn hóa nhựt trình và tính hào sản của người miền Nam, không thể nào thích hợp với văn hoá tráo trở “cứu cánh biện minh cho phương tiện” của Cọng Sản Việt Nam được.

Tuổi Trẻ bị đì chảy máu. Chẳng có tổ chức nghề nghiệp nào ở Việt Nam xót lòng; giống như chuyện chủ quán phở tên Đức ở Thanh Xuân Hànội, đầy đọa em Bình 13 năm giữa chỗ đông người; ai cũng dững dưng. Lý do là các hội nhà văn, nhà báo được nhà nước nuôi; ông chủ chưa cởi trói cho chạy lăn quăn thì làm sao mở miệng" Trung Quốc có lập huyện Tam Sa, Tứ Sa gì đó ở đảo Hoàng sa là chuyện nhỏ. Nam Quan, Bản Giốc có mất hay ngư dân có bị bắn chết thì nhằm nhò gì. Chuyện lớn của đảng là tình hưũ nghị Hoa Việt; là thực thi tốt bốn điều răn: “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Giờ thì cháy nhà ra mặt chuột.Tam Sa lộ Việt gian; hiện rõ chân tướng của một nhóm người đã khai thác lòng yêu nước của dân Việt để phục vụ cho đế quốc đỏ. Họ Hồ thề vong mạng “đốt sạch dãy Trường Sơn”và hy sinh “cho đến người Việt Nam cuối cùng để cho chủ nghĩa xã hội toàn thắng trên đất nước ta và trên khắp thê giới”. Không có thùng nước lèo của phe Cọng; không núp dưới bóng hậu phương lớn Bắc Kinh, đảng CSVN làm sao dựng được cái quán Phở Mạnh để chuyên trị món phở  “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà thực chất là chép từ Lenine, Staline, Mao Trạch Đông"

Mặc cho biển Đông dậy sóng; xuống đường sôi nổi, hơn 600 tờ báo ở Viet Nam vẫn im lặng. Tất cả chỉ là con ngựa kéo xe, chỉ được thấy: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai''. Bà Tòng Thị Phóng, Bí thư Trung ương ĐCSVN trong chuyến thăm Trung Quốc hồi hạ tuần 12/07 không nghe bà đề cập gì về biên giới hay hải đảo mà chỉ biết bà nói, mong được học "kinh nghiệm mở cửa, xây dựng kinh tế thị trường với định hướng XHCN của Trung Quốc". Đối với người Cọng Sản đảng trước, nước sau./.

Phan Thanh Tâm - Saint Paul 1/08. 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.