Hôm nay,  

‘Phép lạ Trung Quốc’

22/05/200800:00:00(Xem: 16145)

...trước khi Trung Quốc có loạn thì các lân bang có thể sẽ bị khốn đốn...

Trận động đất hôm 12 vừa qua tại tỉnh Tứ Xuyên có phơi bày ra mặt trái của điều vẫn được gọi là "phép lạ kinh tế Trung Quốc" khi nhiều công thự mới xây đã bất ngờ sụp đổ và chôn vùi nhiều nạn nhân trong gạch vụn. Nhân dịp này, Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ cùng tìm hiểu tiếp mô thức kinh tế Trung Quốc qua cuộc trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình chuyên đề hàng tuần do Việt Long thực hiện.  

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tính đến Thứ Ba 20, tức là tám ngày sau trận động đất tại tỉnh Tứ Xuyên, con số nạn nhân ở Trung Quốc có thể lên tới bảy vạn người. Trong dịp này, người ta cũng chú ý đến một hiện tượng bên lề mà nhật báo The Guardian của Anh có tường thuật, là nhiều người dân Trung Quốc nổi giận và tự hỏi là vì sao rất nhiều cao ốc lại sụp đổ dễ dàng. Họ gọi đó là những "cao ốc đậu phụ", được xây dựng dưới tiêu chuẩn an toàn.

 Nhân dịp này, chúng tôi xin đề nghị là ta tiếp tục tìm hiểu về chiến lược kinh tế Trung Quốc xuyên qua một số hiện tượng tiêu cực đang được phơi bày.

 - Khi còn là Tổng lý Quốc vụ viện, 10 năm về trước, ông Chu Dung Cơ có công khai tố cáo một số hiện tượng tiêu cực là loại dự án ông gọi là "tàu hủ", tức là mềm oặt và dễ nát. Trận động đất vừa qua ở tỉnh Tứ Xuyên phơi bày ra điều ấy khi nhiều công thự mới xây trong vòng 10 năm đã sụp đổ - thí dụ như 6.900 lớp học đã chôn vùi nhiều học sinh trong gạch vụn - mà các cao ốc xây cất 20 năm trước ở trong thành phố không bị đổ nát đến như vậy. 

- Chúng ta biết là dân Tứ Xuyên trong đất liền ít cơ hội tiếp xúc với người ngoại quốc như dân Bắc Kinh hay Thượng Hải, vậy mà lần này họ bất mãn phân bua với các thông tín viên của tờ Guardian. Họ đã nhìn ra trách nhiệm rất lớn của chính quyền địa phương trong các dự án bị rút ruột. Vì vậy, lãnh đạo Trung Quốc sẽ không thể làm ngơ được nữa.

 - Tôi thiển nghĩ rằng về địa chất học thì sau cơn địa chấn Tứ Xuyên sẽ còn nhiều trận hậu chấn do sự va chạm giữa các địa tầng quanh vết nứt gọi là Long Môn Sơn của cao nguyên Thanh Tạng. Về kinh tế xã hội thì cơn địa chấn cũng để lại nhiều dư chấn do sự chuyển dịch từ mô thức phát triển của Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân thời trước qua mô thức của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo. Đấy cũng là một vết nứt Long Môn về chính trị.

 Hỏi: Ông vừa phân biệt hai mô thức hay hai thời kỳ phát triển kinh tế của Trung Quốc, từ mô thức của Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân qua mô thức của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ngày nay. Ông có thể giải thích được sự khác biệt ấy không"

 - Trong nhiều dịp trước, ta có nói tới một hiện tượng mà tôi gọi là "kinh tế xe đạp", như một cái xe đạp không lăn bánh là đổ. Đó là mô thức được Đặng Tiểu Bình đề xướng từ năm 1979 và được Giang Trạch Dân khai triển từ 1989 đến 2002. Mô thức ấy hàm nghĩa là nếu đạt tốc độ tăng trưởng từ 8% trở lên thì kinh tế có thể khắc phục được mọi thách đố, nói cho dễ hiểu là phải tăng trưởng bằng mọi giá thì sẽ vượt qua được cơn hiểm nghèo.

 - Thật ra, giải pháp ấy gây ra cả chục mâu thuẫn trong cơ cấu kinh tế xã hội. Bây giờ, các mâu thuẫn đó bắt đầu phát tác và phơi bày ra nhiều nguy cơ khủng hoảng mà thế hệ lãnh đạo Hồ Cẩm Đào hay Ôn Gia Bảo sẽ phải giải quyết sau khi lên cầm quyền từ Đại hội 16 vào năm 2002.

 Hỏi: Ông nói đến cả chục mâu thuẫn, đó là những mâu thuẫn gì, ông có thể chứng minh được không"

 - Năm năm sau khi lên lãnh đạo, thế hệ của các ông Hồ Ôn đã nhìn thấy mặt trái của mô thức được theo đuổi trong hai chục năm. Tại Đại hội 17 của đảng vào tháng 10 năm ngoái, họ công khai nói tới những bất toàn nghiêm trọng của kinh tế, xã hội và môi sinh lẫn cơ chế chính trị. Nếu theo dõi sự việc thì mình có thể thấy ra các mâu thuẫn sau đây trong mô thức Trung Quốc:

- Mâu thuẫn đầu tiên là mục tiêu tăng trưởng bằng mọi giá không kiểm điểm được nhiều phí tổn ngầm vì tài nguyên bị lạm thác, môi trường sinh sống bị hủy hoại. Đó là mâu thuẫn của tăng trưởng thiếu bền vững. Thứ hai là mâu thuẫn giữa các thành phần giàu và nghèo, giữa các tỉnh duyên hải và lục địa, giữa thành thị với nông thôn và khoảng cách ngày càng mở rộng về cả lợi tức lẫn nhận thức. Đó là tăng trưởng thiếu phẩm chất.

 - Thứ ba là mâu thuẫn giữa nỗ lực công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, xuyên qua việc quy hoạch tổng thể, với hậu quả đã thành rõ rệt là tranh chấp thậm chí động loạn bùng nổ về đất đai. Thứ tư là mâu thuẫn giữa mục tiêu xuất khẩu tối đa và bằng mọi giá với việc nâng cao sức tiêu thụ của thị trường nội địa xuyên qua các chính sách về ngoại hối và thuế khoá. Thứ năm là mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước có hiệu năng rất thấ[ với yêu cầu hội nhập vào thị trường quốc tế của thế giới văn minh.

 - Thứ sáu là mâu thuẫn giữa chủ trương thi hành việc ích quốc lợi dân của đảng với nạn tham nhũng và vai trò khuynh đảo của các đảng viên cán bộ, của các thế lực kinh tế ẩn núp trong đảng. Thứ bảy là mâu thuẫn giữa chính sách trung ương với sự chấp hành miễn cưỡng, lệch lạc thậm chí  là  cản trở của các đảng bộ địa phương. Thứ tám là mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng hài hòa với một cơ chế chính trị thiếu dân chủ và không theo thể chế liên bang để phân định quyền hạn. Và quan trọng nhất, mâu thuẫn ngày càng mở rộng giữa kinh tế thị trường tự do và hệ thống chính trị độc đoán. Hai mươi năm sau khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cách, việc cải cách ấy đã đi hết sự vận hành của nó và đòi hỏi nhiều thay đổi đầy rủi ro cho xứ này.

 Hỏi: Nói như vậy, ông có phủ nhận những thành tựu dù sao cũng là hiển nhiên của kinh tế Trung Quốc trong hơn hai chục năm qua hay không" Nếu như vậy, vì sao thế giới vẫn nói tới Trung Quốc như một nước tân hưng, một cường quốc kinh tế mới của thế giới"

 - Một trong những bài học vỡ lòng của kinh tế là người ta thường chỉ tính ra cái "được" mà không nhìn thấy cái "mất", chỉ làm toán cộng mà không khấu trừ những "ẩn phí", những phí tổn ngầm mà ai đó phải trả để có cái "được" ấy. Thế giới nói tới Trung Quốc như một quốc gia mới vượt qua Nhật Bản hai năm trước trong việc nhập khẩu năng lượng dầu khí và coi đó là một thành tích kinh tế. Thật ra, Trung Quốc có thể tiêu thụ chừng 10% sản lượng dầu khí của thế giới, gần 30% sắt thép hay hơn 40% xi măng của toàn cầu. Nhưng để làm gì" Thưa là để sản xuất ra một sản lượng chỉ bằng 6% sản lượng toàn cầu. Nếu so sánh cả hai vế xuất và nhập lượng, từ đầu vào dến đầu ra như thế, ta mới thấy đà tăng trưởng ấy không là phép lạ mà rất kém hiệu năng vì bị phao phí vào loại dự án thiếu giá trị kinh tế, bất công và gây thiệt hại môi sinh rất lớn. Sở dĩ như vậy là vì những mâu thuẫn giữa chính trị và kinh tế như mình vừa liệt kê ở trên.

 Hỏi: Nếu quả là như vậy, bây giờ, lãnh đạo Trung Quốc sẽ phải làm gì"

 - Ta đang thấy mâu thuẫn giữa mô thức Đặng-Giang với mô thức Hồ-Ôn được chuyển hoá thành mâu thuẫn giữa các đảng bộ địa phương với trung ương tại Bắc Kinh. Tôi xin giải thích cho rõ:

- Các đảng bộ địa phương thì cho rằng mô thức Đặng Tiểu Bình và Giang Trạch Dân vẫn có giá trị vì có lợi cho họ và tỏ vẻ dè dặt với mọi chủ trương xét lại. Họ viện cớ là nếu kinh tế không tăng trưởng mạnh thì thất nghiệp sẽ gây ra động loạn. Họ chủ trương là phải tiếp tục đạp xe cho mạnh để xe khỏi đổ, xã hội khỏi loạn. Nhất thời thì họ cũng có lý, nhưng lý do thật ra vẫn là tư lợi, và nếu cứ tiếp tục như vậy, môi sinh sẽ bị hủy hoại, hệ thống ngân hàng sẽ phá sản và doanh nghiệp nhà nước sẽ sụp đổ và cuối cùng thì nông dân sẽ nổi loạn.

 Hỏi: Trong khi ấy, lãnh đạo tại Trung ương có khi lại nghĩ khác"

 - Những người như Hồ Cẩm Đào, Ôn Gia Bảo hay Úy Kiện Hành thì muốn điều chỉnh lại những bất toàn hầu giải tỏa các mâu thuẫn mà họ đã thấy ra, và công khai nói tới. Thí dụ như ưu tiên phát triển các vùng nằm sâu trong lục địa hoặc tái phân lợi tức bằng thuế khoá và tín dụng cho dân cư nông thôn có thêm sức mua và cơ hội thăng tiến. Tuy nhiên, khi tiến hành việc đó họ lại gây mâu thuẫn với các đảng bộ địa phương. Nếu không cải sửa, xã hội Trung Quốc sẽ vỡ đôi, nhưng nếu cải sửa để hợp lý hoá tiến trình quyết định từ trung ương xuống thì đảng Cộng sản Trung Quốc có thể vỡ đôi. Vì vậy, họ cố luồn lách bằng thủ thuật chính trị như chống tham nhũng, và cả tài chánh ngân hàng như lập ra cơ chế quản lý tài sản công quyền, để mua chuộc hoặc triệt hạ các đảng bộ cứng đầu. Trận động đất Tứ Xuyên có thể là cơ hội đẩy mạnh việc chấn chỉnh đó khi trung ương sẽ cho điều tra và thi hành kỷ luật với những ai đã thực hiện loại dự án tầu hủ này.

 Hỏi: Để tạm tổng kết về những mặt trái của phép lạ kinh tế Trung Quốc, người ta có thể thấy ra những gì là tiêu biểu nhất"

 - Nếu căn cứ trên số tiêu thụ về điện năng thì tốc độ tăng trưởng thực tế của Trung Quốc chỉ ở khoảng từ 4,5% đến 6% chứ không thể là 10% như thiên hạ vẫn nói. Đây là ước tính của Giáo sư Lester Thurow của Đại học MIT trong một bài phân tích ngày 19 tháng Tám năm ngoái trên tờ New York Times. Và ông kết luận rằng Thế kỷ 21 chưa là Thế kỷ của Trung Quốc! Phải trăm năm nữa. Và nếu khấu trừ những hủy hoại môi sinh cho nhiều thế hệ nối tiếp bên trong tốc độ tăng trưởng hơn 10% của Trung Quốc thì đà tăng trưởng thực tế của xứ này chẳng còn là bao nhiêu.

 - Trong khi ấy - và đây là một mặt trái khác của tấm huy chương mạ kền này - hàng năm, có chừng 100 triệu dân vẫn từ thôn quê dạt vào thành phố để kiếm sống trong sự bất trắc và 800 triệu nông dân là thành phần thất vọng và bất mãn về phép lạ bề ngoài của Trung Quốc. Khi vận động nông thôn gây sức ép cho việc cải cách cơ chế chính trị của đảng tại địa phương, là điều họ đã làm từ vài năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh có thể đang đùa với lửa.

- Lịch sử xứ này có cho thấy rằng khi sợ nội loạn, họ phải khơi dậy tinh thần dân tộc thậm chí bài ngoại của người dân và chỉ ra kẻ thù bên ngoài là đối tượng phải đấu tranh. Nghĩa là trước khi Trung Quốc có loạn thì các lân bang có thể sẽ bị khốn đốn.

Hỏi: Câu hỏi cuối vẫn là một liên tưởng hay quy chiếu vào trường hợp Việt Nam. Thưa ông, lãnh đạo Hà Nội có nhìn thấy những chuyện ấy hay chưa"

 - Tôi trộm nghĩ rằng lãnh đạo Trung Quốc có tinh thần thực tiễn và yêu nước hơn lãnh đạo Việt Nam, và lãnh đạo Hà Nội cũng thế, họ yêu nước Trung Quốc hơn nước Việt Nam. Vì vậy, họ vẫn coi mô thức Trung Quốc là mẫu mực và lãnh đạo Bắc Kinh là điểm tựa.

- Trong khi ấy, Việt Nam cũng có rất nhiều chứng tật kinh tế không khác gì Trung Quốc, thí dụ như bất công xã hội, hủy hoại môi sinh, thổi lên bong bóng đầu cơ và bao che cho tham nhũng. Đáng lẽ, họ nên sớm nhìn ra vấn đề để không rơi vào vết xe đổ của nước láng giềng và giải quyết bài toán trước khi bị khủng hoảng, là điều chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội phân tích sau này.

Hỏi: Liệu vấn đề của Việt Nam có dễ giải quyết hơn vấn đề của Trung Quốc hay không"

- Có thể là dễ hơn vì Việt Nam đi sau và kích thước vấn đề cũng nhỏ hơn trong khi Trung Quốc gặp nan đề trầm trọng hơn trên quy mô lớn của cả một lục địa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.