Hôm nay,  

Bài Học Cho Á Châu

31/12/200900:00:00(Xem: 8407)

Bài Học Cho Á Châu

Nguyễn Xuân Nghĩa & Thanh Quang RFA

Hai trận suy trầm toàn cầu của 10 năm đầu thiên niên kỷ thứ ba...


Thiên niên kỷ thứ ba khởi đầu với một vụ khủng hoảng từ Đông Á lan ra thế giới vào năm 1999. Thập niên đầu của thiên niên kỷ lại đang kết thúc với vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 từ các xứ công nghiệp dội về Á Châu. Từ hai vụ khủng hoảng mở đầu và kết thúc một thập niên, các nước Á Châu có thể rút tỉa được bài học gì" Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu về những bài học đó qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Thanh Quang thực hiện sau đây.
Thanh Quang: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Chúng ta đang ở vào mấy ngày cuối của một năm đầy biến động kinh tế mà cũng là năm cuối của thập niên đầu của thiên niên kỷ thứ ba. Khi tổng kết, ta lại nhớ tới vụ biến động tài chính Đông Á năm 1997 khiến thế giới bị ảnh hưởng khi chuẩn bị chào đón thiên niên kỷ thứ ba. Thành ra, 10 năm vừa qua đã bắt đầu bằng một vụ khủng hoảng và kết thúc cũng bằng một vụ khủng hoảng! Vì vậy, chương trình cuối năm cần kiểm lại hiện tượng ấy và rút tỉa một số bài học cho các nước Á Châu. Ông nghĩ sao về đề nghị này"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thấy đây là ý kiến rất độc đáo vì có thể cho mình thấy chuỗi liên hệ giữa các biến cố ấy. Nhưng muốn hiểu ra thì có lẽ ta phải đi lại từ bối cảnh chung và một số định nghĩa để mình cùng thấu triệt về nội dung được đề cập.
Thanh Quang: Như vậy, xin ông bắt đầu bằng bối cảnh và định nghĩa.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trước hết, trong từng quốc gia thì sinh hoạt sản xuất thường có lúc thịnh lúc suy theo một chu kỳ người ta nghiệm thấy là cứ sáu bảy năm thì xảy ra một lần. Người ta gọi đó là hiện tượng "suy trầm" hay "recession" theo tiếng Anh. Hoa Kỳ định nghĩa suy trầm là khi đà tăng trưởng sút giảm hai quý liền, tức là trong sáu tháng liền, và định nghĩa này đã trở thành phổ biến, cũng được nhiều nước áp dụng.
- Thế rồi từ khi kinh tế các nước mở ra buôn bán với nhau ngày một tự do hơn và nhiều hơn, chủ yếu là từ 1990 trở về sau, nạn suy trầm ở xứ này có thể gây ảnh hưởng cho xứ khác, nặng nhẹ là tùy quân bình vĩ mô và mức độ hội nhập là buôn bán với nhau và bị ảnh hưởng nặng nhất là các nước đang có nhiều yếu kém nội tại. Khi đa số các nước đều bị suy trầm cùng lúc thì ta có nạn "suy trầm toàn cầu" hay "global recession" là chuyện đã xảy ra năm nay.
- Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF thì định nghĩa "suy trầm toàn cầu" là khi đà tăng trưởng bình quân của thế giới chỉ còn có tối đa là 3% một năm và nghiệm thấy là cứ tám năm hay 10 năm thế giới lại bị một lần. Thật ra, theo định nghĩa này thì từ 20 năm nay, thế giới bị bốn lần, vào các năm 1990-1993, 1998, 2001-2002 và 2008-2009. Bây giờ ta mới nói về vụ khủng hoảng tài chính Á Châu...
Thanh Quang: Thưa vâng, chúng ta nhớ lại vụ khủng hoảng khởi đi từ những biến động ngoại hối tại Thái Lan năm 1997 rồi lan khắp Đông Á để dẫn tới nạn suy trầm toàn cầu vào các năm 1998-1999, có phải như vậy không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Về bối cảnh thì thời ấy, cả thế giới đang ngợi ca sự kỳ diệu kinh tế Đông Á và sự xuất hiện của các nước "tân hưng" tức là mới phát triển. Thế rồi vụ khủng hoảng ngoại hối bùng nổ hôm mùng hai Tháng Bảy năm 1997 tại Thái Lan đã gây khủng hoảng kinh tế cho các nước Đông Á. Khi ấy, Trung Quốc chưa là sức mạnh kinh tế và chưa hội nhập như sau này. Việt Nam cũng vậy, mới chỉ bị ảnh hưởng gián tiếp thôi. Nói chung, vụ khủng hoảng làm các nước Đông Á tiêu hủy hết thành quả tăng trưởng tích tụ trong 10 năm trước và là một biến cố kinh tế và chính trị còn trầm trọng hơn những gì ta đang thấy ngày nay.
- Sau đó, cơn chấn động Đông Á lan qua các nước Brazil, Argentina, Liên bang Nga và dội về Hoa Kỳ. Giới đầu tư của các nước giầu bèn hạn chế cho các nước đang phát triển vay tiền, làm kinh tế thế giới bị suy trầm năm 1998. Hậu quả là cuối năm đó dầu thô tuột giá mất 75%, chỉ còn có tám đồng một thùng khiến các nước xuất khẩu dầu thô cũng bị thiệt hại. Nhưng ảnh hưởng sâu xa và bất ngờ của vụ khủng hoảng là góp phần dẫn tới nạn suy trầm năm 2001-2002.
Khủng hoảng Đông Á gây ra suy trầm
Thanh Quang: Như vậy thì trên đang ở trên đài vinh quang, các nước Á Châu bỗng lộn nhào và gây họa cho thế giới. Nhưng như ông vừa nói thì vụ khủng hoảng ấy còn góp phần dẫn tới nạn suy trầm năm 2001-2002, nghĩa là di hại tới ba bốn năm sau"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thời ấy, các nước bị hại nặng nhất là tại Á Châu, làm nhiều chính quyền bị đổ. Nhưng rút tỉa bài học đó, xứ nào cũng tìm cách hạ tỷ giá đồng bạc để xuất khẩu mạnh và cải cách cơ chế kinh tế để có lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn cho cả yêu cầu tài trợ nhập khẩu lẫn ứng phó với đột biến ngoại hối. Hậu quả - như diễn đàn này có dịp trình bày trong chương trình kỳ trước về mục tiêu của khối dự trữ ngoại tệ - là dự trữ ngoại tệ dồi dào của các nước đang phát triển lại chảy ngược về Hoa Kỳ để kiếm lời một cách an toàn.Công khố phiếu Mỹ được chiếu cố và tiền rẻ lại thổi lên bong bóng đầu tư trên thị trường Mỹ. Trước hết là bong bóng cổ phiếu. Khi trái bóng này bể năm 2000 - và dẫn tới suy trầm năm 2001-2002 - thì tiền lại chảy qua khu vực địa ốc thành trái bóng gia cư vừa bị bể năm 2006 và dẫn tới khủng hoảng tại Mỹ sau này.
Thanh Quang: Nhìn vậy thì ta thấy ra cái vòng liên hoàn nối kết các nền kinh tế với nhau và dường như sự ứng phó trong mỗi lần hoạn nạn lại có thể là cái nhân cho một vụ khủng hoảng khác!
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy cho nên từ chuyện Đông Á năm 1997 ta mới bước qua chuyện Hoa Kỳ năm 2007 và vụ suy trầm toàn cầu năm 2008-2009.


- Sau khi trái bóng cổ phiếu Mỹ bị bể năm 2000, kinh tế Hoa Kỳ bị suy trầm năm 2001. Nhưng đó là một vụ suy trầm có tám tháng dù xứ này bị khủng bố vào tháng Chín rồi bị vụ khủng hoảng của nhiều tập đoàn kinh doanh bất lương vào cuối năm đó. Từ vụ suy trầm 2001, người ta dự đoán là kinh tế Mỹ lại trôi vào một chu kỳ trì trệ khác sau sáu năm tăng trưởng, là tình hình năm 2007. Quả nhiên là cuối năm 2007, sản lượng kinh tế Mỹ có bị đình đọng và người ta chờ đợi một trận suy trầm có thể kéo dài cả năm, là mức bình quân đã từng thấy từ sau Thế chiến II.
- Nào ngờ vụ bể bóng gia cư năm 2006 lại dẫn tới sự sụp đổ của loại tín dụng thứ cấp - thiếu an toàn và đầy rủi ro - và gây ra khủng hoảng tài chính tại Mỹ vào tháng Chín năm ngoái. Thật ra, trái bóng gia cư và tín dụng thứ cấp cũng đã có sẵn tại nhiều nước Âu Châu nên khủng hoảng tại Mỹ mới gây chấn động trước tiên và nặng nhất cho Âu Châu và dẫn tới nạn suy trầm kinh tế Âu-Mỹ. Trong khi đó, Nhật chưa thoát khỏi cơn hoạn nạn từ vụ bể bóng cố phiếu và địa ốc năm 1990 vả bị suy trầm liên tục. Vì vậy, ba đầu máy kinh tế mạnh của nhóm công nghiệp hoá đều đình trệ cùng lúc khiến các nước đang phát triển, trong đó có các nước Á Châu, bị vạ lây, là vụ suy trầm toàn cầu 2008-2009. Nhưng là một trận suy trầm chứ không phải tổng khủng hoảng như người ta đã lo sợ.
- Thế rồi, bị suy trầm sớm nhất, là từ tháng 12 năm 2007, Hoa Kỳ đụng đáy trước nhất vào giữa năm 2009 và bắt đầu hồi phục, coi như đã trì trệ mất gần hai năm. Âu Châu bị sau nên bật dậy chậm hơn và với tốc độ chỉ bằng phân nửa Hoa Kỳ trong năm tới. Còn Nhật Bản thì chỉ có tốc độ bằng quãng một phần tư, tức là 0,7% một năm. Trong khi ấy, các nước đang phát triển sẽ bung lên mạnh nhất, với tốc độ bình quân khoảng 6,5%. Tính trung bình thì kinh tế thế giới năm tới có thể đạt mức tăng trưởng là 4%, tức là cao hơn mức tiêu chuẩn tối thiểu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế là 3%. Trong số các nước đang phát triển, dẫn đầu sẽ là các nước Á Châu.
Thanh Quang: Tổng kết lại thì 10 năm sau khi Á Châu bị khủng hoảng và gây suy trầm cho thế giới thì lại bị suy trầm do một vụ khủng hoảng phát sinh trước tiên từ các nước công nghiệp hoá Âu-Mỹ. Bây giờ, các nước Á Châu ngoài Nhật Bản đang hồi phục nhanh nhất có thể là từ kinh nghiệm của vụ khủng hoảng trước của họ" Và đấy là một bài học đầu tiên"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Bài học đầu tiên của các nước này là tư bản quốc tế có thể chảy vào mà cũng chảy ra rất nhanh nếu thấy bất trắc hoặc ít lời. Vì vậy, đa số đều thắt lưng buộc bụng để có một dự trữ ngoại tệ đủ dày hầu có thể ứng phó với các vụ chấn động ngoại hổi khi ngoại tệ tháo chạy ra ngoài. Nhưng dự trữ ngoại tệ ấy của họ cũng là tài sản đầu tư nên lại chảy ngược về Hoa Kỳ và thổi lên bong bóng tại Mỹ, như chúng ta vừa trình bày.
- Vì sao lại như vậy lại là một bài học khác: Vì sao không đầu tư ngay trong thị trường nội địa của mình" Một thí dụ là vì sao Trung Quốc có dự trữ ngoại tệ trị giá hơn 2.230 tỷ Mỹ kim mà không ưu tiên đầu tư vào các khu vực nội địa kém mở mang và đang cần đầu tư để phát triển" Câu trả lời là những ách tắc trong môi trường đầu tư của họ. Giải tỏa ách tắc về cơ chế và cải thiện môi trường đầu tư nội địa mới là bài học. Các nước đã bị khủng hoảng nặng nhất 10 năm trước đều có thấy ra vấn đề và đã cải cách.
- Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà lần này Nam Hàn và Indonesia lại ít bị hiệu ứng suy trầm hơn cả và nhờ vậy sẽ vọt lên nhanh nhất. Với đà tăng trưởng dự báo là 8% vào năm tới, Ấn Độ cũng thuộc trường hợp này mà ít ai nói tới. Việt Nam dường như chưa học được kinh nghiệm nên có dự trữ quá mỏng và vẫn để xảy ra nạn thất thoát tư bản. Ngoài ra, chế độ ngoại hối thiếu linh động còn khiến chính quyền bị nguy cơ khủng hoảng ngoại hối và lạm phát nặng.
Thanh Quang: Ngoài các bài học ấy, dường như các nước Á Châu cũng thấy là nếu có một hệ thống ngân hàng lành mạnh và nền móng vĩ mô quân bình thì khi hữu sự, chính quyền có khả năng mạnh tay ứng phó để kéo kinh tế ra khỏi suy trầm. Điều ấy có đúng không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy. Đa số các nước đều có quân bình ngân sách hoặc bội chi thấp, bình quân thì chỉ 0,1% Tổng sản lượng GDP trước vụ suy trầm, cho nên họ có thể tăng chi để kích cầu mà không bị khiếm hụt nặng. Bình quân thì chỉ chừng 4% và năm tới có thể giảm xuống 3,5%. So sánh thì trường hợp của Việt Nam rất đáng ngại vì bị bội chi cao gấp hai.
- Ngoài ra, hệ thống ngân hàng của họ cũng vững hơn và có hiệu năng cao hơn và lãi suất ngắn hạn có giảm từ 5,5% xuống 2,5% thì khối tiền tệ gia tăng cũng rót vào đúng nơi cần cứu. Nhờ vậy mà các biện pháp tiền tệ hay ngân sách đều có ngay kết quả và ngân sách quốc gia cũng có khả năng cấp cứu các ngân hàng bị nạn mà không gây hốt hoảng cho thị trường.
Thanh Quang: Câu hỏi cuối, thưa ông, đó là mức độ lệ thuộc vào xuất khẩu có thể là một nguyên do không, khiến các nước dễ bị suy trầm khi các thị trường xuất khẩu của họ bị thu hẹp vì khủng hoảng tại Mỹ, Âu Châu hay Nhật Bản"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như thế. Là một xứ rất nhỏ nên phải làm giàu nhờ thị trường bên ngoài, Singapore lệ thuộc vào xuất khẩu nhiều nhất nên bị hậu quả nặng nhất. Ta nhớ rằng xuất khẩu của xứ này lên tới 185% tồng sản lượng GDP. Ngược lại, Indonesia chỉ lệ thuộc có 27% nên bị nhẹ hơn cả. Trong bối cảnh ấy, ta nhớ lượng xuất khẩu lên tới 70% GDP của Việt Nam, còn cao hơn Thái Lan là 64%, nên vẫn phải trông cậy vào các thị trường Hoa Kỳ và Âu Châu.
- Bài học ở đây là phải cải tổ cơ chế để mở rộng thị trường nội địa và lấy đó làm sức đẩy. Đây là bài học quan trọng nhất của toàn bộ vụ khủng hoảng. Với dân số gần 90 triệu dân, tức là có thị trường nội địa đủ lớn, đáng lẽ Việt Nam phải học lấy bài học này mà sớm cải tổ.Vụ chấn động vừa rồi có thể là cơ hội rút tỉa kinh nghiệm sau nhiều năm hồ hởi với triển vọng hội nhập. Chủ yếu là phải lấy sức dân là chính và hội nhập mọi thành phần vào công cuộc phát triển thay vì cứ ngó ra ngoài và chỉ tìm mối lợi cho một thiểu số.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.