Hôm nay,  

Đổi Mới Công Đoàn

04/08/200500:00:00(Xem: 12382)
Trong tuần qua, một biến cố hy hữu đã xảy ra tại Hoa Kỳ, đó là sự rạn nứt trong hệ thống công đoàn của một quốc gia tư bản nhất thế giới.
Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu về hiện tượng này qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong tiết mục chuyên đề hàng tuần do Nguyễn An thực hiện.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tại đại hội hàng năm của công đoàn AFL-CIO tại Mỹ, hôm Thứ Hai tuần qua, một số công đoàn lớn không đến tham dự và dư luận nói đến sự vỡ đôi của phong trào công đoàn tại Hoa Kỳ. Chúng tôi xin đề nghị kỳ này ta sẽ đặc biệt đề cập đến hiện tượng ấy, đúng 50 năm sau khi phong trào này được thống nhất.
Thưa vâng, đây là một biến cố đáng chú ý vì tiêu biểu cho rất nhiều đổi thay trong quan hệ sản xuất và sinh hoạt của một quốc gia tiên tiến, nơi mà quyền lợi của lao động cũng được bảo vệ chặt chẽ nhất. Những gì đang xảy ra tại Hoa Kỳ có thể giúp nhiều thành phần xã hội tại Việt Nam nhìn ra mục tiêu, quyền lợi và chiến lược hành động của mình.

Nguyên nhân của sự rạn nứt

Hỏi: Để bắt đầu, xin ông trình bày cho thính giả rõ bối cảnh của vấn đề, trước khi ta nói đến nguyên nhân vì sao lại có sự rạn nứt trong phong trào công đoàn.
-- Sự rạn nứt hay sự đổi mới, hay chiều hướng canh tân tốt đẹp hơn, chúng ta chưa biết được. Nhưng, nói chung, khi có sự thay đổi công khai với những lý do trình bày minh bạch thì trước tiên, những người trong cuộc, ở đây là lực lượng lao động, có cơ hội phán xét và chọn lựa.
Về bối cảnh thì đúng 50 năm trước vào tuần này, hai công đoàn lớn nhất Hoa Kỳ đã thống hợp làm một, với tên kép là AFL-CIO. Đó là American Federation of Labor, Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ, và Congress of Industrial Organizations, Nghị hội các Cơ sở Công nghiệp. Như trong nhiều tiền lệ khác của lịch sử, đại thắng lợi cũng báo hiệu sự suy sụp. Vì kể từ đấy số công nhân viên tham gia nghiệp đoàn, cụ thể là ghi danh nộp tiền cho công đoàn, đã liên tục sút giảm, từ gần phần ba lực lượng lao động nay chỉ còn 12,5%. Riêng trong khu vực tư doanh, tỷ lệ suy sụp còn lớn hơn: trong 100 người, chưa có tới tám người là thành viên công đoàn.
Hỏi: Thưa ông, có những nguyên nhân gì giải thích hiện tượng ấy"
-- Nguyên nhân đầu tiên mà chính lãnh tụ các công đoàn có khi đã không nhìn ra, đó là họ đã đạt thắng lợi trong việc tranh đấu cho quyền lợi của người làm thuê, cho những ai phải đem bán sức lao động của mình để kiếm sống, đến độ mức sống mọi người đều được cải thiện, dù sinh hoạt công đoàn hay không.
Nguyên nhân thứ hai tiềm ẩn bên dưới là đà tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội trong nhiều thập niên liên tục sau chiến tranh chẳng những nâng cao mức sống và phẩm chất cuộc sống lẫn hệ thống luật lệ bảo vệ quyền lợi của mọi người mà còn đẩy nền kinh tế qua một trạng thái phát triển khác, cụ thể nhất là hiện tượng toàn cầu hóa hay tự do hóa trao đổi kinh tế.
Hiện tượng ấy thay đổi luôn quan hệ kinh tế giữa các nước và bên trong xã hội, giữa các thành phần dân chúng với nhau, giữa công dân và nhà nước, nhà tiêu thụ và nhà sản xuất, người làm thuê và làm chủ, giữa công đoàn với giới lãnh đạo chính trị.

Hiện tượng toàn cầu hóa

Hỏi: Đấy là những nguyên nhân chung, ông có thể nêu rõ vài thí dụ về hiện tượng ấy chăng"
-- Một thí dụ rõ nhất là phát triển kinh tế làm thay đổi cơ cấu sản xuất, khiến tỷ trọng đóng góp của khu vực chế biến công nghiệp sút giảm trong khi khu vực cung cấp dịch vụ lại gia tăng.
Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất ấy khiến nghiệp đoàn công nhân ngành thép mất 10 vạn đoàn viên từ năm 1998 đến nay trong khi số đoàn viên của một công đoàn cầm đầu phe "đổi mới", hay nổi loạn là Liên hiệp Quốc tế Nhân viên Dịch vụ - Service Employees International Union, SEIU - lại tăng gần gấp ba, từ 625.000 lên một triệu tám từ năm 1980 đến nay, trong đó có năm vạn nhân viên Canada vì, như danh xưng và xu hướng, đây là công đoàn quốc tế.
Nói chung, số đoàn viên trong khu vực chế biến sút giảm nặng, số đoàn viên là công chức thì ít thay đổi, số đoàn viên trong khu vực dịch cụ thì tăng, và lập trường của các thành phần ấy thay đổi dần với vị trí của họ, mà lãnh đạo không thỏa mãn nên mới có nổi loạn.

Sự rạn nứt trầm trọng

Hỏi: Bây giờ, ta bước qua phần mô tả sự rạn nứt ấy, thưa ông, nó trầm trọng đến mức nào"
-- Hai công đoàn mạnh nhất Liên đoàn AFL-CIO là SEIU và Huynh đệ Quốc tế Công nhân Vận tải là International Brotherhood of Teamsters đã bước ra với hơn ba triệu đoàn viên, kế tiếp là năm công đoàn khác. Tổng cộng họ đại diện cho sáu triệu trong tổng số 13 triệu đoàn viên. Có nói là phong trào bị vỡ đôi cũng không quá.
Đó là về nhân số; về tiền bạc chung góp thì hai công đoàn ly khai đóng góp 20 triệu cho ngân sách hoạt động của Liên đoàn AFL-CIO và họ không đồng ý với cách dùng tiền vận động của Liên đoàn. Quan trọng hơn cả, bảy công đoàn ly khai đã lập chương trình hành động chung gọi là "Thay đổi để Chiến thắng", Change to Win, gọi tắt là CTW.


Họ phê phán lãnh đạo của Liên đoàn là ngang ngược và thất bại trước đổi thay của xã hội, còn trở thành "máy phát tiền tự động cho đảng Dân chủ" trong khi ít phát triển thêm đoàn viên và đấu tranh cụ thể với doanh nghiệp cho quyền lợi của nghiệp đoàn.

Đóng góp tiền cho cuộc bầu cử

Hỏi: Ông phân tách thế nào về sự rạn nứt trầm trọng này"
-- Nhỏ là chuyện tranh chấp về lãnh đạo giữa Chủ tịch John Sweeney của Liên đoàn AFL-CIO với hai lãnh tụ Andrew Stern của công đoàn SEIU và James Hoffa của đoàn Teamsters. Từ khi lên cầm quyền năm 1995, ông Sweeney đã khiến Liên đoàn mất gần một triệu đoàn viên và năm đó là năm mà đảng Cộng hòa vừa đại thắng tại Hạ viện nên Liên đoàn có xu hướng tập trung vận động cho đảng Dân chủ, với quan niệm là đảng này mà lãnh đạo cả Hành pháp lẫn Lập pháp, trong lưỡng viện của Quốc hội, thì quyền lợi đoàn viên sẽ được bảo vệ.
Năm ngoái, Liên đoàn tung 44 triệu ủng hộ ứng viên Tổng thống của đảng Dân chủ và năm nay dự trù tăng chi đến 60 triệu cho yêu cầu vận động chính trị như vậy. Ngược lại, phe đổi mới đòi hỏi dồn ưu tiên vào việc phát triển số đoàn viên và tập trung tranh đấu trong các doanh nghiệp, thí dụ ở đây là hệ thống bán lẻ Wal-Mart, và trên một phạm vi quốc tế rộng lớn hơn.
Hỏi: Ông vừa đề cập đến một vấn đề có thể là rất lạ cho thính giả ở xa. Một công đoàn dồn tiền cho một phe trong bầu cử. Ông có thể giải thích rõ hơn hiện tượng này hay không"
-- Ngược với lối suy nghĩ của nhiều người, công đoàn tại Mỹ không là công cụ của nhà nước hay của một đảng và thực ra có rất nhiều quyền tự trị và độc lập trong khuôn khổ một liên đoàn.
Từ nhiều năm qua, Liên đoàn AFL-CIO có thể thiên về đảng Dân chủ hơn là đảng Cộng hòa nhưng vấn đề của họ là trong từng lãnh vực quan tâm, đảng nào đáp ứng quyền lợi đoàn viên thì họ ủng hộ.
Việc Tổng thống Bush tái đắc cử năm ngoái và đảng Cộng hòa đại thắng trong ba cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua, trong các năm 2000, 2002 và 2004, khiến họ phải cân nhắc lợi hại và một số công đoàn mới phản đối chủ trương của Liên đoàn là quá chú ý đến tác động vào chính trường và dồn hậu thuẫn cho đảng Dân chủ.

Quan niệm về chủ nghĩa Marx

Hỏi: Trước khi tìm hiểu về các chủ trương mới, xin ông nói thêm chi tiết mà nhiều người ở Việt Nam muốn rõ: công đoàn Mỹ quan niệm thế nào về đấu tranh giai cấp hay chủ nghĩa Marx"
-- Hơn trăm năm trước, lãnh tụ nghiệp đoàn tại Mỹ thực sự là công nhân tự phát đấu tranh cho quyền lợi công nhân, và họ có thể có cảm tình với lý luận của Marx, như trường hợp của một lãnh tụ nổi tiếng là Samuel Gompers, là công nhân vấn thuốc trong một hãng làm xì gà.
Nhưng, họ là dân lao động, gọi là thành phần áo lam, họ nghĩ đến việc thiết thực của tình liên đới và quyền lợi công đoàn, chứ không là thành phần trung lưu tư sản muốn trừu tượng làm cách mạng vô sản hay cải tạo cả xã hội để cải thiện cuộc sống công nhân. Hai lãnh tụ nổi tiếng của Liên đoàn AFL-CIO là Georges Meany - xuất thân là thợ ống nước - rồi Lane Kirkland còn là những khuôn mặt chống cộng, vì cho rằng quyền lợi công nhân bị các chế độ cộng sản chà đạp. Cũng vì tình liên đới thiết thực, ông Kirkland này đã tích cực vận động đoàn viên Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh của công đoàn Đoàn kết Ba Lan cách đây hơn hai chục năm.
Ngày nay, nhiều lãnh tụ nghiệp đoàn Mỹ có thể là dân có học, đấu tranh chuyên nghiệp về chính trị, tả khuynh nhưng xa dần vấn đề quyền lợi thiết thực của công nhân nên mới có vụ nổi loạn chúng ta đang thấy.

Ảnh hưởng và hậu quả

Hỏi: Trở lại xu hướng đang đòi canh tân nghiệp đoàn tại Mỹ, ông nghĩ sao về ảnh hưởng và hậu quả của biến cố này"
-- Đây là thất lợi lớn cho đảng Dân chủ vì sự ủng hộ của công đoàn, như tiền tranh cử và nhân sự đi vận động, hết là một lợi thế đương nhiên. Người ta sẽ thấy ngay điều ấy trong năm tới là một năm tranh cử bán phần.
Nhìn xa hơn, chiến lược công đoàn từ nay sẽ bớt tập trung vào việc tác động vào chính quyền và chính sách, và cả hai đảng Cộng hòa lẫn Dân chủ sẽ phải thi đua để thỏa mãn hai xu hướng công đoàn đang cạnh tranh với nhau, nên chưa chắc là đảng Cộng hòa sẽ đương nhiên có lợi.
Thứ nữa, xu hướng toàn cầu hóa, hạ thấp chướng ngại về ngoại thương và phát triển kinh tế thị trường là tất yếu, không thể đảo ngược, nên Hoa Kỳ cũng phải thay đổi và công đoàn mất dần ưu thế đã có. Vì vậy, họ phải yểm trợ công nhân viên tự cải tiến và thăng tiến tay nghề theo trào lưu mới. Khuynh hướng bảo hộ mậu dịch, chống toàn cầu hóa, chống các doanh nghiệp đặt làm gia công ở nước ngoài cũng mất khí thế và điều ấy thực ra có lợi cho doanh nghiệp và công nhân viên Việt Nam trong mối quan hệ mậu dịch với Mỹ.
Trong lãnh vực nghiệp đoàn thực tế, công đoàn sẽ phải đi theo trào lưu tản quyền, bớt lệ thuộc vào một bộ máy lãnh đạo thống nhất và vào cách vận động tập trung vào chính sách của nhà nước mà, để đạt những thỏa thuận có lợi cho đoàn viên, họ sẽ đấu tranh cụ thể với từng doanh nghiệp, từng ngành nghề, với các cổ đông và chủ đầu tư, và đấu tranh trên cả phương vị quốc tế vì doanh nghiệp nay đã quốc tế hoá. Điều ấy sẽ ảnh hưởng đến nhiều xứ khác chứ không riêng gì cho giới chính trị Mỹ. Và điều ấy thực ra cũng có lợi cho giới tiêu thụ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.