Hôm nay,  

Đô La Xuống - Dầu Thô Lên

14/11/200700:00:00(Xem: 12859)

...Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại hoàn toàn nhập khẩu xăng dầu...

Tuần qua, dầu thô đã mấp mé 100 Mỹ kim một thùng trong khi tiền Mỹ lại sụt tới mức thấp nhất so với đồng Euro kể từ khi đồng tiền này xuất hiện đầu năm 1999. Vì vậy, nhiều người đã nói tới ngày tàn của đồng Mỹ kim và rằng các nước nên giảm tỷ trọng của đô la trong dự trữ ngoại tệ của mình. Điễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu vấn đề phức tạp này trong phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa, do Việt Long thực hiện sau đây...

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tuần qua, giá dầu thô trên thế giới đã có lúc mấp mé 100 Mỹ kim một thùng trong khi giá đô la lại sụt tới mức thấp nhất so với Euro Âu châu, và nói chung tuột giá so với nhiều ngoại tệ lớn khác trên thế giới. Biến động ấy khiến nhiều người cho rằng không nên giữ tiền Mỹ trong túi vì là một loại tài sản mất giá. Nhìn từ giác độ của các chính quyền, người ta cũng nói đến việc nên bán bớt đô la Mỹ trong khối dự trữ ngoại tệ của quốc gia, là điều có người đã đề nghị với Chính quyền Việt Nam và hiển nhiên là Ngân hàng Nhà nước tại Việt Nam cũng rất quan tâm.

Vì vậy, Ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là trong chương trình chuyên đề kỳ này, ta sẽ tìm hiểu về biến động của giá dầu và của đồng đô la, và về ảnh hưởng của chúng đối với các nước. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi, vì sao dầu thô lên giá, tiền Mỹ xuống giá"

Thưa ông, dầu thô lên giá chủ yếu vì chênh lệch cung cầu khi số cầu về năng lượng của các nước tăng đáng kể do đà tăng trưởng của kinh tế thế giới. Trong cảnh căng thẳng ấy, một số biến cố an ninh, trước tiên là vụ khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ liên quan đến sắc dân Kurd tại miền Bắc xứ Iraq, rồi màn đấu trí gay gắt giữa Hoa Kỳ và các nước Âu châu với Iran, cũng khiến người ta lo sợ xung đột sẽ bùng nổ. Thêm vào đó, nhiều tổ hợp đầu tư tài chính lại đầu tư mạnh vào việc mua bán dầu thô và có ảnh hưởng khá lớn trong việc đấy giá dầu thô. Tuy nhiên, và đây là điều đáng chú ý hơn cả, tình trạng ấy không thể kéo dài. Khi xăng dầu đắt đỏ làm kinh tế suy trầm thì số cầu sẽ giảm, mà khi số cầu sút giảm thì giá sẽ sụt theo tỷ lệ còn mạnh hơn nữa. Tất cả vấn đề vì vậy tùy thuộc vào viễn ảnh gần hay xa mà thôi, cho nên ta cần hết sức thận trọng khi muốn tiên đoán giá cả.

Hỏi: Trước khi nói sang vấn đề Mỹ kim, xin hỏi thêm về điều ông vừa nói: vì quy luật cung cầu ấy, khi dầu khí là tài nguyên có hạn mà yêu cầu về năng lượng của loài người chỉ tăng thì về dài, giá dầu thô tất nhiên sẽ chỉ có tăng thôi, chứ liệu có thể giảm không"

Tôi thiển nghĩ rằng trong vòng trăm năm nữa thì dầu khí vẫn là một nguồn năng lượng quan trọng của nhân loại, trong khi vẫn bị thay thế dần bởi các nguồn năng lượng khác, mà giá dầu càng tăng càng khiến loài người phải tìm ra giải pháp thay thế. Thứ hai, cho tới nay, loài người vẫn tiếp tục khám phá thêm nhiều túi dầu khác, gần đây nhất là trường hợp được Brazil thông báo hôm Thứ Năm mùng tám vừa rồi, với một túi dầu ngoài khơi sẽ nâng trữ lượng dầu thô của xứ này thêm 40%. Trong khi ấy, ta cũng không nên quên rằng trong hoàn cảnh sản xuất ngày nay của loài người, khi dầu thô xê xích ở mức 60 đến 80 đồng một thùng là coi như đụng đỉnh vì có thể làm sản xuất suy thoái vì quá đắt.

Trong lịch sử, năm 1981 là khi dầu thô đã lên tới mức đắt nhất vì vụ khủng hoảng tại Iran, tương đương với chừng 102 đến 107 đồng một thùng của ngày nay. Ngày nay, chúng ta đang mấp mé kỷ lục đó và giá có thể sẽ sụt. Mà khi sụt giá thì sụt mạnh như ta đã thấy sau vụ khủng hoảng Đông Á cách đây 10 năm. Vì vậy, tôi trộm nghĩ là mình nên trận trọng vì sẽ thấy nhiều biến động giá cả khá đột ngột trong tương lai một hai quý sắp tới, từ ba đến sáu tháng sắp tới.

Hỏi: Bây giờ, bước qua chuyện đô la, vì sao đô la Mỹ lại sụt giá mạnh như vậy"

Nói chung, tiền Mỹ mất giá khá đều đặn từ hơn hai năm qua chủ yếu là vì Hoa Kỳ bị hai nạn khiếm hụt song hành, là bội chi ngân sách và nhập siêu, tức là ngân sách chi nhiều hơn thu và kinh tế nhập nhiều hơn xuất khẩu. Hiện tượng sụt giá ấy là việc điều chỉnh tự nhiên và cũng cần thiết để tái lập lại quân bình và sự thật thì cả hai mức khiếm hụt ấy đều đã giảm chứ không tăng, cho nên về dài thì hiện tượng tuột giá sẽ phải chậm lại.

Tuy nhiên, và đây là điều đáng chú ý khác về thời cơ: kinh tế Mỹ vừa bị vụ khủng hoảng trong thị trường tín dụng gia cư loại thứ cấp, gọi là sub-prime, với hậu quả lây lan qua cả thị trường tín dụng và trái phiếu. Vì vậy mà Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã phải hạ lãi suất để cứu nguy và lãi suất giảm càng khiến tiền Mỹ hết hấp dẫn.

Thế rồi, Thứ Tư mùng bảy vừa qua, ông Thành Tư Nguy, Phó Chủ tịch kiêm Ủy viên ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã khiến các thị trường tài chính rúng động bán tháo Mỹ kim khi tuyên bố tại một hội nghị ở Bắc Kinh rằng Trung Quốc phải ứng phó với hiện tượng đô la mất giá bằng cách đổi Mỹ kim qua một số ngoại tệ khác. Ông này không có trách nhiệm lãnh đạo kinh tế nhưng cứ hay phát biểu theo lối bắn tiếng của Bắc Kinh, có khi chỉ để đánh lạc hướng giới đầu cơ ngoại tệ mà thôi nhưng cũng gây chấn động làm Mỹ kim rớt giá kỷ lục so với đồng Euro.

Tổng kết lại, ta có động lực kinh tế tài chính và cả động lực tâm lý, thậm chí chính trị nữa, khiến Mỹ kim sụt giá mạnh, và thật ra mạnh hơn cái mức bình hoà của cung cầu kinh tế.

Hỏi: Y như về trường hợp dầu thô, đồng Mỹ kim có thể còn tuột đến đâu nữa và trong khoảng bao lâu nữa thì mới đụng vào cái mức bình hoà như ông nói"

Không ai có thể biết về tương lai, nhưng Mỹ kim sụt giá quá mạnh - hoặc các ngoại tệ khác lên giá quá mạnh - thì ta không còn hiện tượng gọi là "điều chỉnh tự nhiên" của thị trường và các ngân hàng trung ương có thể sẽ phải nhảy vào can thiệp vì tiền Euro hay Yen Nhật mà lên giá thì đấy là vấn đề kinh tế cho Âu châu và Nhật Bản. Người ta có thể thấy trước điều ấy khi Tổng thống Pháp chính thức nêu vấn đề về sự yếu kém của Mỹ kim trong dịp ông thăm viếng Hoa Kỳ vào tuần qua.

Từ nay đến khi các nước trong khối G-7 của bảy nước công nghiệp hàng đầu trên thế giới có biện pháp can thiệp gọi là có phối hợp thì mình có thể dự đoán là Mỹ kim sẽ còn tuột dốc thêm, ít ra một quý nữa, thì hiện tượng điều chỉnh tự nhiên mới có thể tạm ngưng. Lúc ấy, có lẽ phải một đồng rưỡi mới ăn một Euro và môt đô la sẽ chỉ bằng 106-108 Yen Nhật. Dù sao, và đây là chuyện chính trong đề tài của chúng ta, đồng Mỹ kim sẽ vẫn còn đó và là một ngoại tệ chưa thể thay thế được.

Hỏi: Bây giờ, ta mới qua phần thứ hai của chương trình. Thưa ông, khi dầu thô lên giá và đô la sụt giá tới những mức mà ta thấy là mấp mé kỷ lục như vậy thì tình hình kinh tế các nước khác sẽ bị ảnh hưởng ra sao"

Tôi thiển nghĩ là ta có thể xét vấn đề này từ hai giác độ tùy hoàn cảnh là nước xuất khẩu hay nhập khẩu dầu thô. Sở dĩ phải nhìn chuyện ấy từ hai góc vì Việt Nam xuất khẩu dầu thô mà lại hoàn toàn nhập khẩu xăng dầu, nếu có lời chút ít nhờ dầu thô lên giá thì lại bị lỗ nặng khi xăng dầu nhập khẩu cứ tăng giá theo, cho đến cái ngày mà Việt Nam có thể lọc dầu cho nhu cầu nội địa mà khỏi phải nhập khẩu. Hiện tượng Dung Quất cho thấy cái ngày tự túc về năng lượng vẫn còn nằm rất xa trong tương lai và từ nay đến đó vẫn cần đô la để đầu tư vào công nghệ dầu khí và tinh chế xăng dầu.

Nói chung, khi có hiện tượng xoay ngược như ta đang phân tích - là dầu lên giá mà tiền Mỹ mất giá - các nước sản xuất dầu đều có nhu cầu dùng Mỹ kim thu được nhờ bán dầu để đầu tư vào các loại tài sản không là đô la - như ngoại tệ hay thương phẩm - để thu nhập của mình khỏi mất giá. Các nước không bán dầu cũng thế, các doanh nghiệp tài chính cũng vậy, và một loại thương phẩm mà họ có thể mua để phòng ngừa Mỹ kim mất giá chính là... dầu thô. Do đó mà Mỹ kim càng mất giá thì ngược lại dầu thô càng tăng giá.

Hỏi: Nhưng xin hỏi ông ngay một câu có khi cũng liên hệ tới Việt Nam: nếu mình gác qua một bên yếu tố dầu khí, khi là một quốc gia xuất khẩu thương phẩm hay hàng hoá chế biến, như Việt Nam hay Trung Quốc và nhiều xứ Á châu khác, thì tiền thu được bằng Mỹ kim sẽ bị ảnh hưởng ra sao"

Thật ra, ta vẫn rơi vào hoàn cảnh của loại quốc gia nhập khẩu dầu thô.

Khi bán hàng không phải là dầu khí mà là nông sản hay chế phẩm, như trường hợp Việt Nam, thì mình vẫn phải nhập khẩu xăng dầu chạy nhà máy và thanh toán bằng Mỹ kim. Mối lợi nhờ xuất khẩu rẻ hơn khi Mỹ kim sụt giá phải được trừ hao bởi hoá đơn xăng dầu. Một xứ có dự trữ ngoại tệ lớn như Trung Quốc cũng chỉ nói vậy thôi chứ chưa chắc đã dám bán tháo Mỹ kim vì biện pháp ấy càng khiến Mỹ kim sụt giá làm dự trữ ngoại tệ của họ càng hao hụt. Thí dụ như dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc hiện được ước lượng khoảng 1.400 tỷ Mỹ kim, trong đó có gần 900 tỷ là dưới dạng đô la Mỹ. Khi tiền Mỹ mất giá thì khoản tài sản 900 tỷ ấy cũng mất giá, mà Mỹ kim sụt giá thì xăng dầu Trung Quốc nhập khẩu sẽ lên giá. Vừa qua, họ đã phải nâng giá xăng dầu nội địa lên 10% vì lẽ đó. Hiệu ứng của dầu thô lên giá sẽ khiến lạm phát trở thành vấn đề nổi cộm trước khi người ta kịp mừng là Mỹ kim xuống giá.

Hỏi: Nhưng theo như phân tích ở trên của ông thì sự ngự trị của đồng Mỹ kim vẫn còn kéo dài hay sao"

Tính đến tháng Tám, dự trữ ngoại tệ của các nước trên thế giới lên tới 6.000 tỷ, cuối năm nay có thể vào khoảng 6.500 tỷ. Hiện nay, hai phần ba, khoảng 3.700 tỷ, nằm tại Á châu. Trong số này, trừ Nhật Bản có hơn 900 tỷ thì Trung Quốc và các nước Á châu chia nhau còn lại, khoảng một tỷ ba đến một tỷ tư. Các nước xuất khẩu dầu thô trong khối OPEC có chừng 360 tỷ, hơn Liên bang Nga chừng 50 tỷ. Quốc gia nào hay khối kinh tế nào trong các nước kể trên sẽ có đủ xương sống để cáng đáng chức năng đặc biệt của đồng Mỹ kim"

Người ta có thể vì chống Mỹ hay vì tinh thần quốc gia mà báo hiệu sự suy tàn của đồng đô la hay nhu cầu tìm ra một phương tiện giao hoán độc lập với Mỹ, nhưng đó là chuyện xa để nói cho hả. Đồng Euro và cả sức thống nhất về chính sách vẫn còn mong manh của Âu châu sẽ chưa thể thách thức hay thay thế được đồng Mỹ kim, hãy nhìn và vụ khủng hoảng đang xảy ra tại Belgique thì rõ. Mà có muốn tiến tới đó thì các nước sẽ phải trước tiên buông đô la mua tiền khác và lập tức gây ra biến động ngoại hối khiến mình lỗ vốn vì đô la mất giá.

Hỏi: Câu hỏi cuối của chúng tôi, ta sẽ trở lại hoàn cảnh xuất hay nhập khẩu dầu thô, để tìm ra cách xử trí của Việt Nam với khối dự trữ ngoại tệ của mình.

Khi Mỹ kim sụt giá, mãi lực nhờ bán dầu cũng sụt và lạm phát vì vậy sẽ tăng. Khi dầu thô lên giá, xăng dầu nhập khẩu cũng sẽ tăng và đấy lại là yếu tố lạm phát phụ trội. Việt Nam có thể lãnh hậu quả xấu từ cả hai đầu.

Bước sang vấn đề là nên giữ Mỹ kim nhiều hay ít trong dự trữ ngoại tệ của Việt Nam thì đây là chuyện lo bò trắng răng vì số dự trữ này vẫn còn quá ít, trong ý nghĩa là nếu có mua hay bán cũng chả làm thị trường quốc tế bị rúng động như trường hợp Trung Quốc.

Thứ hai, nếu Mỹ kim quá rẻ và quá thừa tại Việt Nam, như điều đã thấy từ vài tháng qua, thì đấy là một vấn đề về quản lý vĩ mô, chứ Việt Nam luôn luôn thiếu ngoại tệ để đầu tư. Và nếu quản lý không khéo thì ta vừa có lạm phát vừa thiếu ngân sách đầu tư trong khu vực công, về hạ tầng cơ sở cầu đường chẳng hạn.

Thứ ba, ta nên thực tế nhìn vào các loại chi thu về ngoại thương của Việt Nam, với gần 90% vẫn bằng Mỹ kim. Hai loại ngoại tệ mạnh khác là Euro Âu châu và Yen Nhật chỉ chiếm 10%. Nói ra thì dễ hiểu lầm, chứ Việt Nam chưa ra khỏi quỹ đạo Mỹ kim, và nhìn rộng hơn thì đô la Mỹ vẫn là một ngoại tệ thông dụng nhất, với tất cả những thăng trầm và bất trắc của nó.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.