Hôm nay,  

Về Thăm Trường Cũ

05/02/200800:00:00(Xem: 8103)

- Linh Mục Anphong Trần  Đức Phương

(Ngày xuân tưởng nhớ quê hương, ba miền gấm vóc chan hòa yêu thương!)

Thế là sau gần nủa thế kỷ tôi lại có dịp về thăm Nam Định, thành phố vô cùng thân thương của tôi vào buổi thiếu thời. Thành phố của Tú Xương, một nhân tài, một nhà thơ bất phùng thời, vừa khôi hài, vừa lãng mạn, và nhiều khi rất cay chua với thời cuộc đổi thay.

Bây giờ tôi vẫn còn nhớ tiếng hát ru con của mẹ tôi qua bài thơ của Tú Xương:

Sông kia rày đã nên đồng,

Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai,

Đêm nghe tiếng ếch bên tai,

Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò! ...

Thật ra tôi không sinh ra ở thành phố Nam Định, nhưng tại một làng thuộc tỉnh Nam Định, sát biên giới huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, gần làng Yên Đổ của thi hào Nguyễn Khuyến. Khi lớn lên tôi cũng hay được nghe má tôi và các cụ trong làng chuyền miệng nhau đọc các câu thơ thắm đượm tình quê hương và tình người, diễn tả cảnh đẹp tuyệt vời của miền quê êm đềm thuở ấy của Cụ Nguyễn Khuyến. Những bài đầu tiên tôi thuộc lòng là Ao thu lạnh lẽo nước trong veo ... và Khóc Dương Khuê.

Tôi đã sinh ra trong chiến tranh và lớn lên trong chiến tranh, và chiến tranh đã đưa đẩy gia đình tôi lưu lạc từ làng này sang làng khác. Các cụ hồi đó gọi là chạy loạn. Mãi sau này gia đình tôi mới lọt được về thành (tức là thành phố Nam Định).

Hồi đó Thành phố Nam Định có nhiều Nhà máy nổi tiếng như Nhà Máy Chai, Nhà Máy Sợi, Nhà Máy Chiếu ... và như thế cũng có nhiều công ăn vbiệc làm cho những người mới hồi cư như gia đình tôi.

Đối với bạn trẻ chúng tôi thời gian đó kể cũng được hưởng những ngày an bình để vui chơi bù lại những ngày sống thật sợ hãi, nơm nớp lo chạy Tây và hầu như ngày nào cũng nghe tiếng súng ca-nông hay mọt-chê nổ và tiếng đạn bắn vèo vèo lướt qua các hầm trú ẩn (hồi đó thường gọi là Tăng Xê) thật không còn thú vui nào của tuổi trẻ.

Rủ nhau đi tắm sông Hồng (Hồng Hà) chảy ven thành phố Nam Định là một trong những thú vui của tụi trẻ chúng tôi hồi đó. Riêng đối với chúng tôi là tụi trẻ con nhà có đạo thì thật không thể nào quên được những ngày đi Lễ đi Chầu và rước Kiệu tại Nhà Thờ lớn Nam Định, hay Nhà Thờ Khoái Đồng bên bờ hồ La-Két và gần trường Xanh Tôma (Saint Thomas).

Khi gia đình tôi tạm ổn định, mặc dầu vẫn cònh nghèo khổ, nhưng cha mẹ cũng quyết định cho tôi đi học lại. Lúc đó tại Nam Định có hai trường Trung học là trường công Nguyễn Khuyến và trường đạo Xanh Tôma, và vì tôi là con nhà có đạo nên dĩ nhiên ông bà gửi  tôi vào trường Xanh Tôma, lúc đó do các Cha dòng Đaminh đìều khiển và rất nổi tiếng. Giáo sư đa số là các Cha Đaminh, nhưng cũng có một vài giáo sư ngoài đời có đạo cũng như bên lương. Các học sinh toàn là con trai, có đạo cũng có, mà bên lương cũng có.

Sống tạm ổn định được vài ba năm, rồi cuộc chiến lan tràn vào thành phố, và năm 1954, gia đình tôi lại lưu lạc vào Miền Nam theo dòng người di cư vĩ đại thời đó, chạy trốn nạn Cộng Sản Vô Thần ... và thế là tôi xa mãi  mãi bao kỷ niệm thân thương của tuổi trẻ của thành phố Nam Định và ngôi trường Xanh Tôma thân thương. Không ngờ cuộc lưu lạc ấy cứ kéo dài mãi và sang đến tận Tân Thế Giới miền Đất Hứa, đất nước Hoa Kỳ ... Ôi Thánh ý Chúa thật là kỳ diệu không ai lường được.

Cho đến tận năm vừa qua ... vâng cho đến năm vừa qua cũng do một sự xếp đặt thật kỳ lạ của Chúa, tôi lại được trở về thăm lại Thành phố Nam Định thân thương thuở xưa...

Số là khi gia đình tôi di cư vào Miền Nam, gia đình người anh tôi đã ở lại để có người gìn giử của hương hỏa và mồ mả ông bà ... và may mắn thay, gia đình anh tôi lại có một người con trai được Ơn Chúa gọi làm Linh mục sau bao gian truân thử thách... Cháu tôi khi lớn lên phải bắt đi bộ đội lên chiến đấu trong cuộc chiến đấu chống bọn Trung Quốc bá quyền xâm lăng miền Việt Bắc!... Sau đó được phục viên và đi làm lại nhà máy sợi Nam Định... Năm nào cháu cũng nộp đơn Xin đi tu nhưng (cán bộ) địa phương tìm cách này hay cách khác từ chối... Mãi đến mấy năm trước đây, nhờ mấy người bạn thân chạy chọt qua thủ tục đầu tiên nên cháu cũng được cấp giấy lên Hà Nội để học tại Đại Chủng Viện... Sau nhiều năm khổ học (vì đã lớn tuổi) và tu luyện, cháu tôi mới được chịu chức Linh mục... Nhưng cũng chỉ được phép nhà nước vào phút chót, nên bà con ở xa chẳng ai kịp về dự ngày Đại Hồng phúc đó của Ông Cháu và của đại gia đình ... Cho đến năm vừa qua, chúng tôi mới có thể kéo về thăm lại quê hương, thăm lại bà con ruột thịt và Ông Cha Cháu bây giờ đã là một Cha Xứ coi luôn một vùng bảy tám Giáo Xứ, dù mới chịu chức vài ba năm...

Ôi, chỉ những ai trở lại quê hương nơi chôn nhau cắt rốn, sau bao năm xa cách, mới cảm nghiệm được lòng mình cảm động như thế nào, khi gặp lại bao nhiêu người thân thương đã nhiều năm xa cách. Nhìn lại bao nhiêu quang cảnh, nơi ăn chốn ở rất quen thuộc, thắm đượm bao kỷ niệm tuổi thiếu thời, mà nay đã có nhiều đổi thay.

***

Dù bận nhiều công việc, như phải thăm họ hàng nhiều nơi, viếng thăm giúp đỡ trại phong cùi ở ngoài Bắc, nhưng tôi cũng không thể bỏ qua không thăm viếng lại Nhà Thờ lớn Nam Định, Nhà Thờ Khoái Đồng và ngôi trường Xanh Tôma thân yêu thuở xưa... Nhà Thờ Nam Định vẫn đồ sộ với tháp chuông uy linh vươn lên bầu trời đẹp của thành phố, dù bên trong, bên ngoài đã rất cũ kỹ mà chưa có tiền để sửa sang lại. Công trường trước nhà thờ ngày xưa rất rộng, bây giờ đã bị thu nhỏ lại; tuy nhiên tượng Đức Mẹ vẫn còn đó và hàng ngày, nhất là ban tối vẫn có nhiều người kể cả bên lương đến cầu nguyện, và cũng có những đoàn giáo hữu già có, trẻ có, đến đọc kinh chung và hát thánh ca trước tượng Đức Mẹ.

Nhà thờ Khoái Đồng vẫn trong tình trạng quốc hữu hoá và phong tỏa nên chúng tôi không vào thăm được.

Trường Xanh Tôma bây giờ tất nhiên đã đổi chủ và có tên là Trường Nguyễn Khuyến.

Tôi đi với một người cháu rất quen thuộc với thành phố Nam Định để đến thăm trường. Chúng tôi đi bộ trên con đường ngày xưa tôi vẫn thường đi qua để đến trường... Từ phố Hàng Tiện bên cạnh Nhà Thờ lớn, để sang Phố Huế và đi theo một vài  dẫy phố nữa là tới trường. Trường vẫn nằm trong khuôn viên cũ, vẫn lối vào cổng cũ, tuy nhiên cổng và tường bao quanh đã cũ kỹ và đổ nát nhiều. Sân cỏ đằng trước không còn sạch và đẹp như xưa. Vào cổng, chúng tôi rẽ sang phía tay trái và đi thẳng đến chỗ Hang Đá Lộ Đức ngày xưa. Hang Đá vẫn còn, nhưng không còn tượng Đức Mẹ và chung quanh không còn đất rộng và đẹp như xưa, vì người ta đã làm nhà lấn sát vào ngay đàng sau Hang Đá. Đi tiếp vòng bên trái, chúng tôi đến cửa trường. Mọi sự vẫn còn nguyên như xưa, tuy đã rất cũ kỷ vì không được sửa sang; chỉ có tấm bảng lớn treo phía trước với tên Trường Nguyễn Khuyến là mới. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn còn đọc được dòng chử cũ kỹ École de Saint Thomas dAquain in nổi vào tường ở phía trên.

Chúng tôi đến  vào lúc các  em học sinh vừa ra chơi vào. Có một số người lớn và mấy em học sinh còn đang đứng nói chuyện phía trước. Tuy nhiên vì cháu tôi đã rất quen ở đây, nên chúng tôi cứ tự tiện đi vào không cần hỏi ai. Chúng tôi đi vòng tầng dưới, rồi tầng trên. Dù lúc nhỏ đã học ở đây vài ba năm, nhưng bây gìờ tôi mới để ý trường đã được xây thật khéo: có hàng hiên đi vòng chung quanh và các lớp học nằm quay ra chung quanh hàng hiên. Như vậy, di chuyển rất dể dàng và các lớp học được yên tĩnh dù khi gặp trời mưa bão, và gió thổi mạnh. Các cầu thang đều từ hành lang đi lên. Các lớp học vẫn như xưa, nhưng rất cũ kỹ vì chưa được sửa sang sau cả nửa thế kỷ. Nhà nguyện đã trở thành phòng họp. Tôi đi yên lặng bên người cháu mà không nói lời nào, tâm hồn như chùng xuống với bao ký ức năm xưa... và nhớ lại các Cha Giáo đã dạy ngày xưa... Lúc đó các Ngài còn thật trẻ trung và luôn vui vẻ, thân thương với học sinh chúng tôi dù thuộc tôn giáo nào. Các Cha  rất bình dân và dễ thương. Có nhiều Cha học rất cao; có Cha đi du học về... Bây gờ không biết các Ngài đang ở đâu, nhưng chắc chắn đã già lắm rồi, hoặc đã ra đi về Nhà Cha Trên Trời. Tôi nhớ đến một số Cha, như Cha B. Th., Cha Lê H.T., Cha Nguyễn Văn T. và đặc biệt Cha Nguyễn V. Th (người có viết văn và làm thơ) dạy Việt Văn. Đôi khi Cha dùng những bài viết hoặc bài thơ Cha sáng tác để đọc chính tả cho chúng tôi viết và khi chúng tôi hỏi Cha tác giả là ai, Cha nghiêm mặt lại và sau đó cười vui vẻ nói Lý Toét. Chúng tôi cũng có nhiều kỹ niệm vui với Cha Trần V. Th. Nghe nói Cha là con Nhà Quan đấy, nhưng vẫn bỏ mọi sự thế gian để đi tu... Ngài làm Giám thị nhưng không đánh cũng chẳng mắng chúng tôi bao giờ, mặc dầu luôn cầm cây thước kẻ bảng lớn có dáng rất oai vệ. Lúc đầu chúng tôi rất sợ, nhưng khi quen tính Cha, chúng tôi lại hay vui đùa với Cha và lúc đó Cha lại rất vui vẻ đùa lại với chúng tôi. Tôi quên tên một Cha còn trẻ, nghe nói học rất giỏi và có bằng cấp cao, Cha đến dạy một thời gian và đổi đi nơi khác; chúng tôi hỏi Cha sao bị đổi đi như vậy, thì các Cha nói: đi tu, dâng mình cho Chúa, thì luôn phải vâng phục ý Chúa qua Bề Trên mà....

Đứng từ cửa chính, nhìn trải khắp sân trường, tôi vẫn còn nhớ được những ngày vui đùa với các bạn trẻ, chạy nhãy khắp sân trường một cách thật hồn nhiên ngây thơ ... Nhớ những ngày lễ lớn, khi ra về, mỗi học sinh chúng tôi đi theo hàng hai ra tới cổng trường và mỗi người được phát cho một cây kem Cẩm Bình... Ôi thú vị làm sao... Tôi cũng còn nhớ lại, vào các buổi chiều, hình bóng các Cha dòng thánh thiện trong y phục trắng, có cỗ tràng hạt dài đeo ngang bên, đi dạo với nhau từng hai hay ba người, có khi như cùng đọc kinh, lần chuỗi chung thì phải... Ôi những hình ảnh thánh thiện đó vẫn còn in đậm trong tâm trí tôi...

***

Lúc ra về, chúng tôi lại đi lại vòng qua hang đá, tôi dừng lại và thầm dâng lời cầu nguyện cho quê hương, cho Giáo hội Việt Nam. Cầu nguyện cho các Cha Dòng năm xưa đã giảng dạy và nhất là yêu thương chúng tôi và giúp chúng tôi một mớ hành trang vào đời với nền trí thức căn bản, và nhất là với một tâm hồn rộng mở, thắm đượm tình người... Trong số đó, có những người đã học lên thành tài và làm các công việc trong chính phủ thời xưa. Cũng có người đã theo bước chân các Cha Dòng để dâng mình cho Chúa, đi tu và phục vụ Giáo hội và xã hội trong nhiều chức vụ khác nhau.

Trên đường đời vạn nẻo, các học sinh năm xưa của trường ngày nay đã tản mát đi khắp nơi trên thế giới; nhưng chắc không ai quên được ngôi trường cũ Xanh Tôma năm xưa và hình ảnh thân thương, thánh thiện của quý Cha đã sống, đã giảng dạy và yêu thương tại ngôi trường này... Chắc các Cha đó nếu còn sống, ngày nay đã đổi đi ở các tu viện các nơi... Dù ở đâu, xin Chúa cũng cho các Ngài được sống an bình và cầu nguyện cho đoàn con cái năm xưa.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.