Hôm nay,  

Tự Do Cho Tây Tạng

19/03/200700:00:00(Xem: 9902)

...Tôi có mặt tại quảng trường trước tu viện chính của Phật giáo Tây Tạng ở Dharamsala trước rừng người đang quỳ gối cầu kinh...

Mùa Xuân năm Kỷ Hợi, ngày 10 tháng Ba năm 1959, dân Tây Tạng tại thủ đô Lhasa đã nổi dậy chống lại cuộc xâm lăng của quân đội Trung Quốc và bị thảm sát. Ngày 17, vị lãnh đạo tinh thần và chính trị của xứ này phải nửa đêm rời Lhasa vượt núi vượt đèo qua Ấn Độ. Đấy là đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14 Tenzin Gyatso, mà những người theo Phật giáo Tây Tạng tin là hoá thân của Quán Thế Âm Bồ Tát, một hiện thân của lòng từ bi. Từ đó, ngài đã thành lập Chính phủ Tây Tạng Lưu vong tại thị trấn Dharamsala trong bang Himachal Pradesh bên Ấn Độ và quảng bá Phật giáo trên toàn thế giới.

Để kỷ niệm biến cố xảy ra đúng 48 năm trước, mùa Xuân Đinh Hợi năm nay, vào ngày 10 tháng Ba vừa qua, dân Tây Tạng tại Dharamsala đã có cuộc biểu tình nhắc nhở thế giới về hiện trạng thiếu tự do của người Tây Tạng ngay trên quê hương của họ, hiện vẫn bị Trung Quốc cai trị và đồng hoá.

Cộng tác viên của đài Á Châu Tự Do, kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa đã có mặt tại chỗ và tường trình lại về những sinh hoạt đấu tranh của người Tây Tạng tại thủ đô lưu vong của họ, ở Dharamsala. Sau đây là phần tường trình của ông gửi tới quý thính giả...

- NXN: Trong bài diễn văn đọc ngày 10 tháng Ba vừa qua dưới cơn mưa tầm tã tại Dharamsala để kỷ niệm 48 năm cuộc nổi dậy của dân chúng Tây Tạng ở thủ đô Lhasa, vị Thủ tướng cầm đầu Nội các Kashag của dân Tây Tạng đã kêu gọi dân chúng cùng cầu nguyện vào ngày 14 để hồi hướng công đức cho vị lãnh đạo của họ là đức Đạt Lai Lạt Ma được trường thọ và chuyển pháp luân để làm thay đổi tình hình cho Tây Tạng.

Tôi có mặt tại quảng trường trước tu viện chính của Phật giáo Tây Tạng ở Dharamsala trước rừng người đang quỳ gối cầu kinh. Tâm thành và ý chí của đám đông chung quanh khiến chúng ta phải rùng mình và kính phục. Nhờ có thẻ báo chí do bộ Thông tin và Liên lạc Quốc tế của Chính phủ Tây Tạng cấp phát, chúng tôi được bước vào trong điện với máy ghi âm và thu hình.

- Câu hỏi: Theo chúng tôi hiểu thì ông đến Dharamsala để nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp từ mùng ba đến ngày hôm qua 13, và gặp gỡ một số cao tăng Tây Tạng. Ông có thể cho biết đôi chút về buổi thuyết pháp đó không"

- Hàng năm, ngày rầm Tháng Giêng âm lịch, tức là sau Tết Nguyên đán hai tuần, người Tây Tạng có hội lễ Monlam để cầu Phật vào đầu năm. Đấy cũng là cơ hội mà đức Đạt Lai Lạt Ma, Giải Nobel Hoà bình năm 1989, trực tiếp xuất hiện sau lễ Monlam và thuyết pháp cho tăng chúng và khách thập phương từ khắp nơi đổ về. Đề tài năm nay của Ngài là Bồ Tát Hạnh và Bồ Đề Tâm. Suốt một tuần, Dharamsala rực rỡ nắng Xuân ấm áp với khoảng năm sáu ngàn người, ngồi kín các tầng lầu của tu viện ra tới quảng trường bên ngoài. Phân nửa là các nhà sư Tây Tạng, kể cả các tỳ kheo và sư nữ da trắng, đã ngồi nghe pháp từ chính nhân vật được mọi người tôn là đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Phần còn lại là khách thập phương từ mọi nơi đổ về, nhưng phải ghi danh và có thẻ tùy thân mới được vào quảng trường. Non nửa số khách thập phương này là người Âu-Mỹ da trắng, còn lại là dân Á châu từ khắp nơi, như Nhật Bản Đại Hàn, Đài Loan, Ấn Độ và khá đông là người Nga tại Trung Á.

Thế rồi đến ngày mùng chín, mọi sự lại chuyển động như một làn sóng ngầm.

Các xe phóng thanh và tăng chúng áo đỏ leo dốc đi tới khắp nơi nhắc nhở dân chúng Dharamsala, mà chừng một phần tư là người Tây Tạng lưu vong, về cuộc biểu tình ngày mai để kỷ niệm cuộc nổi dậy tại Lhasa 48 năm trước.

Dân làng, kể cả người Ấn, có cho biết là ngày mai thể nào trời cũng mưa. Trước sự hoài nghi của chúng tôi, họ thản nhiên giải thích: bên kia núi có mấy con rồng, khi Bồ Tát thuyết pháp, chúng hoan hỷ phun mưa cho hoa cỏ tốt tươi và rửa sạch bụi trần.

Đêm đó, quả nhiên giông bão vần vũ và mưa rơi nặng hột. Nhưng dù mưa lớn thì từ mờ sáng nhiều đoàn người đã kéo tới tu viện chính nằm trên đầu dốc nhìn xuống dinh Chính phủ Lưu vong. Họ đi trong mưa lũ, dưới khí lạnh có mười mấy độ, hô khẩu hiệu vang dội bằng tiếng Tây Tạng. Vào quảng trường chỉ được che bạt có một nửa, họ ngồi bệt xuống đất, tức là trên vũng nước mưa, chờ đức Đạt Lai Lạt Ma xuất hiện.

Họ đây là người dân Tây Tạng, có đủ nam phụ lão ấu và các em học sinh thì mặc đồng phục màu xanh, Người nào cũng ướt như chuột, nhưng mặt mày rạng rỡ. Nơi che bạt nylon được dành cho các nhà sư và khách thập phương, rất nhiều là người Âu châu, từ đó đến Ấn Độ chỉ bay mất bốn năm tiếng.

Từ trong dinh Chính phủ Lưu vong bước ra cùng nhân viên Nội các và Quốc hội Tây Tạng và quan khách Ấn Độ, đức Đạt Lai Lạt Ma được mọi người quỳ lạy ngay dưới đất. Sự tôn kính của mọi người với vị Phật Sống này là điều ai cũng thấy, và thấy là tự nhiên. Ngài chào hỏi mọi người và bước qua hàng rào các thiếu nhi mặc quốc phục. Đây là dàn hợp xướng có đầy đủ nhạc cụ sẽ hát quốc ca Tây Tạng để mở đầu buổi lễ.

- Câu hỏi: Ông có thể cho biết sơ qua về buổi lễ hôm mùng 10 đó không"

- Thưa mở đầu vẫn là một khoá lễ để tán thán công đức chư Phật theo phong tục Tây Tạng, kế tiếp là bài phát biểu của một vị cao tăng, hoá thân của một Lạt Ma, hiện là Thủ tướng của Chính quyền Tây Tạng lưu vong, tức là cầm đầu Nội các họ gọi loà Kashag. Sau đó là diễn văn của vị Chủ tịch Quốc hội Tây Tạng vì đức Đạt Lai Lạt Ma đã cải cách chính quyền theo nguyên tắc dân chủ và còn ngỏ ý muốn chỉ giữ một chức vụ tôn giáo trong cộng đồng Tây Tạng mà thôi. Trong số quan khách có nhiều chức sắc của chính quyền Ấn Độ và ba vị đã lên phát biểu và được dân chúng nhiệt liệt vỗ tay. Sau cùng mới là diễn văn chính thức của đức Đạt Lai Lạt Ma.

Trước hết, Ngài ngợi ca và nguyện cầu cho những người Tây Tạng đã hy sinh vì xứ sở và cho những người vẫn đang bị tù đầy và bách hại trên quê hương mình. Sau đó, Ngài tổng kết về những đổi thay tiêu cực và tích cực từ phía Trung Quốc. Trong khi nhiều trí thức Hoa lục đã công nhận yêu cầu tâm linh của đời sống và nhiều người đã tìm hiểu về văn hoá và tôn giáo Tây Tạng như một giải pháp đáng chú ý thì một số lãnh đạo thủ cựu lại tăng cường chiến dịch đả kích Tây Tạng và ra tay đàn áp người dân tại Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma nhắc lại lập trường trung đạo Ngài đã đề nghị từ 28 năm nay để dung hợp quan điểm và quyền lợi của người dân hai nước, người Tây Tạng và người Hánh. Nhưng dù Hiến pháp Trung Quốc công nhận quyền tự trị của các sắc tộc thiểu số, chính quyền Bắc Kinh không duy trì và bảo vệ bản sắc và văn hoá của dân thiểu số và văn hoá của các sắc dân này đang bị tiêu diệt. Việc cải cách hạ tầng vận chuyển như đường xe lửa tại Tây Tạng chỉ gia tăng việc đưa thêm người Hán vào lãnh thổ Tây Tạng, đồng thời lạm thác tài nguyên và hủy hoại môi sinh Tây Tạng.

Dù một số người sắc tộc đã được kết nạp vào đảng Cộng sản Trung Quốc, đức Đạt Lai Lạt Ma phát biểu tiếp trước quần chúng ngồi quanh, quá ít người được đưa lên cấp lãnh đạo quốc gia và nhiều người trong số này còn bị phê bình là có tinh thần phân liệt.

Kết thúc bài phát biểu, đức Đạt Lai Lạt Ma khẳng định rằng dân Tây Tạng không có ẩn ý gì khác, quan điểm của họ như được Ngài trình bày nhiều lần là phải thực sự tôn trọng quyền tự trị của người Tây Tạng. Và người Tây Tạng lưu vong đã thiết lập một cơ chế dân chủ đích thực để theo đuổi việc đấu tranh ấy, từ thế hệ này cho tới thế hệ khác. Từ năm 2002 đến nay, đôi bên đã có năm cuộc gặp gỡ để thẳng thắn thảo luận về những dị biệt hay nghi kỵ, những cuộc thảo luận này cần phải tiếp tục. Sau khi ngợi ca sự phấn đấu bền bỉ của dân Tây Tạng ở trong nước, Ngài ngỏ ý cảm tạ nhân dân và chính quyền Ấn Độ đã kiên trì và hào hiệp yểm trợ Tây Tạng và tri ân dân chúng và các chính quyền thế giới đã quan tâm và hỗ trợ Tây Tạng.

Sau buổi lễ kỷ niệm thật cảm động này, đức Đạt Lai Lạt Ma đã rẽ đám đông quỳ vái chung quanh để trở về tư thất ở bên kia quảng trường. Cả tiếng đồng hồ sau đám đông mới rút khỏi quảng trường và đi biểu tình tuần hành trên đường xá gập ghềnh của Dharamsala, một thị trấn ở trên cao độ 1.700 trăm thước, bậc thềm dẫn lên rặng Hy Mã Lạp Sơn. Bên kia là đất Tây Tạng và sáu triệu người dân đang khắc khoải sống cùng bảy triệu người Hán, như một loại công dân nô lệ.

- Câu hỏi: Trở về buổi cầu nguyện ngày 14, ông có thể tường trình cho thính giả biết những gì đã xảy ra.

- Chúng tôi đã chứng kiến một buổi lễ rất lạ. Trước hết, quảng trường và tu viện chính hiện đông đặc những người, có thể lên tới hàng vạn. Nên nhớ là dân số Dharamsala chỉ vỏn vẹn có hai vạn người mà thôi. Người ta ngồi ngổn ngang ở khắp mọi nơi, dưới sàn, dưới đất, ngoài đường, trên bờ tường và ngay bên trong các hành lang của một tu viện cao bảy tầng bên triền núi.

Trong chánh điện của Tu viện chính, đức Đạt Lai Lạt Ma ngồi trên một bệ cao, ngai của Ngài có phủ gấm vàng, cùng màu với cái mão Ngài đội, phía sau là một tượng Phật cực lớn, được trình bày theo quy cách Tây Tạng. Trong chánh điện như một đại sảnh là các vị cao tăng áo đỏ, choàng khăn vàng. Ngồi chính giữa là vị Đạo sư Sakya Trizin, được coi là đại diện của cả hàng ngũ Tăng già lẫn giới chức trong Nội các Kashaq, Quốc hội và mọi địa phương Tây Tạng. Nếu trí nhớ của tôi không lầm thì Ngài được tin là một hoá thân của đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi. Theo đẳng trật Tây Tạng thì cao cấp nhất là đức Đạt Lai Lạt Ma, kế tiếp là đức Ban Thiền Lạt Ma mà vị hoá thân đã bị Trung Quốc bắt cóc và giam giữ ở một nơi bí mật từ nhiều năm nay. Vị thứ ba chính là Ngài Đạo sư Sakya Trizin này.

Vừa rồi, vị Đạo sư thay mặt mọi người đọc kinh thỉnh nguyện dài hơn 45 phút cho đức Đạt Lai Lạt Ma được trường thọ và còn hiện hữu trên thế gian này để cứu giúp dân tộc Tây Tạng và hoằng dương Phật pháp trên toàn thế giới. Sau đấy, Ngài dẫn đầu một đoàn người lên tới cả trăm để dâng phẩm vật cúng dường lên đức Đạt Lai Lạt Ma.

Đáng chú ý nhất trong buổi lễ là sự xuất hiện của hai người, một nam một nữ, mặc trang phục rực rỡ màu sắc của các vị tiên tri được đồng nhập để loan báo một số chuyện vị lai cho riêng đức Đạt Lai Lạt Ma. Tiếng Anh gọi nhân vật này là Oracle.

Âm thanh và cảnh sắc tạo ra không khí trang nghiêm thần bí cho mọi người. Theo tín ngưỡng Tây Tạng, một vị thần nhân siêu phàm là Palden Lhamo có thể biết trước mọi sự và đầu năm thông báo tin tức theo thể thức bí truyền cho đức Đạt Lai Lạt Ma. Người tiếp nhận thông tin ấy được gọi theo tiếng Tây Tạng là Nechung, mà nếu tôi không lầm thì ta gọi là "chu cô" theo lối âm Hán Việt. Nhìn cảnh tượng đồng nhập rồi đồng thăng sau khi thì thầm với đức Đạt Lai Lạt Ma nay đã thay mão màu đỏ, chúng tôi có cảm giác bàng hoàng, rất lạ.

Cuối buổi lễ, các vị sư trẻ khuân từ trong điện ra hàng núi thức ăn và phẩm vật cúng dường để chia lộc Phật cho mọi người, cho cả vạn người ngồi la liệt khắp nơi. Riêng tôi thì giật mình thấy rất nhiều người da trắng vái lạy và nhận bánh được phát như một báu vật và kính cẩn ngồi ăn dưới đất. Thế rồi họ chồm dậy để quỳ lạy khi đức Đạt Lai Lạt Ma cùng hàng giáo phẩm Tây Tạng bước xuống và chen khỏi đám đông sùng bái để trở về tư thất. Buổi lễ kéo dài đúng hai tiếng 42 phút, và lần này, dưới ánh nắng chan hoà.

Tường thuật từ Dharamsala, Ấn Độ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.