Hôm nay,  

Về Miền Vĩnh Cửu

24/07/200700:00:00(Xem: 10508)

(Tưởng niệm Linh Mục Nhạc sĩ Hòai-Đức , ngày Cha vỉnh viễn ra đi khỏi cuộc đời trần gian: THỨ BẢY 07/07/07  ).

 Vào cuối năm 2001, tôi có dịp về thăm quê hương, thăm họ hàng bà con đã từ lâu xa cách, và thăm người cháu mới được Chúa gọi lên chức Linh mục (cha Trần Bình Trọng, hiện là cha xứ Giáo xứ Bút Đông, Tổng Giáo phận Hà Nội). Khi vào Sài gòn tôi đã dành thời giờ đến thăm các cha tại Nhà Hưu Dưỡng bên cạnh nhà thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. Nhân dịp tôi cũng được thăm Cha Hòai Đức; nhưng rất tiếc, Cha đã nằm liệt và không trả lời được bằng lời nói, chỉ bằng ánh mắt, cử chỉ bên ngòai, và qua những kinh cầu nguyện mà tôi tưởng Cha vẫn ý thức được, dù không thể tỏ lộ ra bằng lời nóị

Khi trở lại Hoa Kỳ, nhân dịp Ngày Xuân Dân Tộc, nhớ đến Cha Hòai Đức, tôi có viết một bài về việc “Hái Lộc Đầu Xuân” và lấy những tư tưởng chính trong bài “Chúa Ơi Nay Ngày Xuân…” của Chạ Vào cuối bài, tôi có viết mấy dòng để xin bạn đọc nhớ đến và cầu nguyện cho Cha đang nằm đau liệt tại nhà các Cha Hưu Dưỡng, Ngã Sáụ

Hôm nay, Chúa nhân từ đã gọi Cha về với Ngài để “say sưa trong sắc hương” của Mùa Xuân Vỉnh Cửu vào đúng ngày thứ Bảy,  Mùng Bảy, Tháng Bảy, Năm 2007.

Tôi đã được đọc những bài viết về Cha Hòai Đức  đăng trên các tờ báo khác nhaụ Nơi đây tôi chỉ xin ghi lại một vài kỷ niệm để gởi đến các bạn hữu, đến những người đã quen biết Cha, những người đã “say sưa” “sốt sắng” hát các bản thánh ca Cha đã sáng tác để thờ phượng Chúa, tôn vinh Mẹ Maria, các Thánh; những người đã từng là học trò của Cha, đặc biệt khi Cha dạy ở Tiểu Chủng Viện Piô XIỊ

Hồi còn học ở Tiểu Chủng Viện Piô XII tại Ngã Sáu (Chợ Lớn), có lần đi nghỉ hè về, tôi được nghe chuyện vui về Cha mà lúc đó còn đang “làm Thầy”. Trong dịp nghỉ hè đó, có một “giai nhân” từ miềm sông Hương, núi Ngự đến thăm Thầy Hòai Đức vì chưa được gặp Thầy bao giờ, chỉ được nghe và hát các bản thánh ca thật hay, thật thanh thóat của Thầy, như bản “Cao Cung Lên…” (thường hát vào dịp Lễ Giáng Sinh). Nghe các bản nhạc của Thầy, chị  tưởng tượng Thầy là một thanh niên còn trẻ, có dáng vẻ thanh tú, đẹp trai, đầy duyên dáng… Nhưng khi được “diện kiến” thì chị thấy trí tưởng tượng của chị đã tô vẽ qúa nhiều về Thầỵ

Cha Hòai Đức có dáng người hơi cao (theo vóc dáng người Á Châu), sắc da ngăm đen, vẻ mặt đôi khi có nét khắc khổ, dù luôn có nụ cười dịu hiền nở trên môi và dáng điệu hiền hòa, từ tốn. Thời gian làm Giáo sư ở đây, Cha chuyên dạy nhạc lý và tập hát cho các chủng sinh chúng tôị Tôi nhớ có lần vào một lớp học chiều, vào khỏang tháng 10 thì phải, khi vào lớp Cha đã hát cho chúng tôi nghe thử bài Cha vừa sang tác, bài “Dâng Mẹ”: Lạy mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh…”. Lúc đó chúng tôi thực sự chưa cảm nghiệm được hồn nhạc của Cha trong bài này; hơn nữa, như Ngài thường nói với chúng tôi là “tiếng tôi như tiếng chiếc lon rỉ! …”. Nhưng rồi bài này dã được phổ biến rộng rãi các nơi như chúng ta đều biết.

Thật lâu sau, vào khỏang năm 1973, khi tôi đang là Linh mục phục vụ tại Đà Lạt và Ngài đang là Cha Quản Lý Giáo Phận Ban-Mê-Thuột. Trong một dịp cần gấp, Cha đã gọi điện thọai cho tôi và tôi đã xin máy bay lên Ban-Mê-Thuột để đón Đức Cha Mai về họp Hội Đồng Giám Mục ỏ Giáo Hòang Học Viện Đà Lạt. Dịp này tôi được đến thăm Cha tại Nhà Chung Ban-Mê-Thuột. Tôi thấy Cha vẫn sống đơn giản, và nụ cười hiền hòa vẫn nở trên môi… Sau đó chẳng bao giờ gặp lại Cha cho đến ngày được gặp lại Cha tại Nhà các Cha Hưu Dưỡng,  lúc đó Cha chỉ nằm im lặng và nói chuyện bằng ánh mắt và những hơi thở yếu ớt , dù vẻ mặt vẫn còn nhiều khí sắc, nhưng đã già nua,  và hằn lên  những nét đau đớn vì bệnh tật.

Hôm nay Chúa đã gọi Cha về, và hồn Cha đã hân hoan về với Chúa là người Cha nhân từ mà suốt đời Cha đã hết lòng phục vụ qua nhiều giai đọan khác nhau của cuộc đờị Cha sinh ra vào khỏang năm 1922 tại xứ Kẻ Nấp, phía tây nam thành phố Nam Định, gần biên giới tỉnh Ninh Bình, cách không xa xứ Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị ,  đã từng nơi sinh hoạt của ‘Nhà Tràng Kẻ Vĩnh’: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Kẻ Vĩnh”). Cha đã được sinh ra và lớn lên trong gia đình đạo đức và từ nhỏ đã được gởi lên học tại Tiểu Chủng Viện Hòang Nguyên (Hà Đông). Sau khi tốt nghiệp, đã đi giúp xứ, rồi được gọi về học tại Đại chủng viện Xuân Bách (Hà Nội) vào năm 1945 (Năm đói Ất Dậu).

‘Nhưng những  biến chuyển của thời cuộc đã làm cho việc học của các Thầy lúc đó bị gián đọan nhiều lần qua những cuộc “chạy lọan” “tản cư” đi về các vùng an tòan. Tiếp theo đó là cuộc di cư vỉ đại năm 1954. Cùng đi theo nhà trường vào miền Nam , thầy Hoài Đức  tiếp tục  giúp Tiểu Chủng Viện Piô XII, Ngã Sáu, Chợ Lớn.

Dù trải qua nhiều gian khổ, thử thách lâu dài, Thày Hòai Đức vẫn kiên trì trong cuộc đời tu sĩ và vui vẻ lo chu tòan các nhiệm vụ Bề trên trao phó; trong khi vẫn cộng tác tích cực với các nhạc sĩ trong Nhạc đòan Lê Bảo Tịnh và sáng tác những bản Thánh ca rất phổ biến. Mãi đến năm 1958 , Thầy mới được gọi để chịu chức Linh mục và tiếp tục làm Giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Piô XII, rồi lên phục vụ tại Chủng viện Thừa Sai Kontum, về lại Sàigòn làm Tổng Thư Ký Ủy Ban Thánh Nhạc. Sau cùng Cha Hòai Đức đã nhập Địa phận Ban Mê Thuột và được Đức Cha Nguyễn Huy Mai, Giám mục Ban Mê Thuột, cử làm Quản lý Địa phận, kiêm nhiệm Giám đốc Cơ Quan Từ Thiện Công Giáo Caritas và Phong Trào Công Lý và Hòa Bình. Trong thời gian này, Cha đã chứng tỏ, dù là một nhạc sĩ tài danh, và hầu hết cuộc đời sống trong các Chủng viện, nhưng khi “cờ đến tay” Cha đã chứng tỏ là một người rất thực tế và biết nhìn đến những nhu cầu của xã hội chung quanh để phục vụ những người nghèo khổ, thất học, cô đơn, bịnh họan. Cha đã dùng mọi thời giờ, tâm trí để giúp mở mang nhiều cơ sở giáo dục và từ thiện, nhà dưỡng lão, quán cơm xã hội tại vùng cao nguyên này để giúp các người nghèo khó Kinh và Thượng.

Thế rồi cuộc đời Cha lại đi vào khó khăn thử thách cùng với biến cố đau thương 1975. Cha đã bị bắt đi tù “cải tạo” và di chuyển đi nhiều nơi trong suốt 10 năm, phần lớn là ở các trại “khổ sai” tại miền Bắc. Trong vất vả khổ sở ở các trại tù lao động, Cha vẫn luôn sống như một linh mục, một sứ giả của Chúa giữa những anh em cùng tù đày khốn khó để an ủi và nâng đở tinh thần cho mọi ngườị

Sau 10 năm tù đày khổ sở, và vì đã gìa nua , bịnh hoạn,  Cha mới được thả rạ Cha trở về tiếp tục sống cuộc đời linh mục trong tuổi già, bịnh họan, nhưng luôn vui vẻ, can đảm “vác thánh giá như Chúa đã vác trong những ngày Thương Khó để cứu chuộc nhân lọaị”…… Nay  Cha đã được “Chúa thương gọi Cha về,…” gọi Cha về với Chúa, ra khỏi cuộc đời trần gian khổ ải, đi về “Miền Vỉnh Cửu” trong bình minh của Mùa Xuân viên mản.

“Mọi sự điều có lúc, mọi việc điều có thời… Thời để sinh ra, và thời để chết…” (Gv3:1…)…Mùa Đông đã qua, mưa đã tạnh… Ngàn hoa đã rực nở… Tiếng chim đã ca hót vang lừng…” (Diệu Ca 2:11…)… Cha đã can đảm “đi hết đọan đường của Cha” như ý Chúa muốn… Nhìn lại cuộc đời, Cha đã có thể nở một nụ cười tạ ơn Chúa và Mẹ Maria đã luôn giúp Cha kiên trì với Ơn Gọi, vượt qua mọi thử thách, khổ đau để phục vụ Chúa qua các người nghèo khó.  Qua các bản Thánh ca mà Chúa Thánh Thần đã soi sáng để Cha viết lên theo dòng nhạc những lời ca ngợi Chúa và rao giảng Tin Mừng tình thương của Chúạ

Cha vỉnh viển ra đi khỏi cuộc đời này, nhưng còn để lại hương thơm cuộc đời hy sinh, khiêm tốn, đơn sơ, hèn mọn, với nụ cười diệu hiền, với tấm lòng thành thực. Cha ra đi nhưng vẫn còn sống mãi qua những bản Thánh ca mà Cha đã sáng  tác và trong lòng những con người mà Cha gặp gỡ và yêu thương phục vụ trong suốt dọc cuộc đờị

Xin hợp với thân bằng quyến thuộc và thân hữu của Cha, để chào tạm biệt Cha ra khỏi đời này và hẹn gặp lại Cha ngày đòan tụ trong “Mùa Xuân Vỉnh Cửu” trên Nước Chúạ 

“Xin Chúa cho Linh Hồn Cha Giuse  được nghỉ yên muôn đời…”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ông X. Nguyễn bị trục xuất vào sáng sớm của một ngày trong tháng Tư. Cuối ngày hôm đó, vào lúc 5 giờ chiều, cô K. Nguyễn bay về Sài Gòn. Cô đến phi trường Tân Sơn Nhứt sau chuyến bay trục xuất anh cô khoảng một ngày.“Khi đến Tân Sơn Nhứt, họ đưa anh tôi và mấy người bị trục xuất một lối đi đặc biệt để vào nơi làm thủ tục hải quan. Họ phỏng vấn, lăn tay, làm giấy tờ. Rồi họ đọc tên từng người, nếu có thân nhân, họ sẽ dắt ra cổng, bàn giao lại cho người nhà. Với ai không có thân nhân, nhưng có tên trong danh sách của Ba Lô Project (BLP) thì tình nguyện viên của nhóm sẽ nhận. BLP cho mỗi người một ba lô, trong đó có những vật dụng cá nhân cần thiết, một điện thoại có sim sẵn và $50”, cô K. kể.
Tôi có một người bạn viết lách văn nghệ. Chị cho rằng mình có chút tài nghệ, đủ để khi cần móc túi lấy ra xài. Chị không viết đều. Chỉ viết khi thích – đôi khi chị viết gửi vài tạp chí mạng, có khi chỉ viết để đó, không gửi ai. Chị sống trên căn gác nhỏ, gọi đó là "giang sơn sáng tác" của riêng mình. Mỗi ngày chị dậy lúc gần trưa, pha ly cà phê nguội, rồi mở máy tính. Có bài chị viết ngay sau ngụm cà-phê đầu tiên – vài chục phút là xong – gửi đi ngay rồi gập máy, đi ngủ tiếp. Có bài để ba năm hôm, không sửa gì cả, gửi đi như vậy. Tôi hỏi: “Sao không đọc lại?” Chị nhún vai: Lúc viết là thật nhất. Sửa nhiều, mất hồn. Tôi hỏi tiếp: Không sợ thiếu sót? Chị cười, lấy ngón tay chỉ lên bức thư pháp trên tường:“Tri túc giả phú” (Biết đủ là đủ).
Kể từ khi Donald Trump tái đắc cử Tổng thống, giới sáng lập và đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon – gồm các tỷ phú như Elon Musk, Jeff Bezos và Mark Zuckerberg – đã được xem là những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng đối với chính quyền mới. Họ xuất hiện trong lễ nhậm chức của Trump và nhanh chóng đóng vai trò chính trong việc định hình các chính sách "Làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại". Với niềm tin mãnh liệt vào tiềm năng của công nghệ hiện đại, những nhà lãnh đạo này tin rằng họ có thể vận hành nó trong khuôn khổ một nền kinh tế thị trường tự do. Họ cổ súy cho sự phát triển không giới hạn của một hình thái tư bản tự do tuyệt đối và công nghệ có thể giải quyết hầu hết các vấn đề xã hội và quốc gia. Trong tầm nhìn của các cá nhân tiên phong công nghệ, họ muốn có vai trò lãnh đạo trong việc xóa bỏ các thủ tục hành chính phức tạp của nhà nước phúc lợi. Đó là hai điều kiện tiên quyết để tăng tốc cho các tiến bộ xã hội,
Ba giờ sáng của một ngày giữa Tháng Tư, cả hệ thống điện và điện thoại trong trại giam Adelanto Detention Center (California) đồng loạt bị ngắt. Bóng tối phủ trùm khắp các khu vực. Nhân viên trại giam đi từng khu vực, gõ cửa từng phòng, gọi tên “những người được chọn.” Mỗi phòng một, hoặc hai người bị gọi tên. “Thu xếp đồ đạc của các anh” – lệnh được truyền đi vắn tắt, không giải thích. Ông X. Nguyễn, cư dân của Santa Ana, đến Mỹ từ năm 1990, là một trong những người bị đánh thức được lệnh phải thu dọn đồ đạc.Cùng với những người khác - không ai biết ai vì tất cả đèn đã tắt, trong bóng tối họ bị áp tải ra khỏi trại giam trong tình trạng tay bị còng, chân bị xích. Chỉ đến khi bước vào chiếc xe bít bùng, họ mới nhận ra nhau qua cùng tiếng Mẹ đẻ, mới biết mình không đơn độc – mà cùng những người khác cùng ngôn ngữ, cùng cố hương, cùng một chuyến đi không có ngày trở lại. “Họ đưa anh tôi và những người trên xe đến tòa nhà INS (Immigration and Naturalization Service) ở Los Angeles.
Chuyện đời của Tổng thống Donald Trump như một cuốn sách, không phải tự truyện, không phải tiểu sử, là một trường thiên tiểu thuyết đang viết vào chương cuối cùng. Đã gọi là tiểu thuyết, nghĩa là không thật như đời thường, có nhiều diễn biến ly kỳ, bí mật và những âm thầm giấu giếm bên trong. Nhân vật chính là một người có đời sống phóng đảng từ trẻ đến già. Con nhà giàu, đẹp trai, học không giỏi. Bảy mươi mấy năm sống có thể gôm vào sáu chữ: Ham gái. Ham danh. Ham tiền. Ông không có khả năng gì đặc biệt, ngoài trừ khả năng bạo phổi, quen thói tỷ phú quyền lực, ít học, kém tư cách, ông muốn nói gì thì nói, muốn tuyên bố gì thì tuyên bố, bất kể đúng sai, bất kể hậu quả. Việc này khiến ông nổi bật giữa những kiểu mẫu đứng đắn, đạo hạnh, tử tế, trí thức của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ dọc theo lịch sử. Sự phá vỡ tư cách lãnh đạo theo truyền thống, lạ lùng, được một số đông cử tri ủng hộ.
Tôi có một đứa cháu gái. Mỗi sáng, cháu ngồi trên bậc thềm, chăm chỉ buộc dây giày. Mỗi bên phải đều nhau, mỗi nút thắt phải đúng thứ tự. Nếu lỡ tay thắt ngược, cháu sẽ gỡ ra và làm lại từ đầu – đôi khi ba, bốn lần. Cháu sẽ nhất định không chịu đi học cho đến khi nào giây thắt thật ngay ngắn. Cháu thuộc dạng trẻ em tự kỷ – một khác biệt mà người ngoài mới nhìn vào khó thấy. Và để được hỗ trợ trong lớp học, con bé phải làm điều mà cả hệ thống ép nó làm: thi IQ. Nếu điểm thấp quá, cháu bị đưa ra khỏi lớp chính. Nếu điểm “không thấp đủ,” cháu lại không được hỗ trợ vì không đạt tiêu chuẩn “khuyết tật.” Cùng một con số, khi là tấm thẻ vào cửa, khi là án lệnh đuổi ra khỏi cửa. Và chẳng ai thấy việc này có gì sai. Tất cả đều hợp lệ. Tất cả đều dựa vào một niềm tin: con người có thể đo được bằng ba con số.
Trong tháng 7 năm 2025, Thượng Viện Hoa Kỳ đã bỏ phiếu gần như hoàn toàn theo đường lối đảng phái để hủy bỏ khoản ngân sách trị giá 1.1 tỷ MK đã được chuẩn thuận cấp cho Tập Đoàn Phát Thanh Truyền Hình Công Cộng (Corporation for Public Broadcasting, CPB). Những người ủng hộ quyết định này cho rằng đây là hành động cần thiết để ngừng tài trợ cho “cánh truyền thông thiên tả.” “Phát thanh truyền hình công cộng đã rơi vào tay các nhà hoạt động đảng phái từ lâu rồi,” TNS Ted Cruz (Texas) tuyên bố, khẳng định chính phủ không cần thiết phải tài trợ cho các cơ quan báo chí “thiếu công tâm.” Ông châm biếm: “Muốn xem tuyên truyền của phe cấp tiến hả, cứ bật MSNBC đi.”
Tổng thống Donald Trump đã cố gắng áp đặt Hoa Kỳ lên thế giới và tách đất nước ra khỏi thế giới. Ông bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai bằng cách vung vũ lực cứng của Mỹ, đe dọa Đan Mạch về quyền kiểm soát Greenland, và đề nghị sẽ giành lại kênh đào Panama. Ông đã sử dụng thành công các mối đe dọa về thuế quan trừng phạt để ép buộc Canada, Colombia và Mexico về các vấn đề nhập cư. Ông đã rút khỏi các hiệp định khí hậu Paris và Tổ chức Y tế Thế giới. Vào tháng 4, ông đã khiến thị trường toàn cầu rơi vào hỗn loạn bằng cách công bố thuế quan sâu rộng đối với các quốc gia trên toàn thế giới. Không lâu sau đó, ông đã thay đổi chiến thuật bằng cách rút lại hầu hết các mức thuế bổ sung, mặc dù vẫn tiếp tục gây sức ép cho một cuộc thương chiến với Trung Quốc – mặt trận chủ yếu trong cuộc tấn công hiện nay để chống lại đối thủ chính của Washington...
Tài liệu ghi chép lịch sử Tòa Bạch Ốc cho biết, khi nhân viên dưới thời chính quyền của Woodrow Wilson chuẩn bị dời vị trí của Vườn Hồng, họ nhìn thấy hồn ma của cố Đệ Nhất Phu Nhân Dolley Madison, phu nhân của cố Tổng thống đời thứ tư của Mỹ James Madison. Thế là, để “xoa dịu” bà Madison, họ quyết định không di dời nữa và Vườn Hồng ở nơi đó cho đến tận bây giờ. Ông Jeremiah Jerry Smith làm việc trong Toà Bạch Ốc dưới thời của chính quyền Tổng Thống Ulysses S. Grant vào cuối những năm 1860. Trong suốt 35 năm, ông là một người hầu, quản gia, đầu bếp, gác cửa, dọn dẹp văn phòng. Smith là người được các ký giả, người viết sách tìm đến khi họ muốn biết về tin tức hoặc chuyện hậu cung. Theo tài liệu lịch sử của White House, ông Smith nói từng nhìn thấy hồn ma của Lincoln, Grant, McKinley và một số đệ nhất phu nhân từ năm 1901 đến 1904.
Trong nhóm bạn bè khá thân, chúng tôi có một cặp bạn - anh chồng là người tốt bụng, dễ mến; anh yêu vợ, nhưng lại có tình ý với một người khác. Khi bạn bè nhắc, anh luôn trả lời chắc nịch: “Vợ tôi đơn giản lắm, bả ấy chẳng để ý, cũng chẳng hay biết gì đâu.”Cô vợ cũng là bạn tôi, một người hiền lành, tử tế. Khi nghe tiếng gần tiếng xa, bạn chỉ cười nhẹ nhàng: “Mình chẳng muốn biết, biết chi cho mệt, cứ nhắm mắt, rồi mọi chuyện cũng qua thôi.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.