Hôm nay,  

Về Miền Vĩnh Cửu

24/07/200700:00:00(Xem: 10489)

(Tưởng niệm Linh Mục Nhạc sĩ Hòai-Đức , ngày Cha vỉnh viễn ra đi khỏi cuộc đời trần gian: THỨ BẢY 07/07/07  ).

 Vào cuối năm 2001, tôi có dịp về thăm quê hương, thăm họ hàng bà con đã từ lâu xa cách, và thăm người cháu mới được Chúa gọi lên chức Linh mục (cha Trần Bình Trọng, hiện là cha xứ Giáo xứ Bút Đông, Tổng Giáo phận Hà Nội). Khi vào Sài gòn tôi đã dành thời giờ đến thăm các cha tại Nhà Hưu Dưỡng bên cạnh nhà thờ Ngã Sáu, Chợ Lớn. Nhân dịp tôi cũng được thăm Cha Hòai Đức; nhưng rất tiếc, Cha đã nằm liệt và không trả lời được bằng lời nói, chỉ bằng ánh mắt, cử chỉ bên ngòai, và qua những kinh cầu nguyện mà tôi tưởng Cha vẫn ý thức được, dù không thể tỏ lộ ra bằng lời nóị

Khi trở lại Hoa Kỳ, nhân dịp Ngày Xuân Dân Tộc, nhớ đến Cha Hòai Đức, tôi có viết một bài về việc “Hái Lộc Đầu Xuân” và lấy những tư tưởng chính trong bài “Chúa Ơi Nay Ngày Xuân…” của Chạ Vào cuối bài, tôi có viết mấy dòng để xin bạn đọc nhớ đến và cầu nguyện cho Cha đang nằm đau liệt tại nhà các Cha Hưu Dưỡng, Ngã Sáụ

Hôm nay, Chúa nhân từ đã gọi Cha về với Ngài để “say sưa trong sắc hương” của Mùa Xuân Vỉnh Cửu vào đúng ngày thứ Bảy,  Mùng Bảy, Tháng Bảy, Năm 2007.

Tôi đã được đọc những bài viết về Cha Hòai Đức  đăng trên các tờ báo khác nhaụ Nơi đây tôi chỉ xin ghi lại một vài kỷ niệm để gởi đến các bạn hữu, đến những người đã quen biết Cha, những người đã “say sưa” “sốt sắng” hát các bản thánh ca Cha đã sáng tác để thờ phượng Chúa, tôn vinh Mẹ Maria, các Thánh; những người đã từng là học trò của Cha, đặc biệt khi Cha dạy ở Tiểu Chủng Viện Piô XIỊ

Hồi còn học ở Tiểu Chủng Viện Piô XII tại Ngã Sáu (Chợ Lớn), có lần đi nghỉ hè về, tôi được nghe chuyện vui về Cha mà lúc đó còn đang “làm Thầy”. Trong dịp nghỉ hè đó, có một “giai nhân” từ miềm sông Hương, núi Ngự đến thăm Thầy Hòai Đức vì chưa được gặp Thầy bao giờ, chỉ được nghe và hát các bản thánh ca thật hay, thật thanh thóat của Thầy, như bản “Cao Cung Lên…” (thường hát vào dịp Lễ Giáng Sinh). Nghe các bản nhạc của Thầy, chị  tưởng tượng Thầy là một thanh niên còn trẻ, có dáng vẻ thanh tú, đẹp trai, đầy duyên dáng… Nhưng khi được “diện kiến” thì chị thấy trí tưởng tượng của chị đã tô vẽ qúa nhiều về Thầỵ

Cha Hòai Đức có dáng người hơi cao (theo vóc dáng người Á Châu), sắc da ngăm đen, vẻ mặt đôi khi có nét khắc khổ, dù luôn có nụ cười dịu hiền nở trên môi và dáng điệu hiền hòa, từ tốn. Thời gian làm Giáo sư ở đây, Cha chuyên dạy nhạc lý và tập hát cho các chủng sinh chúng tôị Tôi nhớ có lần vào một lớp học chiều, vào khỏang tháng 10 thì phải, khi vào lớp Cha đã hát cho chúng tôi nghe thử bài Cha vừa sang tác, bài “Dâng Mẹ”: Lạy mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đồng Trinh…”. Lúc đó chúng tôi thực sự chưa cảm nghiệm được hồn nhạc của Cha trong bài này; hơn nữa, như Ngài thường nói với chúng tôi là “tiếng tôi như tiếng chiếc lon rỉ! …”. Nhưng rồi bài này dã được phổ biến rộng rãi các nơi như chúng ta đều biết.

Thật lâu sau, vào khỏang năm 1973, khi tôi đang là Linh mục phục vụ tại Đà Lạt và Ngài đang là Cha Quản Lý Giáo Phận Ban-Mê-Thuột. Trong một dịp cần gấp, Cha đã gọi điện thọai cho tôi và tôi đã xin máy bay lên Ban-Mê-Thuột để đón Đức Cha Mai về họp Hội Đồng Giám Mục ỏ Giáo Hòang Học Viện Đà Lạt. Dịp này tôi được đến thăm Cha tại Nhà Chung Ban-Mê-Thuột. Tôi thấy Cha vẫn sống đơn giản, và nụ cười hiền hòa vẫn nở trên môi… Sau đó chẳng bao giờ gặp lại Cha cho đến ngày được gặp lại Cha tại Nhà các Cha Hưu Dưỡng,  lúc đó Cha chỉ nằm im lặng và nói chuyện bằng ánh mắt và những hơi thở yếu ớt , dù vẻ mặt vẫn còn nhiều khí sắc, nhưng đã già nua,  và hằn lên  những nét đau đớn vì bệnh tật.

Hôm nay Chúa đã gọi Cha về, và hồn Cha đã hân hoan về với Chúa là người Cha nhân từ mà suốt đời Cha đã hết lòng phục vụ qua nhiều giai đọan khác nhau của cuộc đờị Cha sinh ra vào khỏang năm 1922 tại xứ Kẻ Nấp, phía tây nam thành phố Nam Định, gần biên giới tỉnh Ninh Bình, cách không xa xứ Kẻ Vĩnh (Vĩnh Trị ,  đã từng nơi sinh hoạt của ‘Nhà Tràng Kẻ Vĩnh’: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Kẻ Vĩnh”). Cha đã được sinh ra và lớn lên trong gia đình đạo đức và từ nhỏ đã được gởi lên học tại Tiểu Chủng Viện Hòang Nguyên (Hà Đông). Sau khi tốt nghiệp, đã đi giúp xứ, rồi được gọi về học tại Đại chủng viện Xuân Bách (Hà Nội) vào năm 1945 (Năm đói Ất Dậu).

‘Nhưng những  biến chuyển của thời cuộc đã làm cho việc học của các Thầy lúc đó bị gián đọan nhiều lần qua những cuộc “chạy lọan” “tản cư” đi về các vùng an tòan. Tiếp theo đó là cuộc di cư vỉ đại năm 1954. Cùng đi theo nhà trường vào miền Nam , thầy Hoài Đức  tiếp tục  giúp Tiểu Chủng Viện Piô XII, Ngã Sáu, Chợ Lớn.

Dù trải qua nhiều gian khổ, thử thách lâu dài, Thày Hòai Đức vẫn kiên trì trong cuộc đời tu sĩ và vui vẻ lo chu tòan các nhiệm vụ Bề trên trao phó; trong khi vẫn cộng tác tích cực với các nhạc sĩ trong Nhạc đòan Lê Bảo Tịnh và sáng tác những bản Thánh ca rất phổ biến. Mãi đến năm 1958 , Thầy mới được gọi để chịu chức Linh mục và tiếp tục làm Giáo sư tại Tiểu Chủng Viện Piô XII, rồi lên phục vụ tại Chủng viện Thừa Sai Kontum, về lại Sàigòn làm Tổng Thư Ký Ủy Ban Thánh Nhạc. Sau cùng Cha Hòai Đức đã nhập Địa phận Ban Mê Thuột và được Đức Cha Nguyễn Huy Mai, Giám mục Ban Mê Thuột, cử làm Quản lý Địa phận, kiêm nhiệm Giám đốc Cơ Quan Từ Thiện Công Giáo Caritas và Phong Trào Công Lý và Hòa Bình. Trong thời gian này, Cha đã chứng tỏ, dù là một nhạc sĩ tài danh, và hầu hết cuộc đời sống trong các Chủng viện, nhưng khi “cờ đến tay” Cha đã chứng tỏ là một người rất thực tế và biết nhìn đến những nhu cầu của xã hội chung quanh để phục vụ những người nghèo khổ, thất học, cô đơn, bịnh họan. Cha đã dùng mọi thời giờ, tâm trí để giúp mở mang nhiều cơ sở giáo dục và từ thiện, nhà dưỡng lão, quán cơm xã hội tại vùng cao nguyên này để giúp các người nghèo khó Kinh và Thượng.

Thế rồi cuộc đời Cha lại đi vào khó khăn thử thách cùng với biến cố đau thương 1975. Cha đã bị bắt đi tù “cải tạo” và di chuyển đi nhiều nơi trong suốt 10 năm, phần lớn là ở các trại “khổ sai” tại miền Bắc. Trong vất vả khổ sở ở các trại tù lao động, Cha vẫn luôn sống như một linh mục, một sứ giả của Chúa giữa những anh em cùng tù đày khốn khó để an ủi và nâng đở tinh thần cho mọi ngườị

Sau 10 năm tù đày khổ sở, và vì đã gìa nua , bịnh hoạn,  Cha mới được thả rạ Cha trở về tiếp tục sống cuộc đời linh mục trong tuổi già, bịnh họan, nhưng luôn vui vẻ, can đảm “vác thánh giá như Chúa đã vác trong những ngày Thương Khó để cứu chuộc nhân lọaị”…… Nay  Cha đã được “Chúa thương gọi Cha về,…” gọi Cha về với Chúa, ra khỏi cuộc đời trần gian khổ ải, đi về “Miền Vỉnh Cửu” trong bình minh của Mùa Xuân viên mản.

“Mọi sự điều có lúc, mọi việc điều có thời… Thời để sinh ra, và thời để chết…” (Gv3:1…)…Mùa Đông đã qua, mưa đã tạnh… Ngàn hoa đã rực nở… Tiếng chim đã ca hót vang lừng…” (Diệu Ca 2:11…)… Cha đã can đảm “đi hết đọan đường của Cha” như ý Chúa muốn… Nhìn lại cuộc đời, Cha đã có thể nở một nụ cười tạ ơn Chúa và Mẹ Maria đã luôn giúp Cha kiên trì với Ơn Gọi, vượt qua mọi thử thách, khổ đau để phục vụ Chúa qua các người nghèo khó.  Qua các bản Thánh ca mà Chúa Thánh Thần đã soi sáng để Cha viết lên theo dòng nhạc những lời ca ngợi Chúa và rao giảng Tin Mừng tình thương của Chúạ

Cha vỉnh viển ra đi khỏi cuộc đời này, nhưng còn để lại hương thơm cuộc đời hy sinh, khiêm tốn, đơn sơ, hèn mọn, với nụ cười diệu hiền, với tấm lòng thành thực. Cha ra đi nhưng vẫn còn sống mãi qua những bản Thánh ca mà Cha đã sáng  tác và trong lòng những con người mà Cha gặp gỡ và yêu thương phục vụ trong suốt dọc cuộc đờị

Xin hợp với thân bằng quyến thuộc và thân hữu của Cha, để chào tạm biệt Cha ra khỏi đời này và hẹn gặp lại Cha ngày đòan tụ trong “Mùa Xuân Vỉnh Cửu” trên Nước Chúạ 

“Xin Chúa cho Linh Hồn Cha Giuse  được nghỉ yên muôn đời…”

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.