Hôm nay,  

Viễn Ảnh 2008

27/12/200700:00:00(Xem: 10062)

...quản lý kinh tế của lãnh đạo tại VN còn quá thô thiển nên khó đỡ nổi các hiệu ứng quốc tế dội vào...

Chúng ta đang ở vào mấy ngày cuối của năm 2007. Qua năm 2008, kinh tế thế giới sẽ ra sao và sẽ ảnh hưởng tới Việt Nam như thế nào" Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về viễn ảnh kinh tế 2008 qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình chuyên đề do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Xin kính chào ông Nghĩa, trước thềm năm mới, Ban Việt ngữ chúng tôi xin đề nghị là chương trình tuần này sẽ cùng nêu ra một số phác họa về viễn ảnh kinh tế năm 2008, từ các khối kinh tế mạnh nhất về tới Á châu và Việt Nam.

Câu hỏi đầu tiên là khi nghiên cứu tình hình kinh tế các nước, ông có nhận xét sơ khởi ra sao về những dự báo kinh tế cho năm tới"

- Tình hình kinh tế có thể trăng trầm, lên hay xuống, nhưng năm 2008 này, thế giới sẽ để ý theo dõi hai hiện tượng chưa dự báo được rõ. Thứ nhất, các nền kinh tế đang phát triển như tại Á châu có tăng trưởng hay suy trầm theo cùng hướng với các khối kinh tế lớn, và nhất là Hoa Kỳ, hay không" Hiện tượng thứ hai là dù bị suy trầm, một số quốc gia cũng vẫn bị lạm phát. Suy trầm là khi sản xuất đình đọng, hàng họ ế ẩm và thất nghiệp tăng. Vậy mà vẫn có trường hợp vật giá tiếp tục gia tăng trong khi hoạt động kinh tế bị trũng, đó là hiện tượng "stag-flation" từng thấy tại các nước Âu Mỹ hơn ba chục năm về trước.

Chúng ta có thể dịch khái niệm ấy là "suy-phát" hay "đình-lạm". Người ta sở dĩ chú ý tới hai vấn đề ấy vì đã có lúc Á châu tăng trưởng mạnh nên gần như tách rời khỏi biến động kinh tế tại Mỹ, và qua năm tới, khi cả ba thị trường lớn là Mỹ, Nhật Bản và Âu châu đều bị suy trầm gần như cùng lúc, nhiều quốc gia vẫn bị nguy cơ lạm phát, kể cả Âu châu.

- Hỏi: Chúng ta sẽ khởi đầu từ dự đoán là trong năm tới, cả ba đầu máy kinh tế của thế giới có thể bị suy trầm, trước tiên là Hoa Kỳ. Vì sao năm tới, kinh tế Mỹ có thể sa sút"

- Trên diễn đàn này, trong các chương trình ngày 26 tháng Chín và 12 tháng 12, chúng ta đã nói tới rủi ro suy trầm tại Hoa Kỳ, là điều mà các nhà kinh tế dự đoán sẽ xảy ra. Bây giờ thì trường hợp ấy có thể sẽ xảy ra với xác xuất khá cao. Cách đây hơn một tuần, nguyên Thống đốc hệ thống Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ dự báo xác suất này là hơn 50%; nhiều người còn nghĩ rằng nguy cơ ấy có thể còn lớn hơn.

Lý do là sự đình đọng của thị trường gia cư đã kéo theo sự sụp đổ của hệ thống tín dụng địa ốc nhiều rủi ro, ta gọi là thứ cấp, tức là loại tín dụng sub-prime. Điều nguy kịch là trái bóng sub-prime đó bể đã dẫn tới phản ứng dây chuyền là làm thị trường tín dụng hay trái phiếu hầu như bị đông lạnh, nghĩa là các ngân hàng hay công ty tài trợ hết dám cho vay. Trong khi ấy, doanh lợi của các công ty cũng có sa sút khiến họ giảm nhịp đầu tư để nghe ngóng. Đáng chú ý hơn cả là tai ách đó đã lan rất mạnh qua Âu châu và một số quốc gia bên kia Đại tây dương cũng bị nạn bong bóng gia cư và tín dụng thứ cấp chẳng kém gì Hoa Kỳ nên suy trầm có thể xảy ra cùng lúc cho cả hai khối kinh tế Tây phương đó.

- Hỏi: Tức là cả hai khối Âu Mỹ có thể bị suy trầm vì cùng một loại lý do tương tự, nhưng về mức độ thì có nguy ngập hay nghiêm trọng như nhau hay không"

- Về nguyên nhân thì thực ra cũng có khác biệt và ngay trong nội bộ Âu châu thì tình hình từng nước cũng có sự nguy ngập nặng nhẹ khác nhau. Nhìn chung thì các nước kỹ nghệ hoá đều đánh giá rất cao nguy cơ khủng hoảng của hệ thống tín dụng nên ngày 12 vừa qua, năm Ngân hàng Trung ương có ảnh hưởng nhất của thế giới đã đồng loạt can thiệp vào thị trường, cụ thể là bơm thêm mấy trăm tỷ Mỹ kim vào kinh tế để cứu nguy.

Bây giờ, người ta còn trông đợi xem vụ khủng hoảng vì ách tắc tín dụng có kéo dài không, và giá dầu thô sẽ ảnh hưởng thế nào trong tình hình đó. Nhìn chung, các nhà kinh tế đều dự báo là đà tăng trưởng tại cả hai khối kinh tế này có thể giảm 1%, kinh tế Mỹ chỉ tăng được gần 2% và Âu châu thì chỉ 1,5% là nhiều. Trong khi ấy, lạm phát vẫn là mối quan tâm đáng kể, nhất là tại một số quốc gia Âu châu, vì vậy người ta mới nói đến rủi ro bị suy phát, bị cả stagnation lẫn inflation.

- Hỏi: Giữa Hoa Kỳ và Âu châu, chúng ta còn khối kinh tế coi như hạng nhì sau Mỹ là Nhật Bản. Qua năm 2008, tình hình kinh tế Nhật sẽ ra sao sau khi xứ này đã bị suy trầm, thậm chí suy thoái trong hơn chục năm liền"

- Qua năm tới, tình hình Nhật Bản mới thật đáng ngại vì Nhật bị suy trầm và giảm phát quá lâu nên đã phải hạ lãi suất đến số không và bơm tiền rất nhiều để kích cầu kinh tế, để kích thích tiêu thụ. Ngày nay, lãi suất tại Nhật vẫn chỉ có 0,50% nên nếu xứ này bị nguy cơ suy trầm, họ khó còn khả năng hạ lãi suất. Tuần qua, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã do dự mãi rồi vẫn giữ nguyên lãi suất mà chưa dám hạ hay tăng. Ngoài ra, Nhật còn bị nhiều ách tắc trong cơ chế kinh tế mà chưa giải quyết nổi và bị ảnh hưởng nặng nhất của nạn dầu thô lên giá cùng với các vấn đề chung của hai khối kinh tế Âu và Mỹ.

Qua năm 2008, mối lo đáng ngại nhất chính là nền kinh tế Nhật Bản, là điều khá bất ngờ cho nhiều người vì Nhật mới chỉ phục hồi từ năm 2005 mà thôi. Đáng ngại hơn cả là đảng Tự do Dân chủ đang cầm quyền lại rất yếu thế nên khó tiến hành cải cách để giải tỏa những ách tắc trong cơ chế như ta vừa mới nói.   

- Hỏi: Khi mọi người đều nghĩ rằng cả ba khối kinh tế này đều gặp rủi ro suy trầm thì tất nhiên là giới hữu trách cũng biết như vậy. Ba khối kinh tế này có khả năng đối phó hoặc ngăn ngừa ra sao"

- Trên đại thể, người ta có biện pháp tiền tệ như hạ lãi suất hay giải tỏa điều kiện cho vay để kinh tế có thêm tiền cho sản xuất và đầu tư. Kế đó, người ta có biện pháp về tài chính công, như giảm thuế hay tăng chi cũng để bơm thêm tiền vào kinh tế. Loại đối sách thứ ba là cải tổ cơ cấu kinh tế để tháo gỡ ách tắc và khuyến khích sản xuất. Ba loại đối sách ấy có hiệu quả từ nhanh đến chậm, từ sáu tháng tới cả năm hay nhiều năm.

Nhưng đây mới là mấy vấn đề đáng lo. Thứ nhất, không phải ngân hàng trung ương nào cũng có thể giảm lãi suất vì điều ấy còn tùy ở mức lãi suất căn bản hiện cao hay thấp. Thứ hai là còn tùy vào tình hình vật giá, tức sức ép của giá cả mạnh hay yếu, nếu khơng khéo là vừa bị suy trầm vừa bị lạm phát như các nước Âu châu đang sợ nên chưa dám hạ lãi suất. Thứ ba là còn tùy vào hoàn cảnh ngân sách; nếu đã bị bội chi quá lớn thì người ta khó có thể giảm thuế hay gia tăng công, là trường hợp của Nhật Bản và nhiều nước Âu châu. Thứ tư, nói về cải tổ cơ chế để giải tỏa ách tắc trong sản xuất thì khả năng ấy cũng tùy vào tư thế mạnh yếu của đảng cầm quyền, vào ngay lúc này. Vì ngần ấy lý do, việc đối phó có công hiệu hay không thì cũng còn tùy thuộc vào tình hình của từng nước.

- Hỏi: Cho tới nay, các nước đã làm những gì hầu có thể chặn trước nguy cơ suy trầm mà ai cũng nói tới"

- Trước hết, các ngân hàng trung ương đều phối hợp mở rộng khung cửa can thiệp để bơm tiền cấp cứu các ngân hàng và cả hệ thống tín dụng hầu đẩy lui vụ khủng hoảng của thị trường tín dụng. Tuy nhiên, Ngân hàng Trung ương Âu châu - là cơ chế điều tiết tiền tệ cho 15 quốc gia cùng sử dụng đồng Euro - vẫn chưa hạ lãi suất vì động lực có khi trái ngược của từng nước trong khối này, điển hình là khác biệt lậo trường của Đức và Pháp. Trong thời gian tới, người ta chờ đợi xem Nhật Bản và khối Euro, nơi nào sẽ cắt lãi suất trước, sau khi các Ngân hàng Trung ương của Anh, Canada và Hoa Kỳ đều giảm lãi suất. Riêng nước Mỹ thì đã hạ lãi suất ba lần, tổng cộng 100 điểm tức là 1%, trong hơn ba tháng vừa qua và sẽ còn hạ nữa trong một hai quý sắp tới.

Nhìn chung và chúng ta có đề cập tới vấn đề này từ tháng Chín, Hoa Kỳ có nhiều khí cụ khả dụng để giải trừ nguy cơ suy trầm hơn hẳn hai khối kinh tế kia - nhờ lãi suất đang cao, loại cơ bản chỉ có 4,25% nên còn có thể giảm, bội chi ngân sách còn thấp, chỉ có 1,2% tổng sản lượng GDP, nên vẫn có thể gia tăng công chi - vì vậy sẽ sớm thoát khỏi suy trầm.

- Hỏi: Bây giờ, chúng ta nhìn qua Á châu, tình hình kinh tế năm tới sẽ thế nào khi ba khối kinh tế đầu máy là Mỹ, Nhật, Âu đều có thể bị đình đọng"

- Trước hết, ta chú ý đến trường hợp Trung Quốc là nền kinh tế có trọng lượng, đang có tốc độ tăng trưởng cao mà lại bị lạm phát mạnh khiến họ phải tăng lãi suất sáu lần trong năm nay. Qua năm tới, đà tăng trưởng tại Trung Quốc có thể giảm mất gần 2% là điều thật ra đáng mừng vì từ nhiều năm nay lãnh đạo xứ này muốn hãm đà tăng trưởng để hạ nhiệt kinh tế mà không nổi. Bây giờ nếu cả ba thị trường lớn của hàng hoá Trung Quốc mà bị suy trầm thì xuất khẩu của Hoa lục sẽ giảm và đó là giả thuyết thật ra có lợi vì quân bình lại chênh lệch kinh tế toàn cầu và góp phần đẩy lui mối lo lạm phát ở tại đây.

Nói cách khác, Trung Quốc đã nhờ thế giới đạp thắng dùm cho mình để hy vọng hạ cánh an toàn. Tuy nhiên, vì khả năng quản lý vĩ mô vẫn còn kém, tình trạnh nóng máy kinh tế, tức là đầu tư quá mạnh và lạm phát quá cao, vẫn có thể xảy ra với xác suất cao. Hậu quả có thể là nhiều xáo trộn kinh tế dẫn tới động loạn xã hội.

- Hỏi: Nhìn qua các nước Á châu khác, như tại Đông Nam Á, thì nạn suy trầm toàn cầu như vậy sẽ có ảnh hưởng ra sao"

- Quy tắc chung là kinh tế càng lệ thuộc vào thị trường xuất cảng thì khi các thị trường này sa sút, nền kinh tế càng bị ảnh hưởng. Xuất khẩu của các xứ Đông Nam Á qua Hoa Kỳ và Âu châu chiếm một tỷ trọng chừng 15% nên năm tới, thị trường của họ sẽ bị thu hẹp và kinh tế bị hiệu ứng bất lợi. Tuy nhiên, và đây là câu hỏi đã được nêu lên từ đầu, các xứ trong khu vực cũng mua bán của nhau nhiều hơn nên hiệu ứng của suy trầm từ hai khối kinh tế Âu-Mỹ cũng giảm bớt và kinh tế Đông Nam Á đang tăng trưởng mạnh, họ không sợ suy trầm như nhiều xứ khác.

- Hỏi: Ta sẽ kết thúc chương trình với trường hợp Việt Nam. Thưa ông, viễn ảnh kinh tế 2008 của xứ này sẽ ra sao"

- Việt Nam đang bị lạm phát nặng, và với xuất khẩu chiếm tới 60% tổng sản lượng GDP, nghĩa là một thị trường nội địa còn quá thấp, cho nên khi các nước bị suy trầm, Việt Nam sẽ bị giao động nặng nhất. Sản xuất sẽ giảm sút nhiều kể từ giữa năm tới trong khi lạm phát vẫn chưa thuyên giảm. Lương thực và dầu khí sẽ tiếp tục thổi mạnh vật giá và gây hậu quả bất lợi cho thành phần bình dân và nghèo túng.

Trong khi ấy, khả năng quản lý kinh tế của lãnh đạo tại Việt Nam còn quá thô thiển nên khó chống đỡ nổi những hiệu ứng từ quốc tế dội vào. Thí dụ nổi bật là cách giải từ lạm phát quá kém và lãi suất ngân hàng vẫn được duy trì quá thấp trong hệ thống tài chính còn quá nhiều bấp bênh và bội chi ngân sách quá lớn. Nếu năm 2007 là năm hồ hởi cho Việt Nam nhờ viễn ảnh hội nhập vào kinh tế toàn cầu thì năm 2008 sẽ là năm thử thách cho lãnh đạo kinh tế khi kinh tế toàn cầu bị sóng gió. Nhiều trường hợp hồ hởi sẽ biến ra bẽ bàng, thị trường chứng khoán bị rất nhiều bất trắc và trái bóng gia cư hay đất đai có thể sẽ bể vào cuối năm.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.