Hôm nay,  

Bước Chân Lịch Sử

28/10/200900:00:00(Xem: 7708)

Bước Chân Lịch Sử

Huệ  Trân
Tuần lễ cuối của tháng 10/2009, một tấm hình trên trang nhất của tờ Việt Báo đã bập bùng trong tôi hình ảnh bi hùng của một đêm tháng 5 năm 1977 tại thành phồ Kralow, nước Ba Lan.
Lịch sử thế giới đã mô tả thế chiến thứ hai như là một địa ngục trần gian, không một dân tộc nào không bị đọa đầy, tàn sát. Đất nước Ba Lan được nhận định là chịu nhiều thảm họa nhất, về cả nhân mạng lẫn tài sản.
Cuộc bầu cử gian lận ngày 19 tháng giêng năm 1947 đã đẩy toàn dân Ba Lan vào cuộc sống lầm than, bị tước đoạt nhân quyền và dưới sự kiểm soát hà khắc của một tập đoàn nhà nước đã thần phục Cộng Sản Nga Sô.
Cuộc tranh đấu bất bạo động suốt ba thập niên của dân chúng Ba Lan đã để lại biết bao kinh nghiệm đắng cay, bi thảm mà trong đó không bao giờ thiếu vắng những vị lãnh đạo tôn giáo. Bất kỳ dưới chế độ hà khắc, áp bức nào, giới tu sỹ luôn có mặt với dân chúng để cùng chịu chung sự khủng bố, tù đầy, chết chóc. Những năm tháng đó, Hồng Y Szefan Wyszynski, tổng giám mục Ba Lan, dù khi ở trong tù hay sau khi được thả, không khi nào không cùng nói lên tiếng nói với các thành phần trí thức, sinh viên, công nhân, đại diện toàn dân Ba Lan đòi hỏi tự do và nhân quyền.
Ngày 7 tháng 5 năm 1977, người ta nhìn thấy một xác chết, bị đập bể sọ, nơi góc cầu thang dẫn lên một chung cư. Đó là xác sinh viên Stanislaw Pyjas, 23 tuổi, sinh viên ban triết học trường đại học Kralow. Anh là thủ lãnh sinh viên đoàn, người đã vận động sinh viên các trường ký thỉnh nguyện thư gửi Quốc Hội, tố cáo nhà nước đã vi phạm trầm trọng những quyền căn bản của con người.
Hôm ấy, tiếng chuông trong khắp các giáo đường, các trường học đều đồng loạt ngân vang …. ngân mãi …. ngân suốt dọc đường bất tận mà bạn bè và dân chúng đưa Pijas đến nghĩa trang. Tiếng chuông gọi hồn dân tộc đó dù chấm dứt trong không gian nhưng không chấm dứt trong lòng người nên đêm ấy, cũng trong đêm ấy, khi màn đêm buông xuống là lúc thành phố Kralow chập chờn di động trong muôn ngàn ánh nến lung linh. Ban đầu, người ta ước lượng khoảng 5000 sinh viên , cầm nến trên tay và thầm lặng tiến về trung tâm Royal Castle. Nhưng sự kỳ diệu đến rợn người đã diễn ra bất ngờ khi mỗi căn nhà đoàn sinh viên đi qua là mỗi cánh cửa mở rộng, và người trong nhà, cũng như thế, nến trên tay và thầm lặng nhập đoàn.
Cả một thành phố thầm lặng bước trong đêm, dưới ánh nến bập bùng, nhưng chắc đã soi tỏ tận địa ngục A-Tỳ!
Hôm nay, tấm hình trên Việt Báo với hàng trăm tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, cùng thắp nến tại ngôi chùa Boudhanath Stupa, thuộc ngoại ô Kathmandu, Nepal để phản kháng Trung Quốc vừa kết án tử hình bốn người Tây Tạng, đã khiến tôi liên tưởng tới đêm bạch lạp kỳ diệu năm xưa.
Cái lý do ghi chú trên tấm hình này tuy chỉ là cầu nguyện và lên tiếng cho bốn người Tây Tạng nhưng chúng ta đều biết, đây là tiếng nói u uất từ nhiều thập niên, cất lên cho đất nước Tây Tạng đã bị Trung Quốc xâm chiếm, cho toàn dân Tây Tạng đã bị Trung Quốc áp bức và mưu đồ đồng hóa.
Đường xe lửa nối liền Hoa Lục và Tây Tạng đang ồ ạt đưa người Hán vượt biên hợp pháp, đem theo hành trang ngũ trược cồng kềnh với rắp tâm bôi xóa giá trị đạo đức căn bản của một xứ sở bốn mùa trầm lắng tiếng chuông ngân. 


Nền văn hóa Tây Tạng luôn nằm trong những dự án thẳng tay tiêu diệt của Trung Quốc vì kẻ xâm lược biết, văn hóa mất là dân-tộc-tính mất theo. Dân-tộc-tính không còn thì còn chi dân tộc!
Làm thân phận nhược tiểu luôn bị kẻ lớn hiếp đáp thì điều tiên quyết phải giữ, là nền văn hóa đặc thù. Tự ngàn xưa, Quan Phục hầu Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo:
“ … Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng văn hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác …”
Rồi những thời bị đô hộ nhục nhằn, Bắc phương cũng không ngừng bắt dân ta cạo răng trắng, bện tóc đuôi sam, đội nón vải tròn, khiến đại đế Quang Trung Nguyễn Huệ từng phải thét vang:
“Đánh cho răng đen, đánh cho dài tóc, đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam Quốc sơn hà tri hữu chủ”
Trung Cộng xâm chiếm và đàn áp Tây Tạng trước mắt thế giới!
Thế giới vẫn còn lương tâm nhưng sao không ngăn chặn, không lên tiếng bênh vực"
Thế giới từng cảm phục, chứng kiến hình ảnh người sinh viên trẻ Tây Tạng, tên Thupten Ngodup tự tẩm xăng, phựt lửa trên thân mình, chạy ra giữa phố chính ở New Delhi, nơi sẽ sửa soạn đón một lãnh tụ Trung Quốc mà cảnh sát đang thẳng tay giải tán đoàn người Tây Tạng tuyệt thực đòi độc lập. Đúng lúc đó, cây-đuốc-sống xuất hiện bất ngờ, dùng tàn lực hô lớn “Độc lập cho Tây Tạng!” rồi chạy xuyên vào đám đông khiến cảnh sát không thể chặn nổi anh. Với lửa phừng phừng trên da thịt, anh cứ lảo đảo vừa chạy vừa hô “Độc lập cho Tây Tạng! Độc lập cho Tây Tạng ….” Cho đến khi kiệt lực, ngã quỵ với hai tay chắp trước ngực.
Ngay cả phút cuối của đời sống, anh cũng dành động tác sau cùng để cầu nguyện cho quê hương, cho dân tộc.
Lịch sử không bỏ sót một điều gì. Thiện, ác luôn còn đó, không mặt nạ nào tồn tại để che đậy mãi được.
Một Đức Như Lai giác ngộ, năng lượng từ bi lập tức thấm nhuần khắp đại địa.
Một đấng anh hùng khai sinh, lập tức tinh anh hào kiệt soi sáng bao hậu thế.         
Nhất điểm hoa mai nhụy
Tam thiên thế giới hương (*)
Hai câu thơ chỉ có mười chữ thôi mà nức lòng chi lạ!
Hoa mơ một chút nhụy
Ba nghìn thế giới thơm (**)
Hôm nay, tôi không đọc thêm tin tức gì, chỉ ngồi lặng, nhìn mãi tấm hình những tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, uất nghẹn và nhẫn nhục thầm lặng thắp nến cho những mất mát đau thương của quê hương, dân tộc.
Tôi ngồi yên, và nhìn mãi, nhìn cho thấy tấm hình lột xác, những người trong hình đang di động, đang đi ngang từng căn nhà, từng thành phố, từng quốc gia ….
Tinh thần tranh đấu bất bạo động của dân tộc Ba Lan khi xưa có bùng lên ánh lửa nào, để những căn nhà, những thành phố, những quốc gia mà người Tây Tạng đang thắp nến đi qua sẽ mở cửa, mở cửa …. Không cần làm gì nhiều, chúng ta chỉ thắp một cây nến, mở cửa, và thầm lặng nhập đoàn cùng họ. Một nhà, một thành phố, một quốc gia sẽ thành mọi nhà, mọi thành phố, mọi quốc gia….
Chỉ thế thôi.
Chúng ta thắp nến cho Tây Tạng.
Chúng ta thắp nến cho Việt Nam.
Chúng ta thắp nến cho bất cứ nơi nào mà nhân phẩm và tự do bị chà đạp.
Chúng ta bước theo lời Phật dạy, lời Chúa ban.
Chúng ta theo dấu chân Mohandas Karamachand Ganhdi của phương đông, Martin Luther King của phương tây.
Toàn thế giới sẽ cùng bước những bước chân lịch sử cho hạnh phúc nhân loại.  
Huệ  Trân
(Đường về một mình, tháng 10/2009)
(*) Thiền Tâm cửu tập
(**) Nhật Chiêu dịch 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Theo dõi tin tức từ quốc gia này, tấm lòng của chúng tôi hướng về người dân Afghanistan và những người tị nạn đang bị buộc phải bỏ trốn để giữ mạng sống. Hơn nữa, chúng tôi tha thiết quan ngại đến số phận của hàng triệu phụ nữ và trẻ em gái của xứ sở này, vì họ phải đối diện với một tương lai đen tối khi gặp trở lại sự đối xử tàn tệ của nhà nước Taliban.
Vốn ham vui, và rất chóng quên nên mẹ tôi ở lại luôn trong Nam cả năm trời. Hệ quả (hay hậu quả) là tôi cất tiếng khóc chào đời tại Sài Gòn. Khi hiệp định đình chiến được ký kết tại Geneve, vào ngày 20 tháng 7 năm 1954, tôi mới vừa lẫm chẫm biết đi. Cũng mãi đến lúc này bà má mới “chợt nhớ” ra rằng mình còn mấy đứa con nữa, đang sống với ông bà ngoại, ở tuốt luốt bên kia vỹ tuyến. Thế là tôi được bế ra ngoài Bắc, rồi lại được gồng gánh vào Nam (cùng với hai người chị) không lâu sau đó. Nhờ vậy (nhờ ra đời trước cái đám Bắc Kỳ con sinh trong Nam đôi ba năm) nên từ thuở ấu thơ tôi đã được nghe nhiều bài hát ca ngợi tình bắc duyên nam – qua radio – vào thời điểm đó
Tổng Thống Cộng Hòa Liên bang Đức, Frank-Walter Steinmeier mô tả ngày 13 tháng 8 năm 1961, ngày bắt đầu xây dựng Bức tường Berlin (ghi chú thêm: Người Việt Nam gọi là Bức Tường Ô Nhục Bá Linh), là "một ngày định mệnh cho người Đức chúng tôi và cho thế giới". Vào thời điểm đó, "sự phân chia thế giới trong Chiến tranh Lạnh đã được củng cố theo đúng nghĩa đen", ông nói hôm thứ Sáu 13.8.2021 tại lễ niệm xây dựng Bức tường Berlin.
Nhưng điều kiện quan trọng nhất để Việt Nam không bị tụt hậu kinh tế và hàng chục triệu công nhân có thể trở lại làm việc tại các khu công nghiệp, sản phẩm nông-lâm-ngư tiêu thụ được, lưu thông, vận tải được hồi sinh, người dân tự tin đi làm việc, học sinh an tâm đến lớp… là mọi người cần phải chích ngừa loại ưu tiên 1 sẽ có thuốc đầy đủ và được chích miễn phí nhanh chóng. Sau đó là đến toàn xã hội và trẻ em cũng cần phải được tiêm ngừa. Ngược lại, nếu Lãnh đạo chỉ biết hô chống dịch bằng “khẩu hiệu” thì Việt Nam sẽ rước lấy thất bại nhãn tiền.
Ngành tài chánh tuy là nguyên nhân của những cuộc khủng hoảng trầm trọng như tại Đông Á 1998, Mỹ 2007 và khu vực Euro 2010 nhưng đóng vai trò thiết yếu cũng giống như trái tim trong kinh tế thị trường. Nhiệm vụ của thị trường tài chánh là biến tiết kiệm trong dân chúng trở thành nguồn vốn cho doanh nghiệp. Quá trình sạn lọc mang dòng vốn đến với doanh nghiệp tốt để phát triển, kinh tế tăng trưởng thì dân chúng cũng được hưởng lợi ích đầu tư. Bài này tìm hiểu về thị trường tài chánh của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Thị trường ở Mỹ đa dạng phong phú nhưng trải qua những chu kỳ thăng trầm. Trong khi đó ở Hoa Lục thị trường tài chánh không phát triển tự do vì chịu sự kiểm soát chặc chẻ của nhà nước; dòng vốn chảy vào các ngành nghề do nhà nước ưu đãi nên sinh ra lãng phí và lạm dụng. Người dân sau khi tiêu xài nếu còn dư tiền còn 3 chổ để dành hay đầu tư: tiết kiệm (savings tức là gởi tiền vào ngân hàng), đầu tư (investment hay hùn vốn, cho vay, mua chứng khoáng, v.v…), đánh bạc
Tôi đọc truyện “Tình Nghĩa Gíao Khoa Thư” khi còn ở tuổi đôi mươi. Tuổi trẻ bao giờ cũng nhiều lý tưởng. Tôi và bè bạn vẫn tâm nguyện rằng, sau cuộc chiến, thế hệ của mình sẽ cố góp hết sức để dựng xây những phần đất quê hương (bị lãng quên) như vùng U Minh Hạ. Hòa bình, tiếc thay, đã không mang lại cuộc sống an bình như mọi người mong muốn. Không những thế, nó còn khiến cho hàng triệu kẻ đã phải liều mạng rời bỏ quê hương, để mưu cầu một cuộc sống khả kham hơn – nơi đất lạ quê người.
Người nào có bệnh hứa, hứa nhiều mà làm chẳng bao nhiêu thì suốt đời không thể khá được. Tiền đến rồi tiền đi, nhưng những người ở xung quanh ta vẫn nhớ những lời hứa lèo của ta thì kể như tiêu cuộc đời. Nếu người nào rủi bị bệnh hứa thì nên đến bác sĩ tâm lý, chữa trị thế nào cũng sẽ khỏi nhưng phải kiên trì. Có bệnh thì phải chữa, tự mình chữa không được thì phải nhờ đến bác sĩ tâm thần, bác sĩ có kinh nghiệm sẽ tìm mọi cách để chữa trị cho bệnh nhân. Có người có bệnh hứa lèo, nhưng họ nói một cách tự nhiên như thật, đã nói là bệnh mà, người bị bệnh không biết mình bệnh, tội nghiệp thật?
Có thể nói rằng đời sống của bà con đồng bào thiểu số Vân Kiều và Pa – Kô khổ cực không còn gì để nói. Đi dọc theo đường 9 Nam Lào từ thành phố Đông Hà lên cửa khẩu Lao Bảo, qua khỏi những dãy nhà ngói đỏ chói của thành phố chừng 10km, đến đoạn sông Dakrong chảy dọc đường 9 Nam Lào, nhìn sang bên kia sông là những mái nhà lụp xụp nằm lặng lẽ trên đồi, nhìn lại bên cánh rừng dọc đường 9 cũng nhiều mái nhà sàn lợp tranh nhỏ xíu, tuềnh toàng gió lộng nằm giữa các nương sắn hoặc giữa các ngọn đồi trọc. Cảnh nghèo đói hiện ra xác xơ, tiều tụy.
Đêm tân hôn. Yên lặng nhìn cô dâu, chú rể rưng rưng rồi bật khóc. Cô gái trẻ tưởng chồng mình xúc động vì quá hạnh phúc được sống gần người yêu, nhưng sự thật đau lòng hơn nhiều. Anh ta vừa nhận được kết quả dương tính HIV qua cuộc thử nghiệm mà bịnh viện vừa gởi tới. Anh cũng không ngờ số mệnh của mình lại kết cuộc như thế. Sau 3 năm lao động ở nước ngoài, với số tiền dành dụm được, anh vừa mới làm đám cưới với người yêu đã chờ đợi suốt thời gian anh ở nước ngoài. Thời gian thương nhớ 3 năm, cho nên khi chàng trai trở về, thì cô gái đã “cho” người yêu trước đêm tân hôn. Sáng ra, vợ chồng trẻ nhìn nhau, im lặng. Mỗi người miên man biết bao nhiêu ý nghĩ. Tương lai, hạnh phúc gia đình, thái độ phải đối diện với cuộc sống, về con cái, cha mẹ hai bên, về sức khoẻ và về cái chết.
Đàn ông là phải có râu «Nam tu nữ nhũ» như sách đã dạy. Khoa học lý giải râu là biểu hiện sức mạnh và từ đó phát xuất sự ham muốn chiếm đoạt nhưng không vì thế mà râu trở thành môt thứ vũ khí chết người. Râu của người Á châu khác với râu của người Âu châu, cả về cách để râu, chăm sóc râu. Theo kinh nghiệm, nhìn râu, người ta có thể xét đoán về người. Như người cương nghị, người vui tánh, người có máu … Riêng người cộng sản có râu hay không râu, râu tốt hay xấu, đều có liên hệ ít nhiều đến diễn tiến của phong trào cộng sản và số phận người lãnh đạo.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.