Hôm nay,  

Bước Chân Lịch Sử

28/10/200900:00:00(Xem: 6543)

Bước Chân Lịch Sử

Huệ  Trân
Tuần lễ cuối của tháng 10/2009, một tấm hình trên trang nhất của tờ Việt Báo đã bập bùng trong tôi hình ảnh bi hùng của một đêm tháng 5 năm 1977 tại thành phồ Kralow, nước Ba Lan.
Lịch sử thế giới đã mô tả thế chiến thứ hai như là một địa ngục trần gian, không một dân tộc nào không bị đọa đầy, tàn sát. Đất nước Ba Lan được nhận định là chịu nhiều thảm họa nhất, về cả nhân mạng lẫn tài sản.
Cuộc bầu cử gian lận ngày 19 tháng giêng năm 1947 đã đẩy toàn dân Ba Lan vào cuộc sống lầm than, bị tước đoạt nhân quyền và dưới sự kiểm soát hà khắc của một tập đoàn nhà nước đã thần phục Cộng Sản Nga Sô.
Cuộc tranh đấu bất bạo động suốt ba thập niên của dân chúng Ba Lan đã để lại biết bao kinh nghiệm đắng cay, bi thảm mà trong đó không bao giờ thiếu vắng những vị lãnh đạo tôn giáo. Bất kỳ dưới chế độ hà khắc, áp bức nào, giới tu sỹ luôn có mặt với dân chúng để cùng chịu chung sự khủng bố, tù đầy, chết chóc. Những năm tháng đó, Hồng Y Szefan Wyszynski, tổng giám mục Ba Lan, dù khi ở trong tù hay sau khi được thả, không khi nào không cùng nói lên tiếng nói với các thành phần trí thức, sinh viên, công nhân, đại diện toàn dân Ba Lan đòi hỏi tự do và nhân quyền.
Ngày 7 tháng 5 năm 1977, người ta nhìn thấy một xác chết, bị đập bể sọ, nơi góc cầu thang dẫn lên một chung cư. Đó là xác sinh viên Stanislaw Pyjas, 23 tuổi, sinh viên ban triết học trường đại học Kralow. Anh là thủ lãnh sinh viên đoàn, người đã vận động sinh viên các trường ký thỉnh nguyện thư gửi Quốc Hội, tố cáo nhà nước đã vi phạm trầm trọng những quyền căn bản của con người.
Hôm ấy, tiếng chuông trong khắp các giáo đường, các trường học đều đồng loạt ngân vang …. ngân mãi …. ngân suốt dọc đường bất tận mà bạn bè và dân chúng đưa Pijas đến nghĩa trang. Tiếng chuông gọi hồn dân tộc đó dù chấm dứt trong không gian nhưng không chấm dứt trong lòng người nên đêm ấy, cũng trong đêm ấy, khi màn đêm buông xuống là lúc thành phố Kralow chập chờn di động trong muôn ngàn ánh nến lung linh. Ban đầu, người ta ước lượng khoảng 5000 sinh viên , cầm nến trên tay và thầm lặng tiến về trung tâm Royal Castle. Nhưng sự kỳ diệu đến rợn người đã diễn ra bất ngờ khi mỗi căn nhà đoàn sinh viên đi qua là mỗi cánh cửa mở rộng, và người trong nhà, cũng như thế, nến trên tay và thầm lặng nhập đoàn.
Cả một thành phố thầm lặng bước trong đêm, dưới ánh nến bập bùng, nhưng chắc đã soi tỏ tận địa ngục A-Tỳ!
Hôm nay, tấm hình trên Việt Báo với hàng trăm tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, cùng thắp nến tại ngôi chùa Boudhanath Stupa, thuộc ngoại ô Kathmandu, Nepal để phản kháng Trung Quốc vừa kết án tử hình bốn người Tây Tạng, đã khiến tôi liên tưởng tới đêm bạch lạp kỳ diệu năm xưa.
Cái lý do ghi chú trên tấm hình này tuy chỉ là cầu nguyện và lên tiếng cho bốn người Tây Tạng nhưng chúng ta đều biết, đây là tiếng nói u uất từ nhiều thập niên, cất lên cho đất nước Tây Tạng đã bị Trung Quốc xâm chiếm, cho toàn dân Tây Tạng đã bị Trung Quốc áp bức và mưu đồ đồng hóa.
Đường xe lửa nối liền Hoa Lục và Tây Tạng đang ồ ạt đưa người Hán vượt biên hợp pháp, đem theo hành trang ngũ trược cồng kềnh với rắp tâm bôi xóa giá trị đạo đức căn bản của một xứ sở bốn mùa trầm lắng tiếng chuông ngân. 


Nền văn hóa Tây Tạng luôn nằm trong những dự án thẳng tay tiêu diệt của Trung Quốc vì kẻ xâm lược biết, văn hóa mất là dân-tộc-tính mất theo. Dân-tộc-tính không còn thì còn chi dân tộc!
Làm thân phận nhược tiểu luôn bị kẻ lớn hiếp đáp thì điều tiên quyết phải giữ, là nền văn hóa đặc thù. Tự ngàn xưa, Quan Phục hầu Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô Đại Cáo:
“ … Như nước Việt ta từ trước
Vốn xưng văn hiến đã lâu
Sơn hà cương vực đã chia
Phong tục Bắc, Nam cũng khác …”
Rồi những thời bị đô hộ nhục nhằn, Bắc phương cũng không ngừng bắt dân ta cạo răng trắng, bện tóc đuôi sam, đội nón vải tròn, khiến đại đế Quang Trung Nguyễn Huệ từng phải thét vang:
“Đánh cho răng đen, đánh cho dài tóc, đánh cho chích luân bất phản, đánh cho phiến giáp bất hoàn, đánh cho Nam Quốc sơn hà tri hữu chủ”
Trung Cộng xâm chiếm và đàn áp Tây Tạng trước mắt thế giới!
Thế giới vẫn còn lương tâm nhưng sao không ngăn chặn, không lên tiếng bênh vực"
Thế giới từng cảm phục, chứng kiến hình ảnh người sinh viên trẻ Tây Tạng, tên Thupten Ngodup tự tẩm xăng, phựt lửa trên thân mình, chạy ra giữa phố chính ở New Delhi, nơi sẽ sửa soạn đón một lãnh tụ Trung Quốc mà cảnh sát đang thẳng tay giải tán đoàn người Tây Tạng tuyệt thực đòi độc lập. Đúng lúc đó, cây-đuốc-sống xuất hiện bất ngờ, dùng tàn lực hô lớn “Độc lập cho Tây Tạng!” rồi chạy xuyên vào đám đông khiến cảnh sát không thể chặn nổi anh. Với lửa phừng phừng trên da thịt, anh cứ lảo đảo vừa chạy vừa hô “Độc lập cho Tây Tạng! Độc lập cho Tây Tạng ….” Cho đến khi kiệt lực, ngã quỵ với hai tay chắp trước ngực.
Ngay cả phút cuối của đời sống, anh cũng dành động tác sau cùng để cầu nguyện cho quê hương, cho dân tộc.
Lịch sử không bỏ sót một điều gì. Thiện, ác luôn còn đó, không mặt nạ nào tồn tại để che đậy mãi được.
Một Đức Như Lai giác ngộ, năng lượng từ bi lập tức thấm nhuần khắp đại địa.
Một đấng anh hùng khai sinh, lập tức tinh anh hào kiệt soi sáng bao hậu thế.         
Nhất điểm hoa mai nhụy
Tam thiên thế giới hương (*)
Hai câu thơ chỉ có mười chữ thôi mà nức lòng chi lạ!
Hoa mơ một chút nhụy
Ba nghìn thế giới thơm (**)
Hôm nay, tôi không đọc thêm tin tức gì, chỉ ngồi lặng, nhìn mãi tấm hình những tu sỹ và dân chúng Tây Tạng lưu vong, uất nghẹn và nhẫn nhục thầm lặng thắp nến cho những mất mát đau thương của quê hương, dân tộc.
Tôi ngồi yên, và nhìn mãi, nhìn cho thấy tấm hình lột xác, những người trong hình đang di động, đang đi ngang từng căn nhà, từng thành phố, từng quốc gia ….
Tinh thần tranh đấu bất bạo động của dân tộc Ba Lan khi xưa có bùng lên ánh lửa nào, để những căn nhà, những thành phố, những quốc gia mà người Tây Tạng đang thắp nến đi qua sẽ mở cửa, mở cửa …. Không cần làm gì nhiều, chúng ta chỉ thắp một cây nến, mở cửa, và thầm lặng nhập đoàn cùng họ. Một nhà, một thành phố, một quốc gia sẽ thành mọi nhà, mọi thành phố, mọi quốc gia….
Chỉ thế thôi.
Chúng ta thắp nến cho Tây Tạng.
Chúng ta thắp nến cho Việt Nam.
Chúng ta thắp nến cho bất cứ nơi nào mà nhân phẩm và tự do bị chà đạp.
Chúng ta bước theo lời Phật dạy, lời Chúa ban.
Chúng ta theo dấu chân Mohandas Karamachand Ganhdi của phương đông, Martin Luther King của phương tây.
Toàn thế giới sẽ cùng bước những bước chân lịch sử cho hạnh phúc nhân loại.  
Huệ  Trân
(Đường về một mình, tháng 10/2009)
(*) Thiền Tâm cửu tập
(**) Nhật Chiêu dịch 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.