Hôm nay,  

Kinh Tế Đầy Vơi

12/07/201000:00:00(Xem: 9162)

Kinh Tế Đầy Vơi

Nguyễn Xuân Nghĩa

Khi thầy thuốc khoác áo thầy cãi...

Thứ Năm mùng tám vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF công bố tại Hương Cảng bản cập nhật về triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook).
So với phúc trình Tháng Tư, dự báo về mức tăng trưởng kinh tế toàn cầu được nâng thêm 0,4%: trong cả năm 2010, kinh tế thế giới có thể đạt mức tăng trưởng sản xuất là 4,6% thay vì 4,2% như IMF lượng định trước đây. Hầu hết truyền thông báo chí đều đưa lên tựa đề trên trang nhất việc điều chỉnh lạc quan này, coi đó là một tin mừng mà nhiều người trông đợi. Thông thường, khi tốc độ tăng trưởng toàn cầu là 3,5% hoặc ít hơn thì IMF đánh giá là suy trầm, recession (xin nhớ hộ, suy thoái là depression, một bước trước khủng hoảng, là crisis).
Bây giờ, cả năm 2010 mà đạt 4,6% thì tình hình quả là không đến nỗi tệ, và có vẻ khả quan hơn những dự báo của quý trước. Chính quyền Barack Obama cũng nói không khác: tình hình đã có vẻ khá hơn rồi.
Nhưng, cũng trong phúc trình được công bố tại Hương Cảng, IMF lại ước tính rằng đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu vào năm tới sẽ chỉ còn là 4,3% so với 4,6% của cả năm nay. Lồng trong đó là những đánh giá về mức rủi ro gia tăng cho kinh tế năm 2011. Tại Hoa Kỳ, phần ước lượng bi quan này lại ít được truyền thông nhắc tới, nếu ta không chịu khó đọc sâu hơn.
Chúng ta có hiện tượng "ly nước đã đầy một nửa - tức là còn vơi một nửa". Đầy vơi tùy người đối diện! Chẩn đoán lạc quan hay bi quan là tùy người báo cáo hay bình nghị.
Mà Tháng 11 năm nay, Hoa Kỳ sẽ có bầu cử giữa nhiệm kỳ gồm toàn thể Hạ viện, hơn một phần ba ghế Thượng viện - chưa kể hàng loạt cuộc bầu cử đặc biệt cho các ghế nghị sĩ tạm của những người đã tham gia nội các - và một số ghế Thống đốc Tiểu bang hay các chức vụ dân cử địa phương. Và năm tới Mỹ lại đi vào chu kỳ tranh cử cho cuộc tổng tuyển cử năm 2012. Các cuộc bầu cử này đều bị chi phối mạnh nhất bởi mối quan tâm ưu tiên của dân chúng: kinh tế. Trước hết là việc làm, là mức bội chi ngân sách, là gánh nặng công trái... hay gánh nặng thuế khoá.
Tại Hoa Kỳ, trong một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ bốn năm của một tổng thống, đảng của tổng thống đương nhiệm thường mất ghế. Lần này thì chiều hướng đó còn nặng hơn vì nỗi thất vọng của dân Mỹ - nhất là thành phần độc lập - về thành tích của cả Tổng thống Barack Obama lẫn đảng Dân Chủ. Nhưng, nhờ biệt tài riêng - khá gần gũi với... người Việt quốc gia - đảng Cộng Hoà tại Mỹ thường tự phân hoá vì những chia rẽ cục bộ, xuất phát từ mâu thuẫn trong các ưu tiên, cho nên chưa chắc đảng này đã giành lại được đa số bên Lập pháp.
Trong khi chờ đợi, chúng ta chứng kiến một hiện tượng khác của ly nước đầy vơi.
Tình hình kinh tế Hoa Kỳ chưa khởi sắc, thất nghiệp còn quá cao, và nhiều chỉ dấu tiên báo từ hai tháng nay đã chỉ ra nguy cơ suy trầm nữa, tức là đụng đáy hai lần sau khi đụng đáy vào Tháng Bảy năm ngoái. Trong hoàn cảnh ấy và để chuẩn bị cho tranh cử, ta thấy các chính trị gia bên cánh tả, đảng Dân Chủ, ồn ào nói về ly nước đã đầy một nửa - với hàm ý là sau khi bị ông Bush làm cho cạn đáy!
Bên kia, đảng Cộng Hoà cho rằng chính là các biện pháp kinh tế chính trị đầy tốn kém của đảng Dân Chủ sau gần bốn năm kiểm soát Quốc hội và gần hai năm lãnh đạo Hành pháp mới khiến cho ly nước vẫn còn vơi một nửa.
Vì dự báo kinh tế không là khoa học chính xác, người ta thường mỉa mai là các kinh tế gia đã đoán trúng chín lần trong sáu lần suy trầm đã qua! Giới nghiên cứu kinh tế chẳng phiền hà gì về chuyện ấy vì đều biết được giới hạn của mình. Nhưng rất phiền khi thấy các kinh tế gia nhảy vào cuộc tranh luận chính trị để bênh vực một quan điểm xã hội bằng sự hiểu biết kinh tế của mình.
Trong hoàn cảnh kinh tế bấp bênh hiện nay, các ông thày thuốc kinh tế bỗng biến thành thày cãi.
Người ngoại cuộc chẳng hiểu gì nhiều chứ các chính khách thì nhảy vào ăn có. Rằng chủ trương của đảng tôi có sự hỗ trợ của chuyên gia kinh tế, nghĩa là có cơ sở khoa học. Và họ viện dẫn thống kê kinh tế cùng các lập luận của kinh tế gia có chọn lọc để bênh vực lập trường của mình.
Các nhà bình luận cóc nhái bèn theo đó mà làm vấn đề thêm rắc rối khó hiểu....
Chuyện ấy thật ra lại chẳng có gì mới lạ.
Gần 80 năm về trước, kinh tế thế giới bị tổng khủng hoảng (vụ 1929-1933). Ngay giữa cuộc khủng hoảng, ngày 17 Tháng 10 năm 1932, nhật báo Times của Anh đăng tải một lá thư dài của sáu chuyên gia kinh tế, đứng đầu là John Maynard Keynes, đề cao việc cấp cứu bằng tăng chi ngân sách, qua mọi ngả. Kinh tế đang ách tắc, người người lo sợ mà ghim tiền lại thì tài hóa chẳng lưu thông, tình hình sẽ càng nguy ngập. Khi ấy, chính quyền phải gia tăng các mục công chi để bơm thêm tiền vào kinh tế.
Chủ trương ấy được coi là có giá trị, trong nhiều thập niên được giảng dạy như chân lý kinh tế. Và sau này được các chính quyền thuộc cánh tả áp dụng không vì lý luận kinh tế tiềm ẩn bên dưới mà vì yếu tố "chính quyền tăng chi", nghĩa là chính quyền là giải pháp và các chính khách là cứu tinh nên càng dễ đắc cử. Đó là chủ trương ngày nay của đảng Dân Chủ và Chính quyền Barack Obama, có hậu thuẫn của một kinh tế gia nổi tiếng là Giáo sư Paul Krugman của Printon, giải Nobel Kinh tế năm 2008.
Hai ngày sau lá thư của sáu kinh tế gia đó, ngày 19 Tháng 10 năm 1932, tờ Times đăng lá thư phản biện của bốn kinh tế gia thuộc Đại học Luân Đôn, đứng đầu là Friedrich Hayek, sau này cũng là một Khôi nguyên Nobel về kinh tế học. Họ phê bình từng lập luận của trường phái kinh tế kiểu Keynes và phản bác quyết định tăng chi để cứu nguy kinh tế, trong khi đề cao việc khai thông ngoại thương và cảnh báo rằng nguy cơ bảo hộ mậu dịch - hạn chế giao thương để bảo vệ quyền lợi của từng quốc gia - sẽ khiến khủng hoảng còn kéo dài hơn.
Mãi sau này, các nhà nghiên cứu về lịch sử kinh tế mới thấy lý luận của Hayek là đúng, và từ những năm 1970 về sau càng thấy ra sự tai hại của trường phái kinh tế Keynesian, của Keynes. Hoa Kỳ nhớ đến tai họa đó dưới thời Jimmy Carter, Tổng thống một nhiệm kỳ. Chuyện đã xưa rồi..."


Người nào theo dõi cuộc tranh luận này còn chú ý tới một lý luận khác của Friedrich Hayek, rằng việc trao cho chính quyền cứu nguy kinh tế dễ đưa tới chế độ bao cấp - và thậm chí ách độc tài. Những ai nghiên cứu kinh tế xã hội chủ nghĩa, kể cả các kinh tế gia Đông Âu thời Xô viết, đều dễ dàng đồng ý với lập luận ấy, khi so sánh hai nền kinh tế Đông Đức và Tây Đức. Ông Hayek còn viết cả một cuốn sách về hiểm họa này, và trở thành nhà lý luận đáng tin của xu hướng kinh tế tự do, của cánh hữu, của đảng Cộng Hoà tại Mỹ.
Bây giờ, dân Mỹ đang lại chứng kiến cuộc tranh luận tám chục năm trước giữa Keynes và Hayek khi kế hoạch tăng chi để kích thích kinh tế của ông Bush (đầu năm 2008, dự trù là 152 tỷ đô la mà sau thành 168 tỷ) và ông Obama (đầu năm 2009, dự trù 787 tỷ mà sau thành 865 tỷ) đã chưa đạt kết quả.
Mà vấn đề không chỉ là chuyện bàn cãi hàn lâm giữa các nhà nghiên cứu. Lý do là từ khi tranh cử đến khi cầm quyền, ông Obama liên tục hứa hẹn tăng chi để tạo thêm việc làm nhưng thất nghiệp vẫn cứ tăng. So với chỉ tiêu của ông thì hụt mất hơn bảy triệu "job".
Dân thất nghiệp khỏi cần biết mấy ông giáo sư kinh tế đó là ai mà chỉ thất vọng về các toa thuốc kinh tế của chinh quyền. Riêng tại California, nạn bội chi ngân sách cũng khiến cuộc tranh luận này trở thành đề tài thời sự và sẽ ảnh hưởng đến cuộc bầu cử cuối năm nay.
Nhớ lại thì cả hai trường phái kinh tế tạm gọi là tả hữu đó đều xuất hiện trước tiên từ Âu Châu và so sánh với Hoa Kỳ, Âu Châu có xu hướng bao cấp lâu dài và sâu xa hơn Mỹ. Bây giờ, khi kinh tế bị tổng suy trầm ("global recession" hay "great recession" theo cách gọi thịnh hành), Âu Châu bị nghẹn vì bội chi ngân sách quá cao. Nhiều quốc gia còn gặp nguy cơ vỡ nợ vì cứ vay tiền để tăng chi và kiếm phiếu. Khi bị bội chi như vậy mà lại còn đòi tăng chi để cứu nguy kinh tế thì kết quả sẽ ra sao"
Trong tháng trước, cuộc tranh luận về lý thuyết đã trở thành quyết định chính trị.
Các nước Âu Châu cùng hạ quyết tâm cắt giảm công chi để quân bình ngân sách, đi đầu là một quốc gia có kỷ luật ngân sách cao nhất, là Cộng hoà Liên bang Đức. Họ chủ trương kiệm ước và khắc khổ để ưu tiên khôi phục sản xuất. Nghĩa là đi ngược với chủ trương kinh tế kiểu Keynes mà họ theo đuổi trong nhiều thập niên. Ở bên này Đại Tây dương, tiếng nói lạc điệu lại là từ Chính quyền Obama, khi ban tham mưu kinh tế của ông kêu gọi các nước tiếp tục tăng chi để cứu nguy kinh tế.
Tại Thượng đỉnh kinh tế của khối G-8 rồi G-20 ở Gia Nã Đại, các nước ngả theo giải pháp Âu Châu, đồng ý với chỉ tiêu sẽ cắt giảm phân nửa bội chi ngân sách trong vòng ba năm, từ nay đến năm 2013. Chính quyền Obama bị bẽ bàng, nhưng dư luận ít theo dõi chuyện rắc rối ấy.
Thật ra, ở đẳng sau quyết định ngược dòng này của các chính quyền Âu Châu, phải nói đến vai trò và lý luận của một kinh tế gia rất trẻ người Ý mà đang là giảng sư tại Đại học Harvard, vốn nổi tiếng là đại gia thiên tả nếu so sánh với Đại học Standford ở California. Ông ta là Alberto Alesina.
Từ nhiều năm nay, Alesina đã nghiên cứu các thống kê kinh tế và đưa ra lập luận phản bác trường phái của Kenynes bằng con số cụ thể. Tháng Tư vừa qua, ông còn trình cho tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, quy tụ hơn 30 quốc gia giàu mạnh nhất về kinh tế, một phúc trình đầy nghịch lý: chính là chánh sách kinh tế khắc khổ và biện pháp giảm chi để quân bình ngân sách quốc gia mới là giải pháp cứu nguy vì trấn an thị trường trái phiếu và giới đầu tư. Lãnh đạo các nước Âu Châu nghiêng về lập luận ấy và lấy quyết định ngược dòng tại Thượng đỉnh ở Gia Nã Đại.
Người viết thường tránh đề cập tới các vấn đề chuyên môn về kinh tế nhưng lần này lại đặc biệt giới thiệu hàng loạt tên tuổi chuyên gia kinh tế hay các lập luận kinh tế hàm chứa bên trong các quyết định chính trị.
Lý do đơn giản là nền dân chủ tùy thuộc vào dân trí và nếu người dân hiểu ra một vài khái niệm căn bản về kinh tế thì sẽ đỡ bị các chính trị gia lừa phỉnh. Là chuyện tầy trời đang xảy ra bên Mỹ khi Âu Châu đã vỡ mộng bao cấp và cố lùi bước để khỏi trôi xuống vực. Khi các kinh tế gia lại từ bỏ vai trò chuyên môn mà nhảy vào chính trường để bênh vực chủ trương kinh tế bằng lập luận ngoa ngụy thì chúng ta càng nên coi chừng.
Xin kết thúc bằng hai thí dụ.
Ông Valéry Giscard d'Estaing đã từng là Tổng trưởng Tài chánh rồi Tổng thống Pháp. Khi thi tuyển vào trường nổi tiếng là ENA tại Pháp (tạm gọi là Quốc gia Hành chánh), ông được hỏi trong kỳ vấn đáp về John Maynard Keynes và thao thao trình bày học thuyết kinh tế của Keynes với lời phê phán rất nặng. Vị giáo sư ngồi nghe cứ lạnh như tiền - hình như còn lắc đầu. Sinh viên ưu tú này bèn xin thêm 10 phút ra cuối phòng chuẩn bị lại phần trần thuyết rồi quay lại trình bày, cũng thao thao bất tuyệt, với lý luận ngợi ca học kinh thuyết kinh tế của Keynes. Lúc ấy, vị giám khảo mới gật gù khen và cho điểm rất cao.
Rồi cho biết rằng trong thâm tâm thì ông không đồng ý với Keynes!
Ông chỉ thử nghiệm khả năng biến báo, nôm na là hiểu vấn đề và có khả năng đổi trắng thay đen, của cậu sinh viên sau này sẽ ở trong tầng lớp lãnh đạo quốc gia. Quả nhiên là Giscard d'Estaing thành công trên chính trường... Nghĩa là Keynes có lý hay không thì cũng còn tùy nhu cầu chính trị của người làm kinh tế.
Thí dụ thứ hai thì gần với chúng ta hơn, về cả không gian lẫn thời gian.
Lawrence Summers là kinh tế gia nổi tiếng của Harvard, đã từng là Tổng trưởng Tài chánh của Tổng thống Bill Clinton. Ông có góp phần quyết định cho chủ trương giải tỏa kiểm soát tài chánh mà sau này đảng Dân Chủ cho là cái tội của Chính quyền Bush. Năm 1993, ông viết rằng việc tăng trợ cấp thất nghiệp quá lâu sẽ dẫn tới thất nghiệp vì gây tính ỷ lại khiến người ta ít chịu khó tìm việc làm nữa. Y như việc giải tỏa kiểm soát tài chánh, đây là một lập luận đúng về kinh tế và tâm lý - vì kinh tế cũng dựa vào tâm lý học.
Bây giờ, khi làm Cố vấn trưởng về kinh tế cho Chính quyền Obama (Giám đốc Hội đồng Kinh tế Quốc gia), ông lý luận ngược lại những gì đã viết trước đó. Và bênh vực chủ trương nới rộng thời gian trợ cấp thất nghiệp lên tới 99 tuần. Nhìn từ học thuyết kinh tế bên kia, của đảng Cộng Hoà, thì đấy là liều thuốc đổ bệnh!
Thí dụ về Giscard d'Estaing và Summers cho thấy rằng ta rất nên thận trọng khi các kinh tế gia lại thành chính trị gia, thày thuốc lại đi làm thày cãi. Nhiễu âm của họ làm mờ trí người dân cho các chính khách tiếp tục moi tiền thiên hạ để mua phiếu cho mình. Và làm nạn suy trầm sẽ káo dài lâu hơn!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trong buổi phỏng vấn ngày 31 tháng 10 năm 2024 với bình luận gia cánh hữu Tucker Carlson, Tổng thống Donald Trump khẳng định rằng dưới thời Joe Biden, Hoa Kỳ đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi vô tình đẩy Nga và TQ lại gần nhau. Theo Trump, một trong những ưu tiên hàng đầu khi ông quay trở lại Tòa Bạch Ốc sẽ là phá vỡ liên minh này. Khi đó, Trump tự tin tuyên bố: “Tôi sẽ phải tách họ ra, và tôi tin mình sẽ làm được.” Và ngay từ những ngày đầu của nhiệm kỳ thứ hai, Trump đã tỏ rõ mong muốn đàm phán với Nga nhằm nhanh chóng kết thúc chiến tranh ở Ukraine. Một cách giải thích cho chính sách này là: Trump đang làm đúng những gì từng nói trong cuộc trò chuyện với Carlson. Việc rút Hoa Kỳ khỏi cuộc xung đột tại Âu Châu và khôi phục quan hệ với Moscow, kể cả khi phải bỏ rơi Ukraine, là một phần trong chiến lược tập trung đối phó với TQ.
Cuộc đua vào Tòa án Tối cao Wisconsin rất quan trọng vì nó ảnh hưởng lớn đến các vấn đề pháp lý và chính sách trong tiểu bang. Wisconsin là một bang chiến địa quan trọng trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ. Tòa tối cao tiểu bang có thể đóng vai trò lớn trong các tranh chấp liên quan đến luật bầu cử, quyền tiếp cận lá phiếu và các thách thức đối với kết quả bầu cử. Cuối cùng, sự lo lắng có cơ sở của người dân cuối cùng đã được hóa giải. Số tiền “đầu tư” $20 triệu của Musk đã không thắng được sự lựa chọn của Wisconsin.
Lịch sử là sự lập lại, nhìn ngược về thời gian: Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc vào năm 211 (trước Công Nguyên) Ông đã nghe lời vị Tể Tướng Lý Tư đốt tất cả các ghi chép của Sử Gia không thuộc nước Tần, kể cả Kinh Thi. Bất cứ ai thảo luận về Kinh Thi và Kinh Thư sẽ bị xử tử. Trong Sử Ký của Tư Mã Thiên, vụ đốt sách chôn Nho được gọi là “Phần thư khanh nho”, bao gồm việc đốt sách và chôn sống hơn 460 học giả. (1) Năm 1958, Mao Trạch Đông đã liên hệ bản thân ông với Tần Thuỷ Hoàng. Khi ông ta chôn sống 460 học giả ông nói trong một bài phát biểu với các đồng chí của mình: “Các bạn (những nhà trí thức) căm ghét chúng tôi, coi chúng tôi là những Tần Thuỷ Hoàng. Các bạn nhầm rồi. Chúng tôi thậm chí còn vượt Tần Thuỷ Hoàng một trăm lần”.(2) Năm 1975 khi CS miền Bắc, chiếm Việt Nam Cộng Hòa, phong trào đốt sách cũng xảy ra ngay tại miền Nam, Việt Nam. Hàng trăm cuốn sách được người Cộng Hòa mang đi giấu hay mang ra nước ngoài và hàng ngàn cuốn sách bị đố
Hai tháng đã trôi qua. Trên những diễn đàn mạng xã hội và cả trong những cuộc đối thoại đời thường, rất nhiều người thổ lộ về một thói quen vừa xuất hiện: đếm xem còn bao nhiêu ngày nữa kết thúc nhiệm kỳ bốn năm của chính quyền hiện tại. “Đếm thời gian trôi” vốn không phải là một thói quen tích cực trong đời sống. Nó phản chiếu tâm trạng chán nản, buông xuôi, thậm chí là sợ hãi. Hàng loạt câu hỏi “Chúng ta phải làm gì?”; “Rồi chuyện gì nữa?”; “Chúng ta đang sống ở thời đại nào?”… Trong đó, câu hỏi lớn nhất, và biểu lộ sự phẫn nộ của người dân nhất, đó là: “Đảng Dân Chủ đang làm gì?”
Người tị nạn đã không còn được chào đón tại Hoa Kỳ kể từ ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump. Ngay trong ngày nhậm chức 20 tháng 1 năm 2025, ông đã ký một sắc lệnh hành pháp đình chỉ Chương trình Tiếp nhận Người tị nạn của Hoa Kỳ (U.S. Refugee Admissions Program, USRAP) trong vòng 90 ngày. Dù vào tháng 2 năm 2025, tòa án liên bang đã ra phán quyết yêu cầu khôi phục chương trình tái định cư người tị nạn, chính quyền Trump vẫn khẳng định rằng không thể thực hiện điều đó ngay lập tức, do hệ thống tiếp nhận người tị nạn đã bị giải thể gần như toàn bộ.
Trong bài diễn văn dài 90 phút trước Quốc hội Hoa Kỳ, Donald Trump nhắc lại tham vọng “giành lấy” Greenland “bằng cách này hay cách khác.” Trump tuyên bố rằng Greenland có ý nghĩa “sống còn đối với an ninh quốc gia” của Hoa Kỳ. Dù nhấn mạnh rằng chính phủ của mình “hoàn toàn ủng hộ quyền tự quyết của Greenland,” ông vẫn không quên mời gọi “nếu các bạn đổi ý, chúng tôi sẵn sàng chào đón các bạn gia nhập Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.”
Khi Ukraine từ bỏ kho vũ khí nguyên tử và tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT Nuclear Nonproliferation Treaty) với tư cách là một quốc gia phi hạt nhân vào năm 1994, họ đã thi hành một phần của Bản ghi nhớ Budapest (Budapest Memorandum), gồm một số các đảm bảo an ninh bởi Nga, Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Những đảm bảo này nhằm bảo vệ chủ quyền của Kyiv, và biên giới của họ sẽ được tôn trọng. Nhưng khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014 và tiến hành cuộc xâm lược toàn diện vào năm 2022, những cam kết đó đã chứng tỏ là vô nghĩa. Ukraine thấy mình đơn độc, sự sống còn phụ thuộc vào thiện chí của phương Tây và nằm trong tay một kẻ thù được trang bị bằng chính những vũ khí mà Kyiv đã giao nộp. Những tác động này không dừng tại Ukraine mà lan rộng. Trên toàn cầu, các chính phủ đang đánh giá lại ý nghĩa thực sự của các bảo đảm an ninh.
Trong thế giới đấu tranh sinh tồn của loài vật, chuyện cá lớn nuốt cá bé là điều không thể tránh khỏi. Nhưng trong xã hội loài người ngày nay dù đã bước vào thiên niên kỷ thứ ba hơn hai thập niên và được mệnh danh là thời đại văn minh tiến bộ vượt bực vẫn không thiếu chuyện kẻ mạnh ăn hiếp người yếu trong mối quan hệ giữa người với người. Tình trạng mạnh hiếp yếu còn diễn ra khốc liệt hơn trong mối quan hệ ở cấp quốc gia: nước lớn bắt nạt hay xâm lăng nước nhỏ. Ở đây cũng xin giải thích một chút về cách dùng chữ nhược tiểu trong tiêu đề của bài viết này. Chữ nhược tiểu dùng trong bài này hoàn toàn không có ý nghĩa đánh giá tiêu cực về quốc gia được đề cập đến. Chữ nhược tiểu dùng trong bài này là để chỉ cho sự yếu kém về quân sự và kinh tế so với những nước mạnh về quân sự và kinh tế đi xâm lược. Sự yếu kém về quân sự và kinh tế không đồng nghĩa với sự yếu kém về quyết tâm và đồng lòng bảo vệ đất nước của quốc gia bị xâm lược. Ngược lại, cuộc chiến tại Ukraine hiện nay và Việt Nam
Trong lịch sử thế giới, Việt Nam là dân tộc đã trải qua một cuộc nội chiến với kết quả là bản án tử kết thúc chế độ tự do dân chủ miền Nam ngày 30/4/1975. Hơn ai hết, những người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) năm xưa hiểu rõ cảm giác “bị lừa dối” hoặc “bị phản bội” từ bản Hiệp Định Paris do Henry Kissinger và Lê Đức Thọ thỏa thuận sau lưng chính quyền VNCH, với sự ủng hộ của Tổng Thống Richard Nixon lúc đó. Vì thế mà kể từ khi Putin phát động cuộc tấn công xâm lược Ukraine ba năm trước, người dân Việt Nam luôn tỏ rõ lập trường cùng với các lãnh đạo Châu Âu đứng về phía dân tộc và đất nước Ukraine, trừ chính quyền CSVN đã hai lần bỏ phiếu trắng nghị quyết của Liên Hiệp Quốc.
Điều gì thực sự xảy ra khi niềm tin nơi người đàn ông ở Tòa Bạch Ốc đang lung lay? Chúng ta sắp tìm ra câu trả lời rồi. “Ông ta không thể cho biết khi nào Canada sẽ tổ chức bầu cử. Chuyện gì thực sự đang diễn ra ở đó? Ông ta đang cố gắng duy trì quyền lực phải không?” Donald Trump đã viết trên mạng xã hội sau cuộc trò chuyện với Thủ tướng Justin Trudeau vào tuần trước.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.