Hôm nay,  

Phía Bên Kia Chân Trời

15/03/201100:00:00(Xem: 9744)

Phía Bên Kia Chân Trời

Ngân Giang

Duy thức tông là một tông phái lớn trong Đại Thừa. Cái tên “duy thức” tóm tắt toàn bộ tư tưởng của tông phái này. Mọi vật, bao gồm tất cả sinh động vật, chung quanh mà mình đang thấy hay cảm nhận đều xuất phát từ tâm thức. Thế giới khách quan bên ngoài mà mình tự cho là biết đến từ ngũ giác, và cái thế giới đó không hiện hữu. Đi xa hơn nữa, cả cái “ta”, cái chủ quan mà mình dùng để nhận biết cái khách quan bên ngoài cũng không thật.

Chỉ có thức, hay còn gọi là tâm, là cái duy nhất hiện hữu, và từ thức mà mình cảm nhận được mọi thứ. Nếu dùng ngôn ngữ thế kỷ 21 để diễn đạt tư tưởng có từ thế kỷ thứ 6 ở Ấn Độ này thì mình sẽ nói là khi đến rạp xi nê xem phim không gian 3 chiều, mỗi người được phát một cái kính đặc biệt chỉ dùng để xem phim 3D, và trong trường hợp đó thì kính xem phim là cái chủ quan mà tâm thức, ở đây là người xem, dùng để cảm nhận thế giới khách quan là bộ phim 3D.

Có thể tìm thấy một tư tưởng tương tự ở trời Tây, vào thời đại Phục Hưng, trong câu nói nổi tiếng của Descartes “I think therefore I am” (Tôi nghĩ cho nên tôi hiện hữu) khi ông băn khoăn và hoài nghi tất cả, từ niềm tin cho đến sự hiện hữu của chính mình. Câu nói này là lời kết luận cuối cùng trong chuỗi suy tư của ông. Thế giới khách quan và bản thân con người xương thịt ông có thể không hiện hữu, nhưng nhận thức của ông là có thật, vì nếu không thì làm sao ông biết mình đang suy nghĩ được.

Có thể còn nhiều nguyên nhân cơ bản khác, nhưng tư tưởng của Descartes đã không trở thành tôn giáo hay dùng để phát triển giáo lý cho một tôn giáo nào như duy thức tông có lẽ là do tư tưởng Á châu thiên về tìm lời giải đáp cho những mảng trầm mặc, huyền bí trong đời sống con người. Cụ thể là chính thiền sư Vô Thức, một tăng sỹ ở Ấn Độ đã sáng lập ra Duy Thức Tông, trong khi Descartes là một triết gia người Pháp. Nếu ai thích ví von có thể nói một nhà hiền triết Á châu sẽ trở thành hoặc vốn là một tu sỹ, còn một hiền triết phương Tây sẽ trở thành một triết gia. Cùng là trăn trở về tương lai, về phía bên kia chân trời, nhưng người phương Đông thường bắt đầu từ quá khứ, còn người phương Tây xuất phát từ hiện tại.

Thật ra Duy Thức Tông không hoàn toàn mới mà chỉ là đào sâu hơn triết lý Phật giáo nguyên thuỷ từ khi Đức Thích Ca Mâu Ni giác ngộ hơn 1 ngàn năm trước đó. Trong 3 đặc điểm mang tính nguyên lý của Phật giáo là vô ngã, vô thường và khổ thì 2 nguyên lý đầu rất gần với tư tưởng duy thức tông. Vô ngã nghĩa là không có cái “ta” bởi lẽ không có cái gì tự bản thân mà có; mọi thứ đều lệ thuộc lẫn nhau, đều tuân theo quy luật nhân duyên, trong đó cái này là hệ luỵ của cái xảy ra trước nó. Như vậy, dẫu lời lý giải có thể khác, nhưng vô ngã chính là sự phủ nhận sự hiện hữu của cái chủ quan trong duy thức tông. Còn vô thường định nghĩa mọi hiện tượng trên thế giới đều liên tục biến đổi không ngừng. Mọi thứ, mọi sinh đông vật, động hay tĩnh, đều chỉ là hiện tượng tức thời và vì thế không có gì có thể bất biến hay vĩnh hằng. Như vậy từ vô thường đến việc phủ nhận luôn thế giới khách quan trong duy thức tông chỉ còn là một bước nhỏ, mặc dầu phải đợi đến gần 1 ngàn năm sau tông phái này mới ra đời.

Người ta thường hay trầm tư, bi quan khi đối diện mất mát lớn. Có người sớm suy tư khi còn đang vui vầy hạnh phúc, có người khi mất người thân thuộc thì nghĩ đến, có người đợi đến chính số mệnh của mình bị đe doạ trầm trọng mới trăn trở, và cũng có người vô tư cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Cuộc hành trình trong tư tưởng của mỗi người không hoàn toàn giống nhau, và mỗi người tuỳ hoàn cảnh và thời gian mà ở một chặng đường khác nhau trong cuộc hành trình đó. Có người dùng niềm tin, hay tôn giáo, chủ thuyết nào đó làm kim chỉ nam hay là một ngọn đuốc soi đường cho cuộc hành trình đó. Thế giới toàn cầu hoá ngày hôm nay tuy được thu nhỏ lại nhờ công nghệ, kỹ thuật khoa học tiến bộ nhưng lại quá phong phú, đa dạng và năng động nên dầu kế thừa được những tư tưởng lớn 5 ngàn năm văn minh nhân loại, nhưng con người ngày hôm nay vẫn chưa thể thống nhất tìm ra một con đường đi chung cho tất cả. Cái tít bài báo mấy năm trước đăng tin Thủ Tướng Tony Blair của Anh đổi từ đạo Anh giáo sang Công Giáo không làm mình suy nghĩ nhiều bằng lời chúc mừng ông Blair của Giám mục Anh giáo ỏ Luân Đôn khi nói “chúc mừng Thủ Tướng trên con đường hành trình tâm linh của mình.”

Thủ Tướng Anh Tony Blair chắc không đơn giản chỉ đổi đạo theo vợ một cách hời hợt trong một xa hội đại đa số là Anh giáo và ông là một chính trị gia cần sự ủng hộ của dân chúng mà chắc ông cũng đã từng trăn trở, hoài nghi về chính con đường mình đang đi. Hoài nghi tất cả là lời dạy của Socrates cho học trò mình ở Hy Lạp, trên dưới 1 thế kỷ sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni khai sáng đạo Phật. Hoài nghi là thách thức và cũng là cơ hội. Nó bắt mình đặt câu hỏi và tìm câu trả lời. Nó có thể làm rung rinh cái nền tảng mình đang đứng và nó cũng có thể củng cố vững chắc hơn cái nền tảng đó. Hoặc cả hai.

Cuộc hành trình đến cuối chân trời mênh mông và thăm thẳm, không biết bao giờ hay sẽ có ngày đến được. Phía bên kia chân trời đó là gì, và như thế nào" Ngày nào mình còn nghe được hơi thở và suy nghĩ của chính mình thì ngày đó mình còn được may mắn băn khoăn mãi câu hỏi đó.

Ngân Giang

Palm Beach 13/3/2011

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.