Hôm nay,  

Hậu Quả Bất Lường

21/03/201100:00:00(Xem: 12094)
Hậu Quả Bất Lường

Nguyễn Xuân Nghĩa

Từ Iraq tới Libya... Chuyện đáng sợ nữa, Lybia có thể thành hang ổ của khủng bố...

Một Tổng thống Mỹ có máu Kenya của châu Phi và có kinh nghiệm Hồi giáo của Nam Dương lại vừa quyết định tấn công một nước Hồi giáo: Libya là quốc gia Hồi giáo thứ ba bị ăn hỏa tiễn Tomahawk của Hoa Kỳ. Vì sao có chuyện kỳ lạ như vậy" Vì quy luật "hậu quả bất lường'!
Năm 2000, trong cuộc tranh cử tổng thống với Phó Tổng thống Al Gore bên đảng Dân Chủ, Thống đốc Texas là George W. Bush nêu ra một số chủ trương về đối ngoại của ông.
Hoa Kỳ không can thiệp vô lối vào xứ khác, không áp đặt các giá trị tinh thần của mình - như nguyên tắc dân chủ - cho quốc gia khác và nên giữ thái độ khiêm cung với thế giới. Chủ trương đó phản ảnh cái nhìn sâu xa của một số khuynh hướng trong đảng Cộng Hoà của ông Bush.
Đó là tránh can thiệp vào thiên hạ sự nếu không vì quyền lợi sinh tử của nước Mỹ. Nếu đã phải can thiệp thì cần xác định mục tiêu rõ ràng và cung cấp phương tiện đầy đủ để hoàn thành nhiệm vụ là sớm rút hầu còn giải quyết chuyện riêng của nước Mỹ. Người ta thường gọi lầm lý luận ấy là "Chủ thuyết Powell", do tên của Đại tướng Colin Powell, nhân vật da đen xuất sắc trong ban tham mưu của ông Bush - và sau này làm Ngoại trưởng da đen đầu tiên của Chính quyền George Bush 43. Thực tế, đó là chủ trương của Caspar Weinberger, Tổng trưởng Quốc phòng và thượng cấp của Tướng Powell từ thời Ronald Reagan.
Thống đốc Bush nêu ra chủ trương trên không chỉ để đả kích Chính quyền Bill Clinton - Al Gore đã can thiệp vào Kosovo năm 1998-1999 và nuôi tham vọng xây dựng quốc gia trong khu vực Balkan sau khi Liên bang Nam Tư tan rã. Ông thành thực tin như vậy và nhân vật sau này sẽ là Phó Tổng thống cho ông, Dick Cheney, cũng nói rõ như vậy khi là Tổng trưởng Quốc phòng cho Tổng thống George H. Bush (Bush 41).
Trong cuộc chiến vùng Vịnh năm 1991 để đẩy lui quân Iraq đã tấn công Kuweit, Tổng trưởng Quốc phòng Cheney chủ trương là không nên vào Baghdad lật đổ chế độ Saddam Hussein. Vì khi ấy, Hoa Kỳ sẽ lãnh trách nhiệm xây dựng lại cơ chế chính trị cho Iraq, với rất nhiều khó khăn về sắc tộc, tôn giáo và chính trị.
Vụ 9-11 bất ngờ xảy ra khiến Chính quyền Bush-Cheney đảo ngược mọi chủ trương ban đầu và gặp những vấn đề mà cả hai ông Bush lẫn Cheney đều biết trước và nói rõ. Khi lên lãnh đạo, người ta gặp bài toán thực tế khiến phải lấy những quyết định khác.
Trong đó có quyết định mở ra chiến dịch Iraq vào ngày 20 Tháng Giêng năm 2003.
****
Nhìn xa hơn, George Bush đã lãnh vụ Iraq từ hai vị tiền nhiệm là Bush 41 và Clinton.
Năm 1998, rất nhiều nhân vật cả Dân Chủ lẫn Cộng Hoà đều chủ trương là Hoa Kỳ phải mạnh tay với chế độ Saddam Hussein. Chúng ta sẽ trở lại chuyện này, chỉ cần nhớ rằng khi ấy, Chính quyền Bush 41 bị kết án là vì nương tay mà Saddam Hussein đã tàn sát hai sắc tộc Shia ở miền Nam và Kurd ở miền Bắc. Số nạn nhân có thể lên tới hai vạn, đa số chết vì bom hơi ngạt hay võ khí hoá học.
Chính quyền Clinton chấp hành nghị quyết cấm bay trên hai khu vực Bắc và Nam để bảo vệ dân Kurd ở phía Bắc và dân Shia ở phía Nam. Nghị quyết ấy thật ra có hai phần. Phần đầu là do ba nước - ngẫu nhiên sao cũng đang dẫn đầu vụ tấn công Libya - Anh, Pháp và Mỹ quyết định năm 1991 khi viện dẫn Nghị quyết 688 của Liên hiệp quốc. Năm 1998, Pháp rút lui (!), chỉ còn Anh-Mỹ duy trì áp lực, khi mạnh khi yếu, và vẫn viện dẫn Nghị quyết 688. Văn kiện này không hề có chữ "vùng cấm bay" - no fly zone. Phía Cộng Hoà đã có lần mỉa mai là ông Clinton cho máy bay cất cánh tấn công Iraq khi bị hoạn nạn vì nàng Monica Lewinsky!
Thực tế thì cuối năm 1998, chính trường Hoa Kỳ cùng hùa theo Liên hiệp quốc và các nước lên tiếng kết án Saddam Hussein, mà mạnh miệng nhất là các chính khách Dân Chủ, kể cả Nghị sĩ John Kerry. Rút kinh nghiệm tàn sát của Saddam Hussein bằng võ khí hóa học, người ta đều cho rằng chế độ hung đồ này có loại võ khí giết người hàng loạt. Khi quyết định tấn công Iraq, Chính quyền Bush 43 đã nêu vấn đề võ khí tàn sát như lý do chính và khi Hoa Kỳ ra quân, chính Bill Clinton còn cảnh báo là quân lực Mỹ phải coi chừng nguy cơ tàn sát đó.
Tất cả các cơ quan tình báo của Anh, Pháp, Nga, Mỹ, v.v... cũng đều tin như vậy.
Quyết định tấn công Iraq của Bush 43 tiến hành khá chậm, mất nhiều tháng vì cần chính nghĩa quốc tế: sự thỏa thuận của Liên hiệp quốc qua 17 Nghị quyết khác nhau. Việc Pháp đổi ý không làm thay đổi sự thật là có 40 quốc gia tham dự và có hậu thuẫn của Quốc hội với lá phiếu Dân Chủ. Sự thể chỉ thay đổi khi người ta không tìm ra võ khí tàn sát mà có thể mắc đòn tháu cáy của Saddam Hussein.
Và thay đổi mạnh khi Hoa Kỳ lật đổ Saddam Hussein trong chớp nhoáng rồi sa lầy vì những vấn đề mà Dick Cheney đã nêu ra năm 1991. Về sau, ông này trở thành nhân vật hắc ám nhất của Chính quyền Bush. Lại còn có quan hệ với tập đoàn Halliburton chuyên về kỹ nghệ dầu khí! Y hệt như gia đình Bush....
Thuyết âm mưu mờ ám - Hoa Kỳ tham chiến để kiếm dầu do áp lực của tài phiệt dầu hỏa - lại được mùa cho những người không am hiểu thực tế kinh tế. Mất cả ngàn tỷ để thu về mối lợi trăm tỷ chỉ là quyết định kinh doanh gây phá sản.
Trong năm 2003 đó, có một Nghị sĩ Tiểu bang - cấp địa phương Illinois - là Barack Obama lại bỏ phiếu chống vụ Iraq mà chẳng ai thèm để ý. Ông đại diện cho một địa phương có chủ trương phản chiến từ lâu và lá phiếu không có ảnh hưởng gì tới quyết định cấp quốc gia. Nhưng cho phép ông mạnh miệng lên tiếng khi ra tranh cử chức Nghị sĩ Liên bang năm 2004.
Từ năm 2005, khi đảng Dân Chủ đảo ngược lập trường từ chủ chiến sang phản chiến tại Iraq, lá bài Obama bỗng sáng trưng. Từ đó cứ bốc như diều dù nổi tiếng là bỏ phiếu "có mặt" chứ không dám quyết định gì suốt bốn năm làm Nghị sĩ - từ 2005 tới cuối 2008 - chưa kể hai năm bận tranh cử tổng thống, từ giữa năm 2007 trở về sau.
Cho đến khi Hoa Kỳ tham chiến tại Libya, vào ngày 20 Tháng Ba vừa qua, đúng tám năm sau khi Bush 43 vào Iraq!
Bush vào Iraq với một Nghị quyết của Hội đồng Bảo an theo tỷ số 15-0, Obama vào Libya với một Nghị quyết có tỷ số 10-0. Bush nhận trách nhiệm lãnh đạo cuộc chiến và công nhận sai lầm tại Iraq nên đơn phương quyết định sửa sai khi cho dồn quân đánh tới từ đầu năm 2007 và đảo ngược quan hệ với phe Sunni bị quân lực Mỹ lật đổ. Và đem lại hy vọng cho Iraq.... cho Obama tại Iraq.
Chúng ta trở lại quy luật "hậu quả bất lường".
Lãnh đạo nào lên cầm quyền tại Hoa Kỳ cũng nghĩ rằng mình sẽ làm thay đổi bộ mặt của thế giới - hay nước Mỹ - nhưng thật ra vẫn chịu nhiều ảnh hưởng tốt xấu của người tiền nhiệm và bị chi phối bởi những yếu tố mình không biết khi còn ở vòng ngoài, khi đi tranh cử. Sau đó mới phải quyết định và thường thì quyết định trái ngược với chủ trương ban đầu.
Chuyện Libya mở ra như vậy.
****
Ngay từ đầu, từ những ngày 17 đến 19, người ta đã thấy ra sự lúng túng và bất nhất của "liên quân quốc tế" dưới lá cờ Liên hiệp quốc.
Pháp nhận vinh dự khai hỏa với các chiến đấu cơ cất cánh từ khá xa, hai căn cứ Không quân trong lãnh thổ Pháp, để tấn công các - hình như chỉ là một - chiến xa của Moammar Gaddafi. Công sức nhiều mà kết quả ít chỉ vì một nhu cầu: chứng tỏ mục tiêu chính trị của việc tham chiến là bảo vệ thường dân.

Giữa các đồng minh, thiên hạ cũng bắt đầu đàm tiếu việc Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy muốn hoãn khai hỏa để có một thượng đỉnh cấp tốc và chớp nhoáng tại Paris. Nhu cầu ngoại giao hay phô trương đó của phe "đồng minh" khiến quân Gaddafi có nửa ngày vàng ngọc để vào tới cứ điểm sau cùng của phe nổi dậy là thành phố Benghazi của miền Đông.
Trong khi ấy, phe nổi dậy vừa cướp được một chiếc MiG của Gaddafi để bay lên thị uy thì chiến đấu cơ này bị chính phe mình bắn lầm khiến phe Gaddafi khoe là đã hạ một phi cơ Pháp! Chúng ta đang ở trong những bước đầu của một cuộc chiến rắc rối nên mọi tin tức đều chỉ là sơ khởi, cục bộ và thường thì sai hơn đúng...
Sự thật thì liên quân có hơn một tá căn cứ quân sự trong lãnh thổ Âu Châu và trên Địa Trung Hải làm bàn đạp tấn công Libya. Sự thật thì liên quân có một chục chiến hạm và tầu ngầm, kể cả ba hàng không mẫu hạm (Charles de Gaulle của Pháp đang dời quân cảng Toulon, Garibaldi và Cavour của Ý đã có mặt ở ngoài khơi), để yểm trợ cuộc chiến. Sự thật thì Hoa Kỳ đi sau, để hỗ trợ, mà tới trước với khoảng 140 hỏa tiễn loại "thiềm du" - cruise missiles - đã bắn vào hệ thống phòng không của Libya. Và một ngày sau thì coi như đã "gây thiệt hạ đáng kể" cho phe Gaddafi. Sự thật là quân lực Mỹ vẫn giữ vai trò quyết định nhưng lánh mặt để Âu Châu "lãnh đạo" quyết định tham chiến của Liên hiệp quốc.
Và sự thật là tình hình sẽ không mau chóng gọn nhẹ như vậy.
Khi quyết định tham chiến, Tổng thống Barack Obama nêu rõ lý do là để cứu lấy thường dân Libya. Nếu lý do là mục đích thì Gaddafi phải đầu hàng, ra đi hoặc bị ám sát - như phía Pháp có lúc đề nghị và Bush 43 đã muốn thi hành năm 2003 tại Iraq mà không xong.
Sau đó, ai sẽ lãnh đạo Libya thì ta chưa biết. Mục tiêu thì đơn giản nhưng cách đạt mục tiêu và hậu quả sau đó thì lung linh mơ hồ. Kịch bản khó chịu nhất cho quân đội!
Khi Bush tham chiến tại A Phú Hãn và Iraq thì có Liên hiệp quốc, NATO hay các đồng minh khác. Obama sáng hơn Bush khi có sự ủng hộ của vài nước Á Rập - yếu tố khiến Nga và Trung Quốc không dám phủ quyết. Nhưng chỉ sáng như que diêm.
Liên hiệp Phi châu gồm 52 nước Phi châu và Maroc (một xứ Bắc Phi) kêu gọi lập tức ngưng bắn để cứu trợ thường dân. Và khẩn cấp triệu tập một hội nghị Á Rập ngày 25 này tại thủ đô Addis Ababa của Ethiopia với đại diện của Nghị hội Hồi giáo (Organization of the Islamic Conference), Liên hiệp Âu châu và Liên hiệp quốc. Người ta không thể quên là Gaddafi có quan hệ gắn bó - và lý tài - với 14 quốc gia châu Phi, từ vùng Sahara tới Nam Phi và dân Phi châu không vui gì với việc Tây phương lại ra đòn quân sự với một quốc gia trong lục địa của mình. Nó gợi nhớ kinh nghiệm thực dân, là điều Gaddafi lập tức khai thác.
Rắc rối hơn thế, hôm 20, Liên đoàn Á Rập gồm 22 quốc gia Á Rập lại có tiếng nói khác.
Tổng thư ký Amr Moussa - người Ai Cập sắp về nhà tranh cử Tổng thống - than phiền về quyết định tham chiến, kêu gọi ngưng bắn và cũng triệu tập hội nghị khẩn cấp. Moussa cho là các nước Tây phương áp dụng sai nghị quyết của Liên hiệp quốc khi mở cuộc tấn công có thể gây tổn thất cho thường dân.
Đâm ra, cỗ xe ngoại giao của Tây phương với các nước Phi châu và Á Rập - chính nghĩa quốc tế - vừa lăn bánh đã long bánh. Nếu thường dân mà bị thiệt hại - bom đạn vốn vô tình mà Gaddafi thì cố ý - sự rạn nứt sẽ khiến que diêm của Obama tắt ngúm! Là người có huyết thống Kenya của châu Phi, lại rất nhạy cảm với cái nhìn của thế giới thứ ba về nước Mỹ. Tổng thống Mỹ sẽ chột dạ nhanh hơn một tay cao bồi Texas như Bush 43.
Ông sẽ lại mua cuốn "Khi Đồng Minh Tháo Chạy" của một tác giả Việt Nam về đọc! Trong khi chờ đợi ông ta lại đổi ý, hãy thử nhìn lại diễn biến sắp tới của cuộc chiến.
****
Trong hình thái chiến tranh này, tin tức tình báo vẫn là then chốt.
Liên quân Tây phương có thể đã thả đặc vụ SAS của Anh - hay cả lính Lê dương Pháp - vào truy tìm và trao đổi tin tức với các nhóm nổi dậy, nhưng ta chưa biết kết quả. Trong đợt tấn công đầu tiên, Liên quân phải nhắm vào việc tiêu diệt hệ thống điều khiển chiến tranh của Gaddafi - chuyện không dễ. Nhưng yêu cầu về chính trị - ra quân để bảo vệ thường dân - đòi hỏi việc tấn công cả những mục tiêu di động của phe Gaddafi, là chuyện còn khó hơn và rủi ro hơn, với nạn quân mình bắn dân ta khi thông tin thiếu chính xác, hoặc bị Gaddafi gây lầm lạc mà yểm võ khí trong dân.
Hoa Kỳ và các nước Tây phương chiếm lợi thế kỹ thuật là có thể tiêu diệt khả năng chống cự của Gaddafi theo kiểu quy ước. Đấy là tin chiến thắng của mấy ngày tới. Nhưng sau thắng lợi ban đầu, chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Gaddafi không muốn hay không thể kết thúc bằng cách lưu vong hay tự sát. Ông ta ở vào vị trí tuyệt vọng hơn lãnh tụ Slobodan Milosevic của Serbia sau vụ Kosovo năm xưa, nên sẽ lại kêu gọi hưu chiến, lần nữa. Rồi phản công với những gì còn lại trong tay - nhiều lắm, kể cả hình thái du kích: kinh nghiệm Taliban tại A Phú Hãn và Sunni tại Iraq.
Tổn thất dân sự khi ấy chỉ tăng chứ không giảm và Liên quân sẽ tự hỏi: có thả thêm quân vào bàn cờ này chăng" Obama đã nói ngay từ đầu là không. Khi ấy, Anh, Pháp hay Ý nghĩ sao" Tiến vào Libya dưới sức mạnh không yểm của Mỹ" Tiến đến đâu và trong bao lâu thì đủ, trước khi dân chúng ở nhà sốt ruột và nước Mỹ đổi ý"
Trong giả thuyết lạc quan - mà thực tế - nếu liên quân đổ bộ thì chế độ Gaddafi có thể sớm bị lật đổ. Nhưng sau đó mới là vấn đề khiến nhiều người đổi ý vì không ai muốn ở lại thu dọn chiến trường, xây dựng dân chủ và bị bắn sẻ trong khi ngần ấy lực lượng nổi dậy lẫn tàn dư của chế độ Gaddafi đều có tham vọng chính trị - và rất nhiều võ khí....
****
Như vậy, trong mấy ngày tới, tin thắng lợi của Tây phương sẽ làm nức lòng ba quân vì đây là phần dễ ăn nhất. Sau đó mới đến món gân gà nuốt vào không nổi. Và là chuyện đáng lo nếu Liên quân tiến vào để chấm dứt nạn tàn sát thường dân mà thường dân lại chết nhiều hơn trước. Chuyện đáng sợ nữa, Lybia có thể thành hang ổ của khủng bố, với hậu thuẫn của nhiều lực lượng Á Rập hay Phi châu bất mãn.
Theo truyền thống, khi quân lực Mỹ ra tay, dân Mỹ đều đồng tâm ủng hộ và sát cánh sau lưng vị Tư lệnh tối cao của quân đội là Tổng thống. Nhưng cũng dân Mỹ đó lại rất dễ đổi ý - và thực tế là không chấp nhận một cuộc chiến nào kéo dài quá bốn năm.
Con người khiêm cung và thận trọng như George Bush - một Thống đốc nổi tiếng dung dị hợp tác với đối lập Dân Chủ tại Texas - đã học được bài học đó khi phải lấy quyết định ngược với triết lý của mình. Rồi bị kết án đủ tội, kể cả và nhất là gian dối, bởi những người đã từng ủng hộ ông. Vậy mà ông vẫn tái đắc cử năm 2004.
Bây giờ, đến lượt Barack Obama và bài học về "hậu quả bất lường".
Ông muốn giảng hòa với thế giới Hồi giáo để sửa sai chính quyền trước hầu rút khỏi Iraq và A Phú Hãn. Rốt cuộc, ông mở ra cuộc chiến thứ ba với một nước Hồi giáo, chỉ để cứu vớt thường dân Libya, vốn bị tàn sát vài ngàn, vài phần trăm so với thành tích Saddam Hussein. Phẩm và lượng!
Về chuyện khoan hay cấp, chậm hay mau, ông lấy quyết định quá chậm rãi - từ cuối tháng Hai qua mấy tuần của tháng Ba - rồi lại hấp tấp, ngược với quan điểm của Tổng trưởng Quốc phòng Robert Gates cùng nhiều tướng lãnh. Và quên hẳn điều mà Đại tướng David H. Petraeus - Tư lệnh Chiến trường A Phú Hãn - mới trình bày cho Quốc hội vài ngày trước. Rằng Hoa Kỳ còn có thể phải giữ quân tại A Phú Hãn cho tới.... 2014!
Lãnh tụ Georges Clémenceau, Con Cọp của Pháp, từng khuyên rằng "chiến tranh là chuyện quá hệ trọng để giao cho các tướng lãnh". Ông quên mất nhiều chính khách Hoa Kỳ!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
Ở New York, khoảng 2 triệu cử tri đã đi bỏ phiếu cho cuộc bầu cử thị trưởng lần này, cao nhất từ năm 1969, theo dữ liệu của NBC. Tất cả người dân hiểu được tầm quan trọng của lá phiếu lần này. Mười tháng qua, có vẻ họ hiểu được mức an toàn cuộc sống của họ ra sao, và sức mạnh của nền dân chủ hơn 200 năm của Hoa Kỳ đang lâm nguy như thế nào.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.