Hôm nay,  

Chiều Trên Phi Đạo

11/05/201100:00:00(Xem: 9875)

Chiều Trên Phi Đạo

chieu_phi_dao_phi_co-large-content: C-130 loại mới nhất.

chieu_phi_dao_tren_phi_co_o_phan_rang-large-content: Ngồi ghế Co-Pilot A-37 (Phi Đoàn 534) không yểm cho Sư Đoàn 23 BB ở mặt trận Buôn Hô.

Đỗ Văn Phúc

Đức với tay lấy túi đồ nghề rồi nhanh nhẹn nhảy phóc lên chiếc van đậu sẵn. Trên xe, bác Mười Ngàn đã ngồi chểm chệ ở ghế cạnh tài xế. Ông quay lui điểm danh toán của mình và nói với trưởng toán người Mỹ đang làm tài xế: "Thằng Minh, thằng Côn, thằng Đức, đủ rồi. Let's go, Mr. Dunaway."

Xe chạy qua dãy hangar bảo trì trung cấp rồi thẳng về cuối phi đạo, nơi có các hangar lộ thiên dành cho các phi cơ vận tải khổng lồ C-130 của hai phi đoàn 435 và 437, Sư Đoàn 5 Không Quân.

Chiều đã xuống thấp nhưng ánh nắng vẫn còn gay gắt. Hơi nóng bốc lên từ nền xi măng hừng hực. Từ trên xe, có thể nhìn thấy qua lớp không khí đặc quánh mờ ảo như những lớp sóng. Xe thả các toán viên mỗi người tại một ụ cách nhau chừng 30 mét. Ở đấy đã có các quân nhân thuộc đơn vị Bảo Trì luôn túc trực sẵn. Toán nhân viên dân sự sẽ cùng làm việc với các quân nhân này, nhưng lại chịu trách nhiệm chính về việc bảo trì.

Hãng LSI nhận thầu bảo trì các loại phi cơ của Không Lực Việt Nam. Nhân viên cơ khí của hãng LSI là các cựu quân nhân Không Quân. Đa số là các quân nhân bảo trì đã đáo hạn tuổi về hưu, một số khác là các sĩ quan phi hành giải ngũ vì chiến thương. Côn và Minh đều là hoa tiêu trực thăng gãy cánh; chỉ có Đức là thành viên đặc biệt ngoại lệ, vì là cựu sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị giải ngũ do nội thương, và không hề có chút kinh nghiệm nào về bay bổng cũng như cơ khí hàng không. Ở đây, ngôi vị đã đảo lộn. Các cựu hạ sĩ quan cơ khí, do có nhiều kinh nghiệm, nên được bậc lương cao, và được đặt làm sếp các cựu sĩ quan. Ngày xưa thì xưng hô trang nghiêm bằng cấp bậc, nay thì mày tao, dựa trên tuổi đời. Đối với cựu Thượng Sĩ Nguyễn Văn Ngàn, thì tất cả mọi người đều kính mến và gọi thân mật là bố, bố Mười Ngàn. Có lẽ ông là chuyên viên cơ khí kỳ cựu nhất của Không Lực Việt Nam. Ông cùng thời với các cựu Tư Lệnh như Đại Tá Nguyễn Xuân Vinh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Ông từng đi học nghề ở Pháp, Mỹ; lấy vợ Lào, và đang sống một cách phong lưu trong một căn nhà được bao quanh bằng một vườn trái cây rộng lớn ở Gò Vấp. Ông làm Trưởng Toán của ca chiều chúng tôi.

Giờ đổi ca hàng ngày là 6 giờ sáng và 6 giờ chiều. Ngay từ lúc còn hưởng 4 tháng phép trước khi chính thức giải ngũ, Đức đã may mắn được nhận vào làm cơ khí viên cho hãng LSI. Học một tháng căn bản về động cơ là được lãnh lương AGM-3 , mức thấp nhất trong thang lương của cơ khí. Chỉ sau một năm, anh leo vượt lên bậc SM-1 và còn có hy vọng được thi vào bậc AT. Trong lúc này, Đức còn đang học tiếp năm chót tại Đại Học Vạn Hạnh. Anh thuê một căn phòng sâu trong hẻm 220 Trương Minh Giảng, cạnh trường. Sau khi vợ anh từ Vũng Tàu đem ba đứa con lên Sài Gòn, anh dời về một căn phòng của căn nhà cho mướn sau lưng nhà thờ Tân Sa Châu. Mỗi ngày, sau giờ học buổi chiều, anh vội chạy về nhà nhận hai lon guigoz cơm và thức ăn do vợ bới sẵn rồi vào phi trường cho kịp đổi ca. Làm ca đêm lương cao hơn ca ngày, lại nhàn hạ hơn. Vì sau khi làm hậu phi một vòng cho các phi cơ bay về ban chiều, các anh cơ khí kéo nhau về văn phòng. Chẳng có gì làm, nên ai nấy đều rất buồn ngủ. Lẽ ra thì phải lấy TO, TM ra học để trau dồi nghề nghiệp, nhưng nhiều anh cứ ngủ gà ngủ gật ngay bàn làm việc. Tên Mỹ phì lũ chơi ác, hắn nâng cả cuốn TO bìa cứng, dày cả ngàn trang, rồi thả đánh cái rầm trước mặt anh chàng ngủ gật; "God damn it! You get pay to work or to nap"". Nhưng rồi sau một thời gian, ngay cả mấy anh Mẽo cũng không chịu đựng nổi cơn buồn ngủ. Ông giám thị Wilson đành cho phép vào bên trong nhà kho và : "See you at 5."

Đức là người xuống xe sau cùng. Anh đến nhập bọn với các anh em quân nhân đang chuẩn bị dụng cụ chờ các chuyến bay C-130 trở về vào cuối ngày. Công việc của anh là kiểm soát hậu phi cho phi cơ vừa trở về, và làm tiền phi cho phi cơ sắp cất cánh.Ngoài ra còn phải sửa chửa động cơ, và các hệ thống điện, thủy điều, khung phòng, bảo đảm phi cơ khả dụng hành quân tối đa. Việc bảo trì định kỳ, đại tu thì do các cơ xưởng khác lo. Thỉnh thoảng, C-130 được gửi qua Thái Lan hay Hồng Kông để đại tu bổ. Vào thời điểm Hoa Kỳ đã sử dụng C-130 G, C-130 H thì phi cơ C-130 A của Việt Nam thuộc thế hệ già nhất, xuất xưởng vào những năm giữa thập niên 1950. Chiếc già nhất còn bay mang số đuôi 002. Tuy thế, C-130 là loại phi cơ vận tải an toàn nhất ví việc vận hành do 3 hệ thống điện, cơ, và thủy điều, có thể thay thế nhau khi một hệ thống nào đó bị trục trặc. Bốn động cơ Alison T-56 khổng lồ cũng bảo đảm cho việc bay. Nếu lỡ bị hỏng hóc 3 trong 4 động cơ, phi cơ cũng có thể lết về đáp an toàn với động cơ còn lại; dĩ nhiên trong điều kiện không chở quá năng. Vì chứa xăng trong cánh, nên phi cơ C-130 được liệt vào loại cánh ướt (wet wing). Hai cánh phi cơ vừa chứa mức tối đa 28000 gallons xăng JP-4, vừa treo lủng lẳng 4 động cơ cộng thêm 2 bình xăng phụ (pylon tank); nên sau nhiều năm bay, do sức nhún mỗi lần đáp, phi cơ thường có hiện tượng nứt cánh.

Chiềc phi cơ mang số đuôi 465 đang chầm chậm lăn bánh vào ụ. Một binh sĩ đang dùng hai cánh tay làm dấu cho hoa tiêu lái chính xác vào chỗ đậu; một anh khác đã thủ sẵn hai cục gỗ chêm bánh đáp. Đức đứng lùi vào phía góc hangar chờ đợi.

Từ hướng doanh trại của Đoàn Chuyển Vận, một chiếc xe kéo trờ tới, phía sau móc thêm ba rờ mọc dài; một xe forklift theo sau. Từ những tháng cuối năm 1974, tình hình chiến sự bùng nổ trầm trọng khắp nơi. Hai Sư Đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến tăng phái hẳn ra miền Trung. Mức độ tổn thất ngày càng cao. Những chuyến bay C-130 buổi sáng chở quân ra bổ sung cho các đơn vị, buổi chiều trở về chỉ thấy thương binh và tử sĩ.

Khi các động cơ vừa ngừng hẳn, cánh cửa hông của phi hành đoàn vừa hạ xuống, từ trên máy bay, cả chục người đang chen nhau hấp tấp nhảy xuống. Một mùi hôi thối nồng nặc toát ra. Theo phản xạ tự nhiên, những người lính cũng chạy tản ra xa chiếc phi cơ. Nhưng cái mùi này nó theo gió, bay rất nhanh và rất xa. Đức vội cởi chiếc áo, xếp làm ba, buộc che ngang mũi mà vẫn không thể tránh được. Phi hành đoàn cũng nhảy xuống, chạy nhanh về phía Đức.

-Ê! Hoà, ông từ Đà Nằng về phải không" Nhảy Dù hay Thủy Quân Lục Chiến"

-Phú Bài, Đức ạ! Nhưng làm sao tui biết lính gì. Họ nằm trong hòm kẽm cả. Còn mấy chuyến sắp tới nữa ông ạ! Mấy ông liệu mà vất vả đêm nay.

-Ngày mai ông có phi vụ không" Lại bay chiếc này hả"

-Chưa biết được. Nhưng bay lại chiếc này thì ngán quá. Bạn có thể làm sao khử hết mùi không"

-Khó chi. Cứ mua đây vài chai cognac là hết mùi ngay.

Đại Úy Hoà xuất thân khoá 65-A, vào khám sức khoẻ cùng lúc với Đức. Đức, sau khi qua được đợt khám tổng quát, thì bị trả về vì lý do thiếu một tuổi mà không có giấy ưng thuận của cha mẹ. Khi Khoá 65A thụ huấn ở Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang thì Đức cũng vào làm thông dịch viên cho Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Đức thường nhập bọn với các sinh viên 65-A vào mỗi cuối tuần, la cà hết các quán Bar ngoài bãi biển. Hoà là phi công lão luyện trên loại C-130. Anh có thể đáp xuống êm đến độ hành khách không hề biết rằng phi cơ đã chạm đất.

Từ cửa đưôi phi cơ, đã thấy xuất hiện những palettes trên mỗi cái là 3 chiếc quan tài có phủ kín bời là cớ Vàng. Mặc dù được bọc bằng kẽm và hàn rất kín khi ở dưới đất, nhưng do áp suất không khí thay đổi khi phi cơ bay lên cao, các mối hàn cũng bị hở ra, và mùi tử thi được thể, thoát ra tràn ngập lòng phi cơ. Cái mùi tử thần này lại rất dễ bám vào các loại vải bạt, ghế ngồi, giây nịt an toàn trên phi cơ. Có đổ cả hàng chục lít dầu hôi cũng không thể nào xoá sạch được mùi hôi; mà có khi làm cho mùi càng ghê rợn thêm. Đức cũng chẳng lạ gì mùi tử thi. Ngày trước hành quân chiến đấu ở Bộ Binh, Đức đã từng gối ngủ cạnh xác chết; có khi phải đi lấy xác đồng đội đã thối rửa. Cũng vài lần tại mặt trận, Đức phải dí súng vào người lính khiêng xác để anh ta không dám vứt xác bên đường hoặc cứ càm ràm vì mùi thối. Đức quen lắm rồi, cái mùi tử thi của bạn lẫn thù. Nhưng những lần trong đêm khuya khoắt thanh vắng, phải đơn độc leo lên phi cơ làm tiền phi cho phi cơ bay sớm ngày mai, Đức cũng thấy chột dạ. Ngồi trên ghế trái của hoa tiêu chính, đeo ống nghe để liên lạc với đài kiểm báo và nhân viên dưới đất, Đức cố gắng tập trung vào công việc để tạm quên cái mùi kia, và chế ngự một nỗi sơ âm thầm. Thì xác của đồng đội mình chứ có phải của ai" Chả lẽ ma chiến hữu mình lại hiện về nhát mình"

Trời tối rất nhanh. Các dãy đèn trên phi đạo đã được bật lên. Trong ánh sáng chói loà của hai ngọn đèn flood light, chiếc xe fork lift chỉa hai càng nâng chiếc palette bên ngoài cùng, kéo ra và đem đến cái rờ mọc đầu tiên. Đức đứng chụm hai chân lại, bàn tay trái vẫn còn giữ chiếc áo che mũi, bàn tay phải đưa lên ngang mày, kính cẩn chào những đồng đội xấu số vừa hy sinh trên chiến trường đâu đó ngoài Trị Thiên. Nếu không may mắn về Không Quân cuối năm 1971, thì biết đâu mình cũng đã nằm trong một cái quan tài bọc kẽm kia sau trận An Lộc Muà Hè Đỏ Lửa 1972" Hoặc bao nhiêu trận ác chiến về sau đó"

Đức nghĩ cám cảnh cho những người trai khôi ngô tuấn tú miền Nam. Họ biết vào chiến trận là một đi khó trở về. Nhất là các binh chủng Tổng Trừ Bị, nơi mà xác suất tử vong rất cao. Còn gì hào hùng và bi tráng cho bằng sự dấn thân của các anh. Các anh vừa tuổi đôi mươi, giả từ mái nhà nơi có bậc song thân già yếu; chia tay người yêu bé bỏng mà dứt khoát ra đi. Các anh đi vào cõi chết một cách nhẹ nhàng để cho một hậu phương bát nháo với những gian thương làm giàu trên xương máu các anh, với những thanh niên cùng trang lứa không chịu an tâm học hành mà gây rối mọi nơi; với những viên chức, tướng tá tham nhũng, buôn quan bán tước; có người còn phản bội bán súng đạn thuốc men cho địch quân. Các anh đã ngang tàng bỏ qua bên chuyện hậu phương để dành hết tâm trí chiến đấu nơi sa trường. Giờ này đây, thi hài các anh nằm yên giấc trong quan tài kia, biết có toàn vẹn thân thể hay chỉ là một nắm thịt xương vụn nát" Linh hồn các anh chắc còn lẩn quất đâu đây, chưa chịu rời bỏ cõi đời ô trọc; hay đã bay về miền vĩnh phúc, nơi không còn tranh giành, bon chen, hận thù, dối trá"

Xem qua bản Discrepancy Form do Trưởng Phi cơ ghi nhận những trục trặc trong chuyến bay, thấy không có gì đặc biệt, Đức leo lên phòng lái, ngồi vào ghế hoa tiêu chính, đưa tay rà và kiểm soát hết các cầu chì bên hộp trái, phải và trên đầu. Anh đặt cuốn sổ Check list dày 28 trang lên đùi, đeo ống nghe vào tai rồi gọi xin Tổng Đài cho phép nổ máy. Người cơ khí dưới đất đã nối dây từ máy phát điện vào ổ cắm bên hông trái phi cơ. Sau khi check hết các cầu chì bên phải, trái, trên đầu, Đức xướng lên từng câu trong khi bàn tay phải với lên overhead panel để tìm nút bấm khởi động GTC. Anh đọc to lên và nhận sự trả lời xác định của nhân viên dưới đất.

-Start GTC 

-Clear.

-Start engine number 3

-Clear.

-Start engine 2, 4, 1

-Clear

-Check maximum power

Đức đẩy nhẹ từng cần số của động cơ về phía trước. Toàn thân phi cơ rung từ nhẹ đến mạnh. Anh kiểm soát độ synchoronize trên 32 cái đồng hồ về động cơ ngay trước mặt, nằm giữa vị trí của 2 phi công. Hai tay vừa hoạt động, hai chân đạp cần thắng, miệng đọc check list, tai cố nghe ngóng trong tiếng động cơ có gì khác lạ không; trong giây phút đó, anh quên bẳng đi những gì đang xảy ra, quên luôn cái mùi tử khí còn quyện đặc trong không gian. Ngồi trên ghế hoa tiêu chính, anh say sưa hưởng thụ cái giây phút mà hơn mười năm trước anh từng mơ ước nhưng không thành.

Khi làm xong công việc, Đức nhẹ nhàng bước xuống khỏi phòng lái. Hiện thực trở lại. Qua bóng đèn mờ mờ, anh thấy lòng phi cơ trống trải kia như có một cái gì đó làm cho anh chợt rùng mình. Những sợi dây nịt lủng lẳng in bóng trên vách như những bàn tay đang chới với vẫy gọi. Tóc gáy anh dựng lên. Anh rung mình tưởng như đang nghe tiếng rền rỉ của những oan hồn đang lẩn khuất đâu đây. Đức bật chiếc đèn pin quét qua quét lại trên sàn phi cơ. Vài nơi còn loang lỗ màu nâu sẫm của chất nước vàng chảy từ các quan tài chưa rửa sạch. Đức thầm van vái: "Máu thịt các anh em tôi. Sống khôn thác thiêng, xin hãy siêu thăng và phù hộ cho đất nước chóng thanh bình."

Người cơ khí đang chờ bên dưới thấy Đức chưa ra khỏi phi cơ, bèn cất tiếng gọi:

-Ông thầy đâu rồi, bộ ma bắt rồi sao"

-Ma nào mà bắt được tao mậy" Tao đứng lại nói chuyện với anh em mà.

-Bộ ông điên hả" Cái mùi thối rữa thế mà ông chịu khó đứng ngửi cả 5, 10 phút thì tui chịu thua ông rồi đó!

Ghi đậm hai chữ OR vào bản check list và ký tên xong, Đức nhảy xuống sân phi đạo kéo anh lính ra xa rồi đốt một điếu thuốc trong lúc chờ đợi xe đón về phòng. Từ xa, rất xa, ở về hướng bắc, những ánh đèn hoả châu đang treo lơ lửng trên nền trời đen nghịt. Tiếng đạn đại liên từ các phi cơ Hoả long AC-119 rền vang một góc trời. Đang có đụng lớn đâu đây miệt Bình Dương . Đức chép miệng: "Các bạn ta trên đó đêm nay lại không yên. Đến bao giờ mới thôi chết chóc điêu linh"""

Đỗ Văn Phúc

1- LSI viết tắt tên hãng Lear Siegles, Inc.

2- AGM: Aircraft General Mechanics

3- SM: Senior Mechanics

4- AT: Air Technician.

5- TO (Technical Orders), TM (Technical Manuals) là các tài liệu kỹ thuật. Mỗi thứ có khoảng 10 cuốn. Mỗi cuốn chuyên về một cơ phận của Phi cơ.

6- Hiện nay Hoa Kỳ đang sử dụng C-130 biến cải với nhiều danh số khác nhau.

7- Chiếc phi cơ thử nghiệm YC-130 xuất xưởng vào tháng 8 năm 1954 mang số đuôi 53-3397. Chiếc của KQVN mang số đuôi 54-002, như thế có thể cũng được xuất xưởng năm 1954"

8- Bản ghi các trục trặc xảy ra trong chuyến bay, cần cơ khí viên sửa chửa hay điều chỉnh.

9- Check List để hướng dẫn từng động tác một trong khi làm Tiền Phi, hay Hậu Phi. Người hoa tiêu hay cơ khí viên phải để check list trên đùi, vừa đọc lên từng câu vừa làm động tác tương ứng.

10- GTC (Gas Turbine Compressor) gắn bên hông trái (nhìn từ đuôi phi cơ) để cung cấp hơi ép áp suất cao cho việc nổ máy các động cơ.

11- Đứng từ phía đuôi phi cơ, các động cơ được đánh số 1, 2, 3, 4 từ trái sang phải. Động cơ số ba có chức năng cung cấp điện AC và DC để tiếp tục nổ máy các động cơ còn lại.

12- Bốn động cơ, mỗi động cơ có 8 đồng hồ, sắp theo chiều dọc.

13- OR: Operation Ready, khả dụng hành quân.

14- Vào thời điểm này, Cộng Quân đã chiếm Lộc Ninh và kéo về sát Lai Khê, cắt đường Quốc Lộ 13 đi Chơn Thành.

Ý kiến bạn đọc
18/05/201117:38:06
Khách
Toi chi la mot co gai thi thanh nho khi Saigon roi vao tay giac nen khong the nao hinh dung noi nhung hy sinh to lon cua cac chien si VNCH da vi quoc vong than.
Doc bai nay , toi qua xuc dong, khong kem duoc xuc camtrao dang len mat.
Cam on tac gia da cong hien mot bai viet that dam da tinh nguoi, tinh dong doi.
11/05/201105:31:42
Khách
Bai viet hay qua !!!
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.