Hôm nay,  

Giữa Chợ Đời!

14/07/201100:00:00(Xem: 13698)
Giữa Chợ Đời! 

hai_anh_em_bui_doi-large-contentHai anh-em bé Vũ bụi đời bán vé số ở bãi trước Vũng-Tàu. Ảnh chụp ngày 8, tháng 7, 2011.

Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc
Âu cũng là một phước duyên cho gia-đình chúng tôi trong kỳ nghỉ hè năm nay, 2011. Được về thăm lại quê-hương, chia xẻ đến những kẻ khó khăn, tất bạt; họ vẫn ngày ngày sống trôi dạt bên đời gian nan vô cùng vất vả. Từ những trẻ em làng quê, người già cơ-nhỡ vùng đất Bắc xa xôi; đến các sinh-viên nghèo hiếu học được chúng tôi trao tặng học-bổng trong miền Nam và như mọi lần, không quên trao chút quà đến các thương-phế-binh Quân-lực Việt-Nam Cộng-Hòa tận trong các hang cùng, ngõ hẹp.
Vẫn biết Việt-Nam hôm nay có biết bao điều trái-nghịch: kẻ giàu - người nghèo quá cách biệt. Điềm Lành, sự Dữ như sáng, trưa, chiều, tối tuần-tự luân-phiên nhau tiếp diễn. Trong cái khó nghèo nẩy sinh tình-nghĩa và cũng trùng trùng sự lừa lọc, gian-tham. Giữa sang-giàu, tiền-của là sân-si của tội-lỗi, xa-đọa trầm-luân và hủy-diệt. Chúng tôi trở về đây giữa triệu triệu nhân sinh đang hăm hở, hối hả sống trong cảnh chen chúc mưu-sinh, khói bụi xe cộ ngất Trời và nạn nhân-mãn ngày càng gia-tăng trầm-trọng.
Tôi nhớ đến ánh mắt của những đứa trẻ ở bãi biển Vũng-Tàu trong một quán ăn buổi sáng. Hai anh em sà đến bàn chúng tôi kỳ-kèo:
“Cô ơi! Mua cho con tấm dzé số đi cô!”
Chúng đã lê-la khắp mọi quán và đều bị xua đuổi một cách vô-tình. Những hình-ảnh này đã quá quen thuộc từ năm đầu tiên; 1999 khi tôi trở về Việt-Nam làm phim tài-liệu đi từ Bắc chí Nam, đến tỉnh nào cũng gặp những trẻ em dạng này. Lang bạt, kỳ-hồ giữa chợ đờì mưu-sinh (kiếm sống). Lần đầu tiên gặp chúng, tôi cố nuốt không trôi phần ăn trước mặt và bối rối không biết xử trí ra sao. Nhưng bây giờ, hơn mười năm sau với bao nhiêu là kinh-nghiệm, tôi đã rất bình-tĩnh và vui vẻ hỏi chuyện:
“Các con tên gì" Bao nhiêu tuổi" Có đói bụng hông" ngồi xuống ăn sáng với gia-đình cô nhe!”
Chúng dạ thật to, liền sau đó một cậu bé khác độ 10 tuổi xin nhập bọn. Thằng em dơ tay (như trong lớp học) xin rằng:
“Cô cho con ăn hủ-tíu nhe cô!”
Tôi vừa gật đầu xong thì thằng anh lanh miệng xin liền:
“Còn con cho xin đĩa cơm gà được hông cô"”
“Con nữa! Cho con đĩa cơm sườn cô ơi!”
Tôi nhìn chúng vừa thương-tâm, vừa buồn cười trước những ánh mắt thơ dại và kêu bồi bàn dọn thức ăn cho chúng. Một chị trong quán ăn vừa lau bàn vừa chỉ từng đứa giới thiệu:

“Thằng nhỏ này tên Tài, 10 tuổi. Cha bị xe đụng chết, Mẹ bỏ đi lấy chồng khác. Nó ở với Bà nên đi bán vé số kiếm chút đỉnh.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt cậu bé hỏi:
“Con ở một mình với Bà hả"”
Nó thành-thật trả lời:
“Dạ! Lúc trước ở với chú của con nữa. Giờ chú con vào tù rồi!”
“Sao dzậy"” Tôi hỏi lại liền. Nó bảo:
“Tại chú con là du-đãng, đi quýnh lộn dzới người ta nên bị công-an bắt.”
Tôi lại hỏi:
“Chú con tên gì"”
“Dạ! Tên Đen”.
Tôi giựt bắn mình; vì mười năm trước cũng tại quán này một thằng bé mang cái tên “Đen” rất lạ. Người nhỏ thó, lủi thủi vào đây bán vé số, chúng tôi cũng cho nó ăn uống như thế này. Thằng bé Tài hồn nhiên kể:
“Cô biết hông" Hồi trước chú con cũng đi bán dzé số như con đó!”
Thôi đúng rồi! Không thể nào lầm được. Thức ăn dọn ra, tôi âm thầm nhìn cách chúng ăn uống. Ngồi đối diện với tôi là hai anh em thằng bé Vũ 10 tuổi. Đứa anh dùng đũa đút phở cho đứa em 5 tuổi vì nó còn quá bé. Lạ thật! khi so sánh với những trẻ con của các gia-đình giàu có. Mạnh ai nấy lo, đâu có cảnh thằng anh đút cho đứa em ăn như thế này.
Trước khi từ-giã, tôi mua cho chúng hơn mười tấm vé số để cho người tài-xế đang đợi ngoài kia, cậu ta không dám vào ngồi cùng bàn ăn uống dù tôi đã hết sức kêu mời. Phu-quân tôi nửa đùa, nửa thật hỏi mấy bé:
“Nè! Các cháu. Cô vừa mua vé số xong, mỗi tờ là 10 ngàn đồng. Bây giờ chú bán lại hết cho mấy đứa nhưng mỗi tờ chỉ với giá 5 ngàn thôi. Tức là nửa giá, cháu nào mua lại không"”
Chúng nhíu mày suy-nghĩ đôi chút rồi lắc đầu quầy-quậy và cầm khư khư số tiền kiếm được trong tay. Điều này chứng tỏ rằng những tờ vé số ấy vô cùng khó khăn để đánh đổi thành tiền.
Trước khi từ-giã chúng, tôi bảo:
“Nè! Các con. Dù có nghèo hèn đến đâu cũng cố gắng sống thiện, sống tốt. Không ăn trộm, ăn cắp. Không trở thành du-đãng như chú con nhe chưa!”
Chúng vừa dạ nhỏ vừa ăn-uống say mê. Tôi bước đi lòng bỗng trùng đau quặn-thắt. Nỗi đau dành cho từng thế-hệ trẻ trôi qua mà tôi đang là một nhân-chứng thực-thể. Đời thằng Đen mịt mù trong tù-ngục. Rồi đời thằng Vũ, đứa em bé nhỏ của nó và thằng Tài sẽ ra sao trong mười năm tới nữa" Bi thương quá; những đứa trẻ giữa chợ đời Việt-Nam hôm nay.
Tác-giả: Diamond Bích-Ngọc; viết trong hồi-ký trên bước đường chia-xẻ tình-thương tại Việt-Nam, tháng 7, 2011.

Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.