Hôm nay,  

Dân Vi Quý

03/10/201100:00:00(Xem: 7965)
Dân Vi Quý

Minh Văn
Trong thời đại văn minh hiện nay, chế độ dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới; và tư tưởng Dân Chủ không còn xa lạ với nhân loại: Đó là người dân có quyền làm chủ đất nước và tự quyết định vận mệnh của chính mình. Tiếc rằng ở nước ta thì không được như vậy, dù là tư tưởng tiến bộ đó đã có ở các nhà tư tưởng thời cổ đại.
Mạnh Tử, người đã tiếp tục và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Khổng Tử, có nói rằng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Câu ấy có nghĩa là: Dân làm quý, xã tắc là thứ, vua làm khinh. Chúng ta có thể thấy rõ tư tưởng trọng dân, đặt vị trí của người dân lên trên nhà vua của Mạnh Tử, khi ông cho rằng: Dân vi quý, quân vi khinh.
Quan điểm tư tưởng đó có bắt nguồn từ tư tưởng trọng dân, vì dân của Khổng Tử. Câu chuyện dưới đây sẽ minh chứng cho điều đó:
Khi Tử Cống xin Khổng Tử dạy bảo về đường lối trị quốc và quản lý, Khổng Tử đáp: “Túc thực, túc binh, dân tín chi hỹ”. Nghĩa là trước tiên phải có đầy đủ lương thực (yếu tố vật chất), thứ đến là phải có đầy đủ quân đội vũ khí và sự tín nhiệm của dân. Tử Cống lại hỏi: “Nếu trường hợp bất đắc dĩ mà phải bỏ một trong ba điều đó thì nên bỏ thứ nào"”. Khổng Tử đáp: “Bỏ binh”. Tử Cống hỏi tiếp: “Nếu như trong hai điều còn lại mà phải bỏ một thì bỏ thứ nào"”. Khổng Tử đáp: “Bỏ lương thực”. Khổng Tử cho rằng bỏ ăn thì chết song xưa nay ai cũng chết, nhưng không có lòng tin của dân chúng thì quốc gia không thể đứng vững và tồn tại lâu dài.
Đoạn đối thoại này của Khổng Tử đã nói với mọi người một cách rõ ràng rằng: So sánh “túc binh”, “túc thực”, và “dân tín” thì “dân tín” là quan trọng nhất. Trong những tình huống cấp thiết có thể có thể bỏ binh, bỏ lương thực, điều đó có thể làm cho quốc gia nảy sinh ra một số khó khăn nhất định về vật lực, tài lực nhưng không bao giờ được làm mất đi lòng tin của nhân dân. Tại sao “dân tín” lại quan trọng đến như vậy" Bởi vì “dân vô tín bất lập”. Không có sự tín nhiệm của dân chúng thì một quốc gia, một chế độ sẽ không tồn tại lâu dài được. Khi một chế độ mất đi lòng tin của dân chúng, thì cho dù vật chất có đầy đủ, quân đội vững mạnh thì đó cũng chỉ là một con hổ giấy mà thôi. Ngược lại, một chế độ thực sự vì dân và được sự tín nhiệm của dân thì dù trong hoàn cảnh khó khăn dân chúng vẫn tin theo để đưa đất nước vượt qua khó khăn đó.

Dân Tín là sự tín nhiệm của dân chúng đối với nhà nước và những người lãnh đạo. Tín nhiệm là chỉ sự tin tưởng tới mức dám phó thác. Nếu dân chúng mất đi tín nhiệm thì cũng có nghĩa là mất đi Dân Tâm. Lúc đó thì nhà nước có đưa ra những chính sách, quy định, pháp luật, chế độ tốt đến mấy thì dân chúng cũng không thèm để ý, không hy vọng. Như vậy nhân dân sẽ giữ thái độ bàng quan đối với những nhà nước không có tín nhiệm đối với dân.
Tín nhiệm sản sinh ra lòng tin và hy vọng, từ đó có thể liên kết và hòa hợp vận mệnh quốc gia với lợi ích của nhân dân. Ngược lại, không có sự tín nhiệm đối với nhà nước thì quần chúng không thể gắn bó với vận mệnh quốc gia được. Câu chuyện Thương Ưởng dựng cột gỗ để thay đổi biến pháp là một minh chứng tiêu biểu cho quan điểm này. Muốn thực hiện tốt đẹp công việc của quốc gia thì trước hết phải có được sự tín nhiệm của dân chúng.
Ấy vậy mà thời nay vẫn có những quốc gia không có tư tưởng trọng dân và làm cái việc ngược lại với những điều mà Khổng Tử và Mạnh Tử đã răn nói từ xưa.
Đảng cầm quyền ở nước ta chính đã và đang làm cái việc nghịch lý đó. Trong bối cảnh bức thiết là sự sụp đổ của hàng loạt các chế độ độc tài Cộng sản trên phạm vi toàn cầu, để cứu mình đảng Cộng sản đã làm ngược lại điều răn mà Khổng Tử đã dạy bảo kia. Đó là, thay vì “bỏ binh”, “bỏ lương thực” và giữ lại sự tín nhiệm của dân thì họ lại “bỏ tín nhiệm của dân”, “bỏ lương thực” và giữ lại binh quyền. Họ đã sẵn sàng vứt bỏ sự tín nhiệm của nhân dân để cứu lấy chế độ khi cấp bách. Họ có thể để cho dân đói khổ và thất nghiệp nhưng lại nuôi dưỡng lực lượng công an và quân đội để bảo vệ chế độ.
Từ lâu người dân đã mất hẳn niềm tin vào chế độ độc tài nhưng lại tự nhận là “nhà nước của dân, do dân, vì dân” này. Nhà nước chỉ quan tâm đến sự tồn vong của chế độ mà không bao giờ quan tâm đến sự tồn vong của đất nước và nhân dân. Đối với lãnh thổ thì biển đảo để cho ngoại bang xâm chiếm, đối với nhân dân thì sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi. Người dân vì thế mà sống trong sự hoang mang và mất đi niềm tin vào xã hội mà mình đang sống. Như vậy thì còn đâu tư tưởng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” như người xưa đã dạy"
“Không có niềm tin của nhân dân thì quốc gia không thể tồn tại được lâu dài”, Khổng Tử đã dạy như vậy. Nhưng nay nhà nước vẫn luôn khinh rẽ nhân dân, chỉ khăng khăng dùng bạo lực và công an để bảo vệ sự ổn định chính trị. Một chế độ coi thường nhân dân như thế thì không thể nào tồn tại lâu dài được!
Minh Văn (Hà Nội, VN)
30/9/2011

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chương trình cải tổ cơ sở hạ tầng, một "New Deal" thế kỷ 21 của tổng thống Joe Biden cũng vậy. Nó sẽ mang lại ích lợi to lớn cho quốc gia và người dân Mỹ một khi được thực hiện. Liệu có lý do gì để chống đối việc người dân cùng con cháu họ sẽ được uống nước sạch, có thêm trường học, chạy trên xa lộ an toàn, có hệ thống giao thông công cộng tiện nghi và sử dụng mạng internet nhanh và rẻ hơn?
Ngày nay, Hoa Kỳ giống như Nhà Chu, vẫn là siêu cường Số Một về quân sự và kinh tế nhưng Hoa Lục đang nổi lên như một cường quốc- giống như Nhà Tần có khả năng cạnh tranh địa vị thống trị thế giới của Hoa Kỳ. Các nhà làm chiến lược, bộ trưởng quốc phòng, tham mưu trưởng liên quân, giám đốc CIA khi điều trần trước Quốc Hội đều công khai bày tỏ lo ngại “Hoa Lục là đối thủ của Hoa Kỳ trong 100 năm tới”.
Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.