Hôm nay,  

Xin lỗi cha Joe

22/10/201100:00:00(Xem: 7984)

Xin lỗi cha Joe 

cha_joe_nam_1977-large-content: Cha Joe năm 1977.

cha_joe_khan_gia_xem_kich-large-content: Khán giả xem kịch Quo Vadis diễn cuộc đời cha Joe. 

cha_joe_va_thieu_nien_ty_nan-large-content: Thiếu niên tỵ nạn Việt nam, con cái của cha chụp hình kỷ niệm tại Songkhla

cha_joe_day_hoc-large-content: Trong các bạn, ai là người đã ngồi trong lớp học này.

Giao Chỉ - San Jose.

Joe Devlin và Quo Vadis.

Ngày xưa tôi đã được xem phim La mã có tựa đề Quo Vadis. Chữ nghĩa này lấy từ kinh thánh khi các đồ đệ của Chúa hỏi nhau về sự ra đi của người. Quo Vadis" Thầy đi đâu.

Ngày nay tại San Jose người ta thành lập một kịch đoàn có tên là Quo Vadis do bà Marie Balletim đạo diễn và quản trị. Sự hiểu biết của tôi về chữ nghĩa của kinh thánh cũng có chừng đó. Còn về phần cha Joe, hơn 20 năm trước đã nghe tên của người. Ngày nay hình ảnh đã mờ nhạt. Danh tiếng của cha Joe Devlin không vang lừng thế giới. Có thể chỉ vài ngàn người Việt Nam trước năm 1975 còn nhớ nếu là dân ở Tràm Chim, miền Tây Nam Phần. Có thể chỉ vài chục ngàn dân tỵ nạn Việt Nam biết đến cha Joe nếu họ đã từng ở trại Songkha Thái Lan.

Nhưng đám trẻ Việt Nam lang thang trôi giạt đến Songkha tạm trú trong trung tâm trẻ em không thân nhân chắc hẳn mãi mãi còn nhớ đến cha Joe.

Trong đó có cô Vanessa Thu Vân Cao, chủ nhân T&H Body Shop trên đường số 5 thành phố San Jose. Đi trên xa lộ 101 đôi khi ta thấy có tấm bảng T&H nhận bảo trợ công tác làm sạch sẽ Freeway. Đó chính là cô gái tỵ nạn 13 tuổi ở Songkha ngày xưa, bây giờ theo lời cha nuôi trả nợ Hoa Kỳ bằng cách góp phần làm sạch sẽ quê hương mới.

Tôi muốn kể hầu quí vị về cha Joe và cô Vanessa.

Trước hết xin đọc qua bản tin của Dân Sinh News.

(Dân Sinh News)

Cuộc đời ngoại hạng của một linh mục tận tụy hy sinh cho những người dân quê miền Nam Việt Nam. Tiếp theo, cũng chính vị linh mục đó đã tiếp tục là người chăm sóc cho hàng chục ngàn thuyền nhân tại Thái Lan.

Cha Joe Devlin vốn là người dân Bắc CA nhưng định mệnh đã đưa vì linh mục trẻ đến Tràm Chim miền Nam Việt Nam. Định mệnh cũng đã đưa cha đến Songkhla Thái Lan.

Hàng ngàn nạn nhân chiến tranh đã được cha Joe giúp đỡ. Hàng chục ngàn Thuyền nhân Việt Nam đã được cha Joe cưu mang.

Sự hy sinh và tận tụy của cha Joe đối với những người Việt bất hạnh từ trước và sau 75. Từ đồng ruộng miền Nam đến biển Đông. Tưởng như cha là người phải trả nợ cho dân Việt cùng đường.

Hiện nay trên thế giới có cả chục ngàn người Việt đã từng được sự giúp đỡ trực tiếp hay gián tiếp của cha Joe. Bao nhiêu người còn nhớ đến cha. Cha Joe bây giờ ở đâu ".

Ngay tại San Jose cũng có cả trăm người trong số hàng chục ngàn Thuyền nhân đã nhận cha Joe là ân nhân tại Songkhla.

Bao nhiêu người còn nhớ đến ông.

Nếu có ai hỏi bây giờ cha ở đâu thì câu trả lời rằng cha đã đi xa từ lâu rồi.

Nhưng Quo Vadis sẽ đưa cha trở về San Jose. Trong 8 buổi trình diễn liên tiếp, cuộc đời cha Joe được dựng lại thành vở kịch sẽ được trình diễn ngay tại San Jose.

Chuyện lạ chưa từng xẩy ra. Trong giai đoạn cha Joe mới đến Việt Nam, bác sĩ Phan Quang Đán là người đã mời cha đến Việt Nam. Cuộc đời cha dính liền với một Việt Nam đau thương từ lúc đó. Trong vở kịch này ai sẽ đóng vai cha Joe. Phải đến xem mới biết được. Ai đóng vai bác sĩ Phan Quang Đán. Người đó là bác sĩ Vũ Thế Hưng.

Quo Vadis dựng vở kịch về cha Joe mà dự trù trình diễn đến 8 lần thì cũng là chuyện rất lạ. Sẽ có bao nhiêu người Mỹ đi xem, bao nhiêu người Việt đi xem. Có thể chỉ đếm trên đầu ngón tay. Nào ai biết được. Nếu thực sự là thuyển nhân Songkhla, có thể sẽ đi xem nhiều lần. Có thể không hiểu hết đối thoại, nhưng cần gì. Hơn 20 năm trước, đã nói chuyện bằng tay với cha Joe mà sau cùng đã được vào Mỹ.

Người Việt lúc đó không ai gọi cha là linh mục. Ai cũng gọi là cha, như là một đấng sinh thành, nhất là đám trẻ không cha mẹ dưới 18 tuổi. Một trong đứa trẻ đó lúc ở trại là bé gái 13 tuổi. Ngày nay là thương gia ở San Jose, đã lái chiếc xe Van to tướng đến Việt Museum gỡ bức tranh Thuyền nhân để đem về làm phông cho vở kịch.

Vài nét về cha Joe.

Joe Devlin sinh ngày 27 Dec. 1916 tại San Francisco và thụ phong linh mục 1947. Lúc đó cha Joe là một thầy tu trẻ 31 tuổi và luôn luôn ước mong được phục vụ giáo hội tại những nơi khó khăn nhất. Tuy nhiên thực sự phải chờ đợi thêm một phần tư thế kỷ thì định mệnh mới đưa cha gắn liền với 2 chữ Việt Nam.

Năm 1970 bác sĩ Phan Quang Đán đang là thành viên quan trọng của chính phủ Nam Việt Nam đã gửi cha Joe một lá thư ngắn ngủi. Lúc đó cha đang tìm đường qua phục vụ Phi Châu. Bác sĩ Đán viết :

“Thưa cha, tôi nghe nói cha muốn tìm giúp đỡ dân nghèo. Xin đến đây. Chúng tôi có đủ cả. Dân nghèo, nạn nhân chiến tranh, vợ góa, con côi, ốm đau và chết chóc. Chúng tôi đang có chiến tranh với cộng sản. Chúng tôi hoan nghênh sự giúp đỡ của cha. Xin cha đến đây.”

Qua lá thư ngắn ngủi, định mệnh đã đưa cha Joe đến miền đất hẻo lánh gọi là Tràm Chim, ở miền Đồng Tháp, tỉnh Kiến Phong. Quả thực ở đây có đủ thứ mà bác sĩ Đán đã mô tả, lại thêm một kẻ thù kinh khủng nhất mà chưa được nói tới. Việt cộng.

Cha Joe đã sống 5 năm với người dân Tràm Chim. Bị Việt cộng treo đầu có giải thưởng. Bị ám sát hụt. Ông xây lại nhà Chúa, tổ chức cộng đồng xã hội và dựng lại niềm tin.

Khi cơn hồng thủy miền Nam tràn đến vào năm 1975, cha tìm cách giúp giáo dân di tản về Saigon. Chuyến đi trải qua nhiều gian truân.

Sau tháng 4-1975 cha về phục vụ tại trại tỵ nạn Pendleton California. Tiếp theo cha qua giúp dân tỵ nạn Việt Nam tại Songkhla Thái Lan. Tại đây cha trở thành vị thánh của người Việt tỵ nạn.

Có những lúc Songkhla lên đến hàng chục ngàn người, ai cũng biết cha Joe là vị ân nhân không mệt mỏi của bao nhiêu trường hợp.

Mỗi tối cha cầu nguyện cho dân tỵ nạn, nhưng cha sợ hãi khi buổi sáng thức giấc sẽ phải đi vớt xác người trên biển hay đón những gia đình tan nát, những cô gái bị hải tặc hành hạ

Những buổi bình minh đau thương vẫn đến với cha suốt ngày này qua ngày khác.

Chuyện của chị em cô Vân.

Có cả ngàn câu chuyện của người tỵ nạn viết về cha Joe. Xin nhắc lại một chuyện có hậu nhất. Ngày 16 tháng 3-1980 chị em cô Vân vượt biên tại Cà Mâu. Mẹ ở lại nuôi cha cải tạo. Bốn đứa con lên đường. Chị cả 17, rồi chị kế 15, cô bé Vân 13 và cậu em út 12. Gửi đi theo gia đình ông bác sĩ quen biết. Giờ chót, gia đình bác sĩ kẹt lại. Bốn chị em không có thân nhân xuống chiếc ghe dài 8 thước, rộng 1 mét rưỡi, chứa 48 người. Chưa đi đã thấy chết. Lúc đó là năm 80, hải tặc và sóng gió chờ ở ngoài khơi. con thuyền đi được đến hải phận quốc tế thì chết máy, thủng đáy. Đám người khốn nạn thay nhau tát nước và thả chiếc ghe trôi giạt trên biển cả.

Tàu cá Thái Lan đến tiếp tế và bóc lột nhiều lần nhưng may mắn chưa gặp tàu hải tặc. Sau 16 ngày trôi giạt gặp dàn khoan và được cứu về Songkhla. Bốn chị em gặp cha Joe đưa vào trung tâm trẻ em. Từ đó các em trở thành con cái của cha. Ở đảo 7 tháng. Chị em Vân được vào Mỹ và người quen nhận bảo trợ về Oakland. Cha Joe quản ngại nên giới thiệu về cho cha Tịnh và được người quen khác nhận về cư ngụ tại San Jose. Từ lúc đó cha Joe bên đảo tiếp tục theo dõi giúp đở. Các em theo đạo và đã từng được chị Kim Oanh nhận là mẹ đỡ đầu. Lúc đó cô Kim Oanh là cháu cha Tịnh cũng chỉ hơn chị em vài tuổi.

Chị em đưa nhau đi học và cùng nhau trưởng thành tại San Jose. Đám cưới cô Vân có cha Joe về chủ hôn. Sau đó khi cha về nghỉ hưu ở San Jose thì chị em và các gia đình tỵ nạn tại San Jose có tới lui thăm viếng. 

Vân và chổng đứng bên tay mặt cha Joe nhân ngày họp mặt tại San jose.

Đám tang cha Joe cũng tại San Jose, cô Vân lên đọc bài ai điếu khi các người tỵ nạn Việt Nam ngồi chật cả nhà thờ. Ai cũng khóc cho người ân nhân số 1 của Việt Nam tại Songkhla.

Ngày nay cô bé Vân 13 tuổi ra đi ở Cà Mâu năm 80 trở thành Vanessa Thu Vân Cao là người tổ chức và bảo trợ chính cho kịch đoàn Quo Vadis dựng lại cuộc đời cha Joe tại San Jose.

Cha JOE sống lại.

Trong 8 buổi diễn liên tiếp, mỗi ngày cha Joe đã sống lại 2 lần.. Cảnh 1 gần 1 giờ, cha sống tại Tràm Chim, miền Đồng Tháp, Việt Nam và cảnh 2 hơn nửa giờ cha sống tại trại tỵ nạn Songkhla,Thái Lan.

Tổng cộng có 15 diễn viên Hoa Kỳ và Việt Nam. Kịch bản lôi cuốn diễn tiến chặt chẽ. Giám đốc kịch đoàn và đạo diễn là bà Marie Balletime. Các diễn viên rất xuất sắc. Người đóng vai cha Joe đảm trách vai chính sống động vô cùng. Các vai khác nỗ lực hết sức kể cả các tài tử gốc Việt.

Đối thoại hoàn toàn bằng Anh ngữ, ngắn gọn, và dễ hiểu.

Đặc biệt toàn bộ kịch bản nói lên tinh thần chống Cộng quyết liệt. Đối thoại có chiều sâu và tạo nên những đoạn bi hài lẫn lộn. Các vai phụ lần lượt đóng nhiều vai. Nông dân, thuyền nhân rồi hải tặc. Một cô gái Việt đóng cả vai nữ đặc công vào ám sát cha Joe. Một thanh niên Việt đóng vai vị đại úy VNCH anh hùng quyết ở lại chiến đấu tại Tràm Chim. Nước mắt và tiếng cười được chia xẻ bởi hàng trăm khán giả Hoa Kỳ.

Kịch đoàn Quo Vadis sau buổi diễn cuối cùng ngày chủ nhật.

Phần kết luận.

Trong suốt 8 lần trình diễn, buổi tối vào ngày thường và 2 buổi chủ nhật diễn ban ngày. Mỗi ngày có chừng hơn 100 đến 200 khách Mỹ tham dự. Khách Việt Nam rất ít, thực là đáng tiếc. Buổi mở đầu, buổi tiếp tân và buổi cuối cùng hoàn toàn không có truyền thông Việt Nam tham dự.

Lại thêm một lần đáng tiếc.

Riêng Dân Sinh Media có đến quay phim toàn bộ, có thể sẽ đưa lên TV sau này. Cũng nên lưu ý thêm quý vị thân hữu của tôi. Vai bác sĩ Phan Quang Đán trong vở kịch này do bác sĩ Vũ Thế Hưng đảm trách.

Trong ngày diễn cuối cùng vào chủ nhật vừa qua, chúng tôi tham dự cùng ông bà thẩm phán Phan Quang Tuệ. Ông Tuệ có dịp nói chuyện với toàn thể diễn viên với tư cách là con trai của bác sĩ Đán. Sự hiện diện của ông cũng là một sự tình cờ đặc biệt khi được xem kịch sĩ tài tử đóng vai người cha danh tiếng của mình.

Riêng phần cá nhân tôi, có dịp nói với toàn thể kịch đoàn rằng, 34 năm về trước, khi còn làm việc cho học khu San Jose, cũng trên sân khấu đường Park này chúng tôi đã dựng vở hội nghị Diên Hồng cho phụ huynh và các học trò Việt Nam mới đến Mỹ. Lúc đó ông Mã Sanh Nhơn đóng vai vua nhà Trần. Ông nhạc sĩ Anh Việt, Trần Văn Trọng đóng vai dẫn đầu đoàn bô lão vào nghị hội. Còn tôi, Vũ Văn Lộc, đóng vai Thằng Mõ vác loa đi kêu gọi toàn dân. Ba ông đại tá hết thời tại San Jose vào dịp Tết 77 đã lên múa may trên sân khấu mua vui cho đám học trò tỵ nạn.

Ai ngờ rằng 34 năm sau chỉ còn mình tôi có dịp trở lại cũng sân khấu này để xem kịch bản dân Việt ở Tràm Chim và dân tỵ nạn ở Songkhla. Hai ông bạn cũ nay đi xa cả rồi. Hơn 30 năm trước, chúng tôi đem cho con trẻ tiếng cười. Ba mươi năm sau, họ diễn cho người lớn khóc.

Ban kịch này trình diễn tại San Jose, nơi có đông người Việt nhất thế giới cũng là tin tức đáng lưu ý. Duy có điều đáng tiếc là số khán giả Việt Nam tỵ nạn Songkhla tại San Jose có cả ngàn người. Mà số người đến với cha Joe ngày nay chẳng được bao nhiêu.

Thôi cũng đành xin lỗi cha Joe.

Người tỵ nạn năm xưa đâu có biết rằng kịch diễn hay và dễ hiểu như thế. Riêng đám trẻ của trung tâm Songkhla, toàn là con cái của ngài, bây giờ đã trở thành các công dân Hoa Kỳ gương mẫu.

Khả năng hiểu biết về tôn giáo của tôi rất giới hạn. Bên Phật giáo dường như ai thiện tâm cũng là Phật. Vì vậy đối với thuyền nhân Việt nhớ ơn cha Joe. Ngài cũng là Chúa. Quo Vadis" Bây giờ Thầy đi đâu"

Thiếu niên tỵ nạn Songkhla trở thành công dân Mỹ tại San Jose

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.