Hôm nay,  

Tiếng Gọi Của Lửa

11/11/201100:00:00(Xem: 10535)
Tiếng Gọi Của Lửa

Huệ Trân
Chỉ trong khoảng thời gian ba tháng, tin tức chạy trên các trang mạng thông tin toàn cầu đã rực lửa với hình ảnh bi tráng của mười tu sỹ Tây Tạng, quả cảm tự thiêu, dâng hiến thân mình để nói lên tiếng nói tranh đấu cho Đạo Pháp và Dân Tộc.
Các vị sư đều còn rất trẻ!
Ngọn lửa đầu tiên, bùng lên đầu tháng ba, 2011, trên thân xác vị sư mới 21 tuổi. Ngọn lửa kế tiếp được thắp sáng bởi sư Tsewang Norbu 29 tuổi, tại Sichuan, tỉnh Tứ Xuyên. Với quyết tâm không để ai cứu được nên sư đã uống xăng rồi mới tẩm xăng bên ngoài thân mình, tự châm lửa và kịp dõng dạc hô to: “Đức Đạt Lai Lạt Ma muôn năm! Trung Cộng hãy chấm dứt đàn áp dân Tây Tạng! Hãy để Đức Đạt Lai Lạt Ma được trở về quê hương!” …
Theo bước nam nhi, người thứ chín hiến thân vì Đạo Pháp là ni cô Tenzin Wangmo, mới 20 tuổi! Ngọn lửa dũng cảm này bùng lên tại thành phố Aba, cũng thuộc tỉnh Tứ Xuyên, nơi có một tu viện Phật Giáo từng xảy ra nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Cộng đã đối xử tàn nhẫn, bất công với người dân Tây Tạng. Những người chứng kiến nghe được giọng ni cô hùng hồn quyện trong lửa đỏ: “Tự do cho dân tộc Tây Tạng! Phải để Đức Đạt Lai Lạt Ma trở về Tây Tạng!” …
Bây giờ, không chỉ các nhà sư, mà dân chúng đã nhập cuộc. Gần đây nhất, ngày 4 tháng 11, 2011,người thanh niên Sherab Tsedor 25 tuổi đã cuốn rơm tẩm xăng quanh mình rồi mới mặc quần áo bên ngoài. Anh đứng trước sứ quán Trung Cộng tại New Delhi, tự châm lửa rồi hô to: “Tự do, độc lập cho Tây Tạng!” …
Đã hơn sáu mươi năm! Đã quá nửa thế kỷ!
Thời gian ấy có thể ngắn, với lịch sử, nhưng đã quá dài cho một đời người, quá dài cho sự cam tâm, nhẫn nhịn của một dân tộc trước sự đàn áp của một dân tộc khác, mà sự đàn áp đó không khác chi những địa ngục Vô Gián trong kinh Phật mô tả; nghĩa là, sự đàn áp không hề ngưng nghỉ.

Dưới mọi hình thức mà kẻ xâm lược có thể nghĩ ra, từ chiêu dụ, bắt bớ, giam cầm, thủ tiêu, tới hủy diệt văn hóa, sự đàn áp đó liên tục bảy ngày một tuần, ba mươi ngày một tháng, ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm!!!
Đã đủ chưa, với lòng tham"""
Đã đủ chưa, với sức người"""
Một dân tộc hiền hòa - được trưởng thành trong nền giáo dục đặc thù dân tộc tính, với hạnh phúc được tự do phụng thờ Giáo Pháp mà họ hãnh diện gọi riêng là Phật Giáo Tây Tạng đó - đã, và đang bị đẩy lùi vào bóng tối với âm mưu ngày càng rõ nét của ngoại xâm: Bị đồng hóa hoặc diệt chủng!
Cả thế giới đã thấy đường xe lửa nối liền Hoa Lục và Tây Tạng, hàng ngày ồ ạt đưa người Hán vượt biên bất hợp pháp, đem theo hành trang cồng kềnh ác-thế ngũ- trược, vào một đất nước bốn mùa trầm lắng tiếng chuông ngân!
Một dân tộc không còn đất nương thân, không còn chi hiện tại, chẳng chút hy vọng tương lai, họ phải làm gì sau bao tháng năm đằng đẵng nhẫn nhục"
Họ chờ đợi gì nơi sự bênh vực của thế giới"
Cuối cùng thì chỉ thấy còn tấm lòng và tấm thân của chính mình, mượn ngọn lửa để nói lên tiếng nói tuyệt vọng nhưng bất khuất của một dân tộc nhỏ bé, bị ngoại xâm cưỡng chiếm và thế giới làm ngơ, vì những móc xích chằng chịt của quyền lợi và quyền lực!
Tây Phương có câu: “Le monde apartient à ceux qui l’écoutent”, nghĩa là, “Thế giới thuộc về những người biết lắng nghe”
Nhưng trong thế giới này, xin chỉ cho người dân Tây Tạng, nơi nào còn những người biết lắng nghe"""!!! Nơi nào còn những người hành xử bằng lương tâm để đêm đêm họ có thể “Sleeping with Bodhicitta”"
Thấy người, lại ngẫm đến ta.
Chỉ khác, trên quê hương Việt Nam, không phải ngoại xâm cai trị!
Đều cùng huyết thống “năm mươi con theo Cha lên núi, năm mươi con theo Mẹ xuống biển” mà! Cha Mẹ Việt Nam ơi!
Ôi thiện tai! Thiện tai!
Huệ Trân
(Tào Khê tịnh thất, thượng tuần tháng 11, 2011)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.