Hôm nay,  

Bản Đồ Kinh Tế

22/02/201200:00:00(Xem: 13881)

Bản Đồ Kinh Tế

Nguyễn Xuân Nghĩa

Xác định mục tiêu và tọa độ trong một năm bầu cử tại Hoa Kỳ...

Hoa Kỳ đang gặp khó khăn kinh tế chưa từng thấy kể từ Thế chiến II, thậm chí kể từ vụ Tổng khủng hoảng 1929-1933, một trong những nguyên nhân dẫn tới đại chiến. Nguyên nhân chính, lâu dài và trầm trọng nhất là tình trạng nợ nần chồng chất, lưu cữu, tích lũy từ nhiều thập niên. Nợ nần của khu vực tư nhân, của người dân và các doanh nghiệp từ sản xuất đến tài chánh, là phần quan trọng nhất.

Cái "nhân" đó đã gặp cái "duyên" là vụ bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư địa ốc khởi sự từ 2006 và dẫn đến khủng hoảng tài chánh năm 2008, ngay trong một năm có tổng tuyển cử mà then chốt là cuộc tranh cử Tổng thống.

Nạn suy trầm kinh tế - chu kỳ kinh doanh bình thường cứ sáu bảy năm lại xảy ra một lần và kéo dài trung bình chừng hai năm - bắt đầu vào Tháng 12 năm 2007 khiến người ta gặp một vụ khủng hoảng tài chánh 2008 ngay giữa suy trầm và trong một năm bầu cử. Thế rồi, nạn suy trầm đã chính thức kết thúc vào Tháng Bảy 2009 mà sinh hoạt kinh tế vẫn èo uột, thất nghiệp không giảm mà còn tăng.

Năm 2008, ngay giữa những tai họa kinh tế tài chánh, lá phiếu của dân Mỹ đã đưa lên một chính quyền thiên tả, với đảng Dân Chủ kiểm soát cả Hành pháp và Lập pháp. Phương thức ứng phó rất đúng bài bản kinh tế của cánh tả là bơm tiền, tăng chi, thực tế là chuyển khối nợ vĩ đại của tư nhân về cho công quyền và đẩy mức công trái - nợ của khu vực công - lên mức kỷ lục....

Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ, người ta cho rằng cả thế giới bị vạ lây và rơi vào tình trạng gọi là "Tổng suy trầm 2008-2009." Nhưng người ta nhìn sai.

Những vấn đề gọi là nhân duyên kinh tế nói trên là hiện tượng chung của các nền kinh tế công nghiệp hoá, của cả ba khối kinh tế hàng đầu là Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản. Cái nhân vẫn là tình trạng vay mượn quá nhiều trong một giai đoạn quá lâu tại ngần ấy nước chứ không riêng gì tại Hoa Kỳ. Cái duyên chỉ là yếu tố thời cơ khiến thất quân bình chi thu đó bị lật vào thời điểm này.

Các nhà kinh tế có thể dự đoán rằng thất quân bình đó sẽ sụp đổ - nghiêng quá thì đổ - nhưng khó đoán ra cái duyên, vì bất cứ biến cố nhỏ nhoi nào cũng làm kiến trúc bất thường và bất ổn đó sẽ lật. Các nhà kinh tế càng khó dự đoán là làm sao Hoa Kỳ có thể tái lập sự quân bình đó vì đấy là quyết định chính trị, xuất phát từ chọn lựa của người dân khi họ đi bầu.

Nói trừu tượng thì Hoa Kỳ phải tái lập lại sự quân bình. Thực tế vẫn là phải trả nợ, tiết giảm chi thu để trả nợ và phải mất dăm bảy năm thì mới giải quyết một vấn đề tích lũy từ mấy chục năm. Nếu kinh tế có tăng trưởng, lợi tức khả quan hơn của mọi người sẽ giúp nhà nước tăng được nguồn thu thuế khoá và trang trải nợ nần hầu giảm bớt khoản tiền lời của việc vay mượn, v.v....

Khốn nỗi, Hoa Kỳ đang có tổng tuyển cử để bầu lại Tổng thống, toàn thể Hạ viện và một phần ba Thượng viện, mà chẳng ứng cử viên nào lại dại dột nói ra sự thật kinh tế là "chúng ta phải mất năm bảy năm thắt lưng buộc bụng để ra khỏi tình trạng khó khăn ngày nay".

Họ không dám nói sự thật mà còn lừa mị người dân về những giải pháp nhẹ nhất phải gọi là đánh bùn sang ao, thực tế và phũ phàng hơn thì nên gọi là những liều thuốc đổ bệnh, hoặc giết con gà đẻ trứng vàng, khiến thời gian phục hồi không chỉ là năm bảy năm mà còn kéo dài lâu hơn.

Có khi còn lâm vào đại khủng hoảng.

Trở lại chuyện bầu cử, bài diễn văn về Tình hình Liên bang hay dự thảo ngân sách mà Tổng thống Obama vừa đề nghị như một chương trình hành động của năm tranh cử thuộc vào loại đánh bùn sang ao. Còn giải pháp của bốn ứng cử viên Cộng Hoà lại là hiện tượng "mờ mờ nhân ảnh". Họ chưa đi tới giai đoạn đề nghị mà còn đang đấu khẩu xem ai là người bảo thủ nhất. Quần chúng Cộng Hoà ở dưới thì ngơ ngác đổi ý mỗi nơi mỗi tuần tùy theo lịch trình tranh cử sơ bộ ở từng tiểu bang.

Trong hoàn cảnh đó, làm sao chúng ta biết được rằng Hoa Kỳ phải làm những gì trong mấy năm tới hầu ra khỏi vũng lầy hiện tại?

Người viết tin là trong dài hạn, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường kinh tế và quân sự vì sức mạnh nội tại của xứ này. Nhưng trong trung hạn, nói theo kiểu kinh tế là từ hai đến năm năm, nước Mỹ phải uống liều thuốc đắng. Tức là lấy những quyết định đau lòng mà cần thiết, nó khác hẳn quyết định cần thiết của các chính khách là đắc cử.

Nói cách khác, ứng cử viên nào mà dám nói đến thuốc đắng thì đấy là người có thể thâu ngắn giai đoạn hồi phục và vẽ ra một lộ trình thực tế cho quốc dân.

Cho đến nay, ta chưa thấy xuất hiện những người như vậy! Mà lộ trình ấy là gì? Xin tạm phác họa ra tấm "bản đồ kinh tế" như sau....

***

Hãy lấy lại một công thức sơ đẳng và có giá trị toàn cầu vào mọi thời về sản lượng kinh tế một quốc gia trong một giai đoạn nhất định, gọi tắt là GDP, Tổng sản lượng Nội địa.

Nó là kết quả của tổng số Tiêu thụ của tư nhân và các doanh nghiệp, gọi chung là dân chúng (C), cộng với tổng số Đầu tư của các doanh nghiệp (I), cộng với số Chi tiêu của công quyền (G) và kết số của Ngoại thương, tức là Tổng số xuất cảng trừ nhập cảng (viết tắt là E).

GDP = C + I + G + E

Muốn có tăng trưởng kinh tế thì ngần ấy yếu tố C, I, G, E đều phải tăng.

Khi kinh tế bị suy trầm sau mấy chục năm vay mượn liên tục thì số tiêu thụ phải giảm. Đó là hiện tượng "bình thường" của tiến trình trả nợ. Khi thấy tiêu thụ giảm sút, nhà nước bèn tăng chi, tức là vì C xuống nên mới nâng G lên để giữ cho GDP khỏi sa sút.

Nhưng tăng chi như vậy chỉ là chuyển ngân, đánh bùn sang ao, chính khách thì lấy phiếu cử tri bằng hứa hẹn mà che giấu quần chúng về cái thực giá của việc tăng chi, là đi vay, mắc nợ và phải trả tiền lời. Đó là tấm bản đồ của 2009-2011, nó dẫn tới vách núi, bên bờ vực.

Một ngả đường thoát là nâng mức đầu tư của doanh nghiệp, tức là biến số I trong phương trình nít nôi ở trên.

Người ta nghiệm thấy, tại Hoa Kỳ và nhiều nước khác, doanh nghiệp loại nhỏ và vừa, mới thành lập trong vòng năm năm trở lại, là những cơ sở tạo ra nhiều việc làm nhất. Công ăn việc làm mới là động lực nâng cao sản xuất và căn bản thu thuế chi ngân sách. Nếu lực lượng lao động ấy lại có hiệu suất cao nhờ kiến thức và năng lực (kiến năng hay "know how") thì kinh tế phát triển.

Vì vậy, con đường thoát hiểm then chốt là đầu tư. Nhưng cụ thể về tâm lý và lời lãi là khiến cho những người có tiền DÁM bỏ tiền ra đầu tư để lập ra cơ sở kinh doanh mới, tuyển thêm người lao động và nâng tổng sản lượng cho quốc dân.

Khốn nỗi, người đầu tư cũng là kẻ có tiền, thành phần đang bị dư luận đả kích và bị kiềm toả bởi đạo luật tăng cường kiểm soát tài chính Dodd-Frank. Họ đứng bên lề, hoặc ngồi trên két bạc mà không dám nhúc nhích. Thành phần này không chỉ có hơn một ngàn tỷ phú mà là mấy triệu người có tài sản thuộc loại triệu phú, là những doanh gia có thể lập ra tiểu doanh nghiệp cò con thu dụng chừng 100 nhân viên trở lại.

Bản đồ thoát hiểm vì vậy phải là trấn an và khuyến khích dân đầu tư. Nhưng nói như vậy là không "phải đạo" và mất phiếu của dân nghèo cùng các nghiệp đoàn.

Một chi tiết kinh tế khác cũng đáng chú ý là trên nguyên tắc, tổng số đầu tư phải bằng số tiết kiệm trong xã hội vì đầu tư chỉ là tiết kiệm việc tiêu thụ hầu dồn tiền cho một tương lai thịnh vượng hơn. Nếu thiếu thì phải nhập cảng tiết kiệm từ bên ngoài vào, tức là tiếp nhận đầu tư nước ngoài, kinh tế học gọi là bị thiếu hụt cán cân chi phó.

Khi thấy số tiêu thụ giảm nhà nước tăng chi để bù đắp mà đã bị bội chi quá nặng thì sẽ phải đi vay, tức là vọc tay vào nguồn tiết kiệm của tư nhân, là nguồn đầu tư của doanh giới. Đánh bùn sang ao chỉ là cái thói trì hoãn chiến, thu hút tiết kiệm qua vay mượn là giết luôn con gà đẻ trứng vàng vì thu hẹp sức đầu tư. Là chuyện đang xảy ra cho nước Mỹ.

Vì vậy, nâng cao đầu tư phải đi đôi cùng giải tỏa kiểm soát và thu hẹp bàn tay phúc lợi của nhà nước mà cũng có bàn tay thô bạo đang lấy tiền tiết kiệm của thị trường để mua phiếu!

Sau cùng, tấm bản đồ còn một mảng quan trọng là kết số ngoại thương: phải gia tăng xuất cảng và thu hẹp nhập cảng thì mới góp phần nâng được Tổng sản lượng. Hoa Kỳ thật sự sản suất ra hơn 88% của số tiêu thụ nội địa và chỉ nhập cảng gần 12% mà thôi. Chuyện thu vén chi tiêu tất nhiên sẽ gián tiếp giảm bớt số nhập, nhưng nâng số xuất cảng lại là chuyện khác vì tùy thuộc vào thị trường bên ngoài.

Nếu ráo riết tranh thủ cán cân xuất nhập cảng bằng biện pháp bảo hộ mậu dịch thì sẽ rơi vào tình trạng gọi là "làm các bạn hàng đều nghèo đi", nôm na là dẫn nhau xuống hố. Đó cũng là một nguyên nhân khiến Tổng khủng hoảng kéo dài năm 1929...

Trong một bài rất cô đọng dưới hai ngàn chữ mà phải trình bày những chuyện chuyên môn rắc rối này thì quả là điều khổ tâm. Nhưng đấy là những chọn lựa còn khổ tâm hơn mà nước Mỹ không thể tránh khỏi.

Ý kiến bạn đọc
22/02/201210:09:17
Khách
"Lạnh mình".
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.