Hôm nay,  

Quê Hương Nơi Miền Đất Mới

24/02/201200:00:00(Xem: 11386)
Quê Hương Nơi Miền Đất Mới

Đoàn Thanh Liêm
Đây là bài thứ năm trong lọat bài ký sự về cuộc viếng thăm bà con trong thân tộc và bằng hữu của tôi tại Úc châu vào cuối năm 2011 vừa qua. Trong suốt một tháng sinh sống tại nhà của bà con cư ngụ tại hai thành phố lớn nhất của Australia là Melbourne và Sydney, tôi đã có nhiều thời gian trao đổi chuyện trò thân mật với cả trăm người già trẻ, lớn bé thuộc cả ba thế hệ trong gia đình người Việt, mà phần đông đã định cư tại đất nước này đến 30 năm nay.
*Thế hệ thứ nhất là lớp các ông bà, thì nay đã vào lứa tuổi từ 70 trở lên và hầu hết thì đã về nghỉ hưu. Trong số này, nhiều người thân thiết của tôi đã trút hơi thở cuối cùng và đang an giấc ngàn thu nơi các nghĩa trang tại xứ này. Cháu Tống Ngọc Lân hiện ở khu vực Footscray đã chở tôi đến thăm mộ của mẹ cháu mất năm 1994 và được an táng tại nghĩa trang gần sát với phi trường Melbourne. Mẹ của cháu Lân là cô em dâu của tôi.
*Thế hệ thứ hai là lớp các con, thì phần đông đã ở vào lứa tuổi 50, mà lúc rời Việt nam thì đã tới 20 – 30 tuổi, nên vẫn còn nhiều kỷ niệm với quê hương đất nước. Nhưng sau khi định cư tại Úc trên vài chục năm, thì nay họ đã có được công ăn việc làm ổn định và sắm được nhà cửa tươm tất, con cái được đi học ở những trường có danh tiếng. Nhờ vậy mà cuộc sống gia đình coi như được bảo đảm vững vàng nơi xứ sở Úc Đại Lợi này.
*Thế hệ thứ ba là lớp các cháu, thì hầu hết đều sinh trưởng, học hành tại Úc và nói tiếng Anh thông thạo như người bản xứ, nên đã dễ dàng hội nhập tự nhiên êm thắm với dòng chính của xã hội địa phương. Mặt khác, vì nhờ có sự sinh họat thường xuyên và gắn bó trong đại gia đình gồm cả ba thế hệ nói trên, nên các cháu ở thế hệ thứ ba phần đông còn nói được tiếng Việt và giữ gìn được nền nếp đạo đức văn hóa trong gia tộc của ông bà cha mẹ mình.
I – Cảm nghĩ sau các chuyến về thăm quê hương Việt nam.
Với khỏang cách tương đối gần, đi máy bay chỉ mất chừng 8 giờ, nên bà con ở Úc châu đi lại Việt nam thường xuyên và thật dễ dàng. Nhất là lớp người trung niên, thì hay tìm cách dẫn con cái về thăm lại quê hương bản quán, để các cháu có dịp tìm hiểu cho rõ ràng hơn về nơi miền đất cội nguồn của cha mẹ ông bà mình.
A - Tôi chú ý đến nhận xét của các cháu thuộc thế hệ thứ ba - ở vào tuổi trên dưới 20 đang còn là sinh viên đại học - sau những chuyến theo cha mẹ về thăm Việt nam. Vì hầu hết các cháu đều sinh trưởng tại Úc nên không hề có thành kiến hay kỷ niệm vui buồn gì liên quan đến quê hương Việt nam của bố mẹ mình. Do vậy mà ý kiến của các cháu dễ có tính cách khách quan hơn là của thế hệ cha bác vốn đã từng là nạn nhân của chế độ độc tài cộng sản ở trong nước.
Đại khái các cháu cho biết là không có mấy thiện cảm với những điều chính bản thân các cháu chứng kiến bằng tai nghe mắt thấy tại Việt nam trong thời gian vài ba năm gần đây. Khi được hỏi liệu có cháu nào dự tính sẽ về lập nghiệp ở Việt nam chăng ? Thì không một cháu nào tỏ ý muốn về sinh sống lâu dài ở nơi đó cả. Phần lớn các cháu chỉ về VN một vài lần vì tò mò muốn đích thân quan sát để cho biết thực tế ra làm sao vậy thôi. Và xem ra qua những gì đã chứng kiến trong chuyến về thăm đó, thì các cháu đều cho là mình không thể sống thỏai mái, hòa đồng tự nhiên trong cái môi trường xã hội hỗn độn xô bồ phức tạp, mà lại thiếu vắng sự thông cảm chân tình của những người xung quanh với mình.
B - Còn đối với thế hệ thứ hai là những người nay đã ở vào cỡ tuổi 40 - 60, thì có sự hiểu biết chi tiết hơn về tình hình sinh họat trong xã hội ở Việt nam, họ có thể nhận ra sự thay đổi rõ rệt trong xã hội hiện nay so sánh với thời kỳ 25 - 30 năm trước - vào lúc họ vẫn còn sinh sống ở trong nước. Qua sự quan sát tại nhiều nơi trong nước và nhất là qua sự gặp gỡ trao đổi tâm sự chân tình với thân nhân bạn hữu, họ có nhận định rằng tuy về mức sống vật chất có sự cải thiện nào đó, nhưng về phương diện tinh thần, thì vẫn còn ngộp thở bí bức thế nào ấy, chứ không có được sự thỏai mái cởi mở hồn nhiên như trong xã hội nước Úc là nơi họ đã định cư từ 30 năm nay.
Luật sư Phước quê ở Cần Giuộc đã tốt nghiệp ở trường Luật Saigon từ trước năm 1975, thì cho biết rằng cái lề lối quản lý xã hội ở Việt nam hiện nay đã bóp nghẹt mọi sáng kiến về cải tiến xã hội của những người có ưu tư đến vận mệnh của dân tộc. Vì thế mà trong lớp người tỵ nạn như chúng em đã đến lập nghiệp tại Úc châu từ 30 năm nay, thì chẳng một ai mà còn nghĩ đến chuyện đưa gia đình trở về lại Việt nam sinh sống nữa. Cô Oanh là bà xã của Phước thì cũng nói thêm vào : Anh thử coi xem mấy đứa con của chúng em nay đã ở độ tuổi 30, và đã có công ăn việc làm ổn định nơi đây rồi, thì chẳng cháu nào mà lại có ý định về lập nghiệp ở Saigon đâu. Như vậy là cả ba thế hệ trong gia đình tụi em thì nhất quyết bám trụ lại ở xứ sở Úc châu này như là quê hương thứ hai vậy - và Việt nam chỉ còn lại như là một kỷ niệm sâu sắc trong tâm hồn những người cỡ tuổi chúng em mà thôi. Chứ đối với các cháu sinh trưởng ở bên Úc hay rời Việt nam lúc còn quá nhỏ, thì rõ ràng là tụi chúng không thể có được cái ký ức thân thiết như thế hệ chúng em được.
II – Chúng tôi đi mang theo Quê Hương.
Chuyện lập lại cuộc đời tại một xứ sở xa lạ như ở nước Úc, tuy vậy mà cũng không đến nỗi vất vả khó khăn chật vật lắm, bởi lẽ kể từ thập niên 1980 trở đi, thì đã có số khá đông bà con người Việt được cho nhập cư một cách dễ dàng và chính phủ Úc cũng đã phát động rộng rãi chính sách “ Úc châu đa chủng tộc & đa văn hóa” (muti-ethnic & multi-cultural Australia). Hiện nay đã có đến con số 280,000 người gốc Việt sinh sống trên lãnh thổ Úc châu, mà đa số định cư tại hai tiểu bang đông dân nhất là Victoria với thành phố Melbourne và New South Wales (NSW) với thành phố Sydney.

A – Ngòai ảnh hưởng của đại gia đình ra, thì phải kể đến các tổ chức tôn giáo là những cơ sở tinh thần thiết yếu cho việc phát huy và bảo tồn văn hóa và đạo đức truyền thống Việt nam.
Với sinh họat gặp gỡ thường xuyên trong đại gia đình gồm cả ba thế hệ ông bà, cha mẹ và con cháu, thì ngay cả thế hệ thứ ba sinh ra trên đất Úc cũng vẫn còn nói được tiếng Việt và nhất là còn giữ vững được tinh thần đạo đức cốt yếu thuộc bản sắc dân tộc Việt nam. Và tại các chùa, nhà thờ nào, thì cũng có những lớp dậy tiếng Việt cho các em nhỏ vào những ngày cuối tuần, và các cơ sở tôn giáo này cũng đều tạo dịp cho cả ba thế hệ trong gia đình cùng hợp lại quây quần sinh họat chung với nhau trong các buổi cầu kinh và cử hành nghi lễ tôn giáo bằng tiếng Việt - hoặc có kèm thêm bằng tiếng Anh để lớp trẻ dễ dàng tiếp thu hơn. Tôn giáo có mặt thường xuyên và gắn bó mật thiết trong mọi sinh họat vui buồn của mọi gia đình tín đồ - cụ thể như trong các lễ đám cưới, lễ an táng, v.v…
Nhất là trong việc chăm sóc, an ủi, viếng thăm các cụ già yếu bệnh họan phải ở một mình tại các nursing home, mà con cháu vì bận rộn chuyện làm ăn, nên không thể lo lắng chu đáo mọi bề cho cha mẹ được. Thủy là bà xã của cháu Lân làm nghề y tá điều dưỡng ở Melbourne, thì cháu có trao đổi với tôi về những khó khăn của các cụ già sống cô đơn lủi thủi trong nursing home, và tôi đã góp ý với Thủy là các tổ chức nhân đạo từ thiện của cộng đòan tôn giáo có thể góp phần tích cực hơn trong vấn đề chăm sóc tinh thần cho các cụ già ở đây, nhất là vận động cho giới trẻ như học sinh, sinh viên tổ chức những cuộc viếng thăm an ủi thường xuyên tại các nursing home - để hợp cùng với gia đình các vị bô lão trong việc tạo dựng được bàu không khí ấm cúng thân mật trong cuộc sống tại cơ sở y tế xã hội này.
B – Vai trò của các tổ chức văn hóa xã hội thiện nguyện khác.
Trong một xã hội dân chủ cởi mở như ở Úc châu, người dân được tòan quyền tự do đứng ra thành lập các hội đòan hiệp hội nhằm theo đuổi các mục đích văn hóa xã hội cũng như thể thao giải trí. Các đơn vị này được gọi là tổ chức phi chính phủ, bất vụ lợi (non-governmental/non-profit organisations). Những hiệp hội đòan thể này cũng như các tổ chức nhân đạo từ thiện do các tôn giáo điều hành, thì đó chính là thành phần cốt lõi của khu vực Xã hội Dân sự. Nhân viên trong chính quyền nhà nước Úc châu không hề tìm cách can thiệp, hạn chế hay thao túng đối với sinh họat của các tổ chức tư nhân đó – điều này khác biệt hẳn với chế độ độc tài chuyên chế như tại các nước do đảng cộng sản nắm giữ quyền bính.
Nói chung, thì khu vực Xã hội Dân sự - do tập thể bà con người gốc Việt gầy dựng và duy trì trong hơn 30 năm qua – hiện đang góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa ngôn ngữ riêng biệt Việt nam tại miền đất mới ở phía Nam bán cầu. Điển hình là trong các Hội Chợ Tết - với hàng nhiều vạn người tham dự để vui chơi thưởng thức nhiều tiết mục đa dạng về phong cách trình diễn nghệ thuật, âm nhạc, đánh cờ, múa lân võ thuật… và nhất là các món ăn truyền thống Việt nam – thì luôn luôn được nhiều đòan thể hiệp hội tích cực tham gia khiến phát động được bàu không khí náo nhiệt phấn khởi tương tự như trong những Lễ Hội Dân Gian (Folk Festival) tại quê hương từ thuở xa xưa. C – Khu vực Thị trường Kinh doanh (The Marketplace).
Tôi chưa có dịp tìm hiểu chi tiết về quy mô lớn lao của các cơ sở kinh doanh sản xuất hay thương mại của người Việt tại Úc, nhưng qua những cuộc viếng thăm nhiều khu buôn bán làm ăn tiêu biểu xung quanh Melbourne như Footscray, Richmond, Springvale hay khu lân cận với Sydney như Cabramatta, Bankstown…, thì rõ ràng là đã có sự sầm uất phồn thịnh xuyên qua các cửa hàng đày ắp sản phẩm phù hợp với thị hiếu đặc trưng của người Việt xưa nay. Có thể nói tại hàng ngàn, hàng vạn các quán ăn cũng như tại các cửa hàng rất tấp nập trong các khu thương mại này, thì hầu như không hề thiếu một món nào so với ở quê nhà Việt nam mà bà con vẫn ưa thích.
Bà con cho biết là tại tiểu bang Queensland ở phía bắc của New South Wales, thì nhờ có khí hậu nóng và nhiều mưa, nên việc trồng rau, trái cây rất phát triển để có thể cung ứng dồi dào đến tay người tiêu thụ những sản phẩm của xứ nhiệt đới – không thua kém gì so với nông sản xuất phát từ Việt nam. Nhờ vậy mà trong các bữa cơm gia đình, hầu như không bao giờ thiếu vắng những món ăn đặc sản phổ biến mà bà con vẫn ưa thích khi còn ở bên quê nhà.
Nói vắn tắt lại, nhờ tinh thần năng động tháo vát trong lãnh vực kinh doanh cũng như trong việc phát triển sinh họat đa dạng của Xã hội Dân sự, nên cái Không gian Xã hội của người Việt tại Úc châu đã đạt tới trình độ hết sức linh động khởi sắc – vừa giữ được tính chất truyền thống cố hữu của bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tiếp thu được những cái mới lạ độc đáo tiến bộ trong nếp sống đã có sẵn tại địa phương bản xứ.
Thành ra bộ mặt Quê hương Việt nam - mà tập thể gần 300,000 người Việt nam tỵ nạn tại Úc đã chung sức kiên trì xây dựng từ trên 30 năm qua – đã có những nét thật tươi đẹp rạng rỡ khiến cho ngay cả đến các giới chức lãnh đạo xã hội bản xứ cũng phải bày tỏ sự khâm phục mến chuộng trước những cố gắng hội nhập cũng như những đóng góp tích cực với quốc gia Úc châu của sắc dân Việt nam.
Và quả thật tập thể người Việt tại Úc châu đã tạo ra được một nét son độc đáo trong việc đem một phần tinh hoa của Quê hương Việt nam tháp nhập êm thắm vào với xã hội nước Úc và cũng đã đem lại niềm tự hào cho tòan thể dân tộc chúng ta nữa vậy./
California, tháng Hai năm 2012
Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.
Hôm Thứ Sáu 26/9, Tổng Biên Tập JEFFREY GOLDBERG của tạp chí The Atlantic gửi ra tuyên bố phản đối lệnh của Ngũ Giác Đài về việc áp đặt, kiểm duyệt báo chí. Tuyên bố ghi rõ: “Về cơ bản, The Atlantic phản đối những hạn chế mà Ngũ Giác Đài đang cố gắng áp đặt đối với các nhà báo đưa tin về vấn đề quốc phòng và an ninh quốc gia. Những yêu cầu này vi phạm quyền Tu Chính Án Thứ Nhất của chúng ta, và quyền của người Mỹ muốn biết hình thức khai triển nguồn lực và nhân sự vốn do tiền thuế của người dân tài trợ. Những quy định này cũng phá vỡ các thông lệ lâu đời - dưới thời tổng thống của cả hai đảng, trong suốt thời kỳ chiến tranh và khủng hoảng quốc gia - vốn cho phép các phóng viên Ngũ Giác Đài thực hiện công việc của mình mà không bị can thiệp chính trị.” The Atlantic đăng tuyên bố này trên trang mạng xã hội chính thức của tạp chí.
Chuyện phải, trái ở đây không hẳn là chuyện đúng, sai mà đúng ra là chuyện bên phải (khuynh hữu hay thiên hữu) và bên trái (khuynh tả hay thiên tả) trong chính trị Mỹ. Tất nhiên, trên đời này mọi chuyện đều có hai mặt của nó. Trong chính trị cũng thế, đã có cánh phải thì ắt có cánh trái, vì đó không những là bản chất tương đối của mọi sự mọi vật mà còn là hiện tượng phải có trong một nền dân chủ. Tuy nhiên, nền chính trị Mỹ trong những năm gần đây đã bị phân cực và phân hóa trầm trọng. Thể chế dân chủ kiểu mẫu của Mỹ xưa nay đương nhiên chấp nhận sự khác biệt vì đó là một trong những yếu tính ắt có của một nền dân chủ thật sự. Nhưng đẩy sự khác biệt của mình đến mức cực đoan và biến sự khác biệt của người khác thành kẻ thù bất dung thì là hiện tượng biến dạng nguy hiểm báo hiệu sự sụp đổ của nền dân chủ. Nước Mỹ trong những năm gần đây đã chứng kiến nhiều hiện tượng cực đoan như thế.
Với sự tham gia của khoảng 100.000 binh sĩ, cuộc diễn tập quân sự Nga-Belarus mang tên “Zapad 2025” đang được khối NATO theo dõi chặt chẽ và các quốc gia phía đông của liên minh cực kỳ lo ngại, đặc biệt nhất là sau khi các máy bay không người lái của Nga xuất hiện trên bầu trời Ba Lan. Cuộc tập trận này vẫn diễn ra theo chu kỳ bốn năm một lần, nhưng lần này, chính giới và công luận xem đây là phép thử đối với khả năng phản ứng của NATO trong bối cảnh địa chính trị mới. Để đối phó, NATO và Ukraine đang tăng cường các biện pháp an ninh, khi nguy cơ chiến tranh được đánh giá là ngày càng leo thang. Kinh nghiệm từ năm 2022 cho thấy Nga đã tiến hành các cuộc tập trận trước khi mở cuộc tấn công vào Ukraine. Câu hỏi đặt ra là liệu lịch sử có lặp lại không và tình hình hiện nay nghiêm trọng đến mức nào?


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.