Hôm nay,  

BRIC à BRAC

04/04/201200:00:00(Xem: 13973)
Thật ra, cái câu lạc bộ này chỉ ồn ào khi hùa nhau đả kích Mỹ...

Ngân hàng BRICS một dự án khó hoàn tất

Thành lập một ngân hàng phát triển chung hay «BRICS Bank» là sáng kiến được Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đề xướng tại hội nghị Thượng đỉnh New Delhi ngày 28/03/2012. Ngân hàng BRICS thực sự đáp ứng những nhu cầu tài chính hay chỉ là những tính toán mang nặng màu sắc chính trị từ phía các nền kinh tế đang trỗi dậy ?

Trong bản thống cáo kết thúc Thượng đỉnh lần thứ tư tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ vào tuần trước, năm nước thành viên nhóm BRICS nêu lên một số vấn đề kinh tế cần được xúc tiến. Nổi bật nhất là dự án thành lập ngân hàng phát triển chung có tên gọi là «BRICS Bank» hay «South–South Bank» để hỗ trợ cho các nước phương Nam phát triển. Rời khỏi New Delhi bộ trưởng Tài chính các nước thành viên bắt đầu nghiên cứu tính khả thi của một dự án được coi là đầy tham vọng.

Ngoài ra, Brazil Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi chỉ trích các nước công nghiệp phát triển đã bơm quá nhiều tiền vào guồng máy kinh tế của họ để vượt qua khủng hoảng tài chính 2009, qua đó tạo nên tình huống «dư thừa tiền mặt» trên thị trường, làm khuynh đảo thị trường tại các quốc gia đang vươn lên.

Điểm thứ ba làm nhóm BRICS bực bội liên quan đến tiến trình cải tổ bị coi là quá chậm chạp của định chế tài chính đa quốc gia, Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế. Các nền kinh tế đang trỗi dậy cho rằng phương Tây vẫn khóa chặt cửa IMF và WB để độc quyền lèo lái vận mệnh tài chính và kinh tế của thế giới.

Chính vì muốn thoát ra khỏi tình huống đó mà BRICS tại New Delhi đã coi dự án thành một lập ngân hàng phát triển chung là trọng tâm thượng đỉnh lần thứ tư. Mục tiêu đề ra nhằm tài trợ cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở tại các quốc gia đang phát triển đồng thời thắt chặt quan hệ giữa năm anh em cùng một nhà là Brazil, Nga, Á, Trung Quốc và Nam Phi.

BRICS bao gồm 40 % dân số trên hành tinh, bảo đảm đến gần 20 % GDP toàn thế giới và là khu vực có tỷ lệ tăng trưởng hấp dẫn vào bậc nhất địa cầu. Cho dù Bắc Kinh và New Delhi giảm dự phóng tăng trưởng cho năm 2012, nhưng GDP của Trung Quốc dự trù tăng 7,5 % và của Ấn Độ là 6,9 % cũng đủ làm các cột trụ kinh tế thế giới truyền thống là Âu Mỹ hay Nhật ganh tị. Năm ngoái tổng kim ngạch trao đổi mậu dịch giữa 5 thành viên tăng 28 %, đạt 230 tỷ đô la.

Nhóm BRICS hiện đang làm chủ một khối dự trữ ngoại tệ 5.000 tỷ đô la. Tham vọng thành lập một ngân hàng riêng của nhóm các quốc gia đang trỗi dậy cũng là điều dễ hiểu đặc biệt là khi khối tiền khổng lồ đó gần như chỉ được dành để mua công trái của Hoa Kỳ hay đầu tư vào châu Âu.

Với trọng lượng kinh tế ngày càng lớn, đòi hỏi phải có tiếng nói quan trọng hơn trên sân khấu kinh tế thế giới là điều chính đáng. Tuy nhiên, xét về phương diện kinh tế thì dự án cho ra đời thêm một ngân hàng phát triển để giúp đỡ các nước phương Nam không hẳn là một điều cần thiết. Đây là một dự án «nặng phần trình diễn» hơn là về mặt nội dung.

Về tính khả thi, dự án xây dựng một ngân hàng chung giữa năm quốc gia thuộc nhóm BRICS còn phải kể đến một yếu tố quan trọng: đành rằng Brazil, Nga, Ấn Độ Trung Quốc và Nam Phi đều muốn có một chỗ đứng quan trong hơn trên bàn cờ kinh tế và tài chính thế giới, nhưng bản thân các quốc gia này cũng có những quyền lợi chồng chéo với nhau và họ cũng là những quốc gia cạnh tranh lẫn với nhau. Đó là chưa kể đến những hiềm khích lịch sử và chính trị trong quá khứ.

Bên cạnh đó, hiểm họa lớn hơn nữa là trong tương lai Trung Quốc với 3.200 tỷ đô la dự trữ - nặng gấp sáu lần chiếc gối đô la của Nga và gần gấp 10 lần so với Ấn Độ - sẽ không ngần ngại áp đảo bốn thành viên còn lại trong nhóm BRICS.

Riêng đối với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, ngân hàng phát triển BRICS trong tương lại còn có nguy cơ trở thành một cánh cửa để Trung Quốc đổ vào các nước nghèo những dự án đầu tư bừa bãi, gây tai hại cho môi trường và đời sống con người.

Trước hết ông Nguyễn Xuân Nghĩa trở lại với sự hình thành và những bước đầu của nhóm năm nước BRICS.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Năm 2001, một kinh tế gia và Chủ tịch phân vụ Quản trị Tài sản của tập đoàn đầu tư Goldman Sachs của Mỹ là Jim O'Neill phát minh ra chữ B.R.I.C. Đó là tên tắt của bốn nước có nền kinh tế đang lên của thế giới, là Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.

- Có thể là vì tiện dụng khi ông O'Neill chọn tên tắt cho dễ đọc như thói quen đã thấy của ông ta. Riêng tôi còn ngờ là ông ta cần chiêu dụ thân chủ quốc tế cho tập đoàn Goldman Sachs nên cho họ uống nước đường khi đề cao ưu điểm hoặc triển vọng của bốn nước đó. Nhưng thực tế thì chỉ là dán nhãn hiệu đẹp lên cái chai rỗng, sau đó mới tìm cách đổ vào trong một nội dung thống nhất, hoặc một dung dịch có thể hoà tan mà khôngthành nhũ tương hay chất nổ.

- Xin cho tôi nói đùa một câu: vì là dân Mỹ dùng tiếng Anh, có khi ông ta không biết một từ kép của Pháp là "bric à brac", một chữ sau này cũng đã thông dụng trong thế giới Anh ngữ. Ban đầu vào thế kỷ 19 thì từ "bric à brac" nghĩa là một tập hợp những vật kỳ lạ đáng sưu tầm, nhưng sau này có nghĩa là "đồ tầm tầm" thấy bán ngoài chợ trời! Nôm na thì đây là một sự «tào lao» trong nhiều sự tào lao mà cứ được lưu truyền vì dụng ý của các nước này!

- Từ nguyên thủy, xin hãy nhớ ba chuyện. Thứ nhất là sau Thế chiến II, khối công nghiệp hoá đã phát triển mạnh và viện trợ các nền kinh tế khác để ra khỏi tình trạng nghèo đói qua các giá trị phổ cập là kinh tế tự do và dân chủ chính trị. Họ còn xây dựng nhiều định chế quốc tế để cùng tham gia phát triển kinh tế toàn cầu và bên trong họ kiện toàn các cơ chế hợp tác có thực quyền, cụ thể như việc thống nhất kinh tế rồi chính trị Âu Châu hay Tổ chức Thương mại Thế giới. Các nước tư bản đó đã lập ra khối G-7 và thường xuyên họp hành hàng năm kể từ năm 1975.

- Chuyện thứ hai là Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991 với sự xuất hiện của Liên bang Nga khi ấy chỉ còn là một vang bóng của siêu cường đã tiêu vong là Liên bang Xô viết, trong khi Hoa Kỳ chiếm vị trí siêu cường độc bá. Về sau, khối G-7 mới mời Nga tham dự không vì sức nặng kinh tế của xứ này mà vì trọng lượng về an ninh, và khối G-8 bắt đầu ra đời từ năm 1997 để cùng nhau giải quyết thiên hạ sự. Song song, các nước đang phát triển đã vươn lên và trở thành một nhóm quốc gia được gọi là "tân hưng", trong đó, Trung Quốc rồi Ấn Độ và Brazil tại Nam Mỹ chỉ là mấy nước đến sau và có trọng lượng là nhờ dân số cao, tổng cộng là gần ba tỷ dân.

- Thứ ba, biến cố then chốt là vụ khủng bố 9-11 năm 2001 tại Mỹ khiến Hoa Kỳ cùng đồng minh - hầu hết là các nước dân chủ kỹ nghệ - đều mắc bận với cuộc chiến họ gọi là chống khủng bố Hồi giáo toàn cầu. Đấy là lúc mà các nước kia mới thấy là phải nhân cơ hội mà đòi hỏi có trọng lực nặng hơn thay vì cứ để khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật chi phối mãi.

BRICS lợi dụng thời cơ để mở rộng tầm ảnh hưởng


Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc và Nga đã nghĩ đến việc tăng cường hợp tác để làm lực đối trọng với sức mạnh độc bá của Mỹ hầu có thể tiến tới một thế giới gọi là đa cực.

- Năm 1996, Bắc Kinh lập cơ chế hợp tác gọi là Tổ chức Thượng Hải, ban đầu với Liên bang Nga và ba nước Cộng hoà Hồi giáo Trung Á thuộc Liên bang Xô viết cũ. Năm 2008, do sáng kiến của Nga, ba Ngoại trưởng Nga, Tầu và Ấn lần đầu tiên tiếp xúc để nói chuyện hợp tác tay ba. Qua năm 2009, Trung Quốc và Nga mới nhân thượng đỉnh của Tổ chức Thượng Hải tại thành phố Yekaterinburg của Nga mà mời Brésil tham dự để tạo thêm vây cánh. Đó là Thượng đỉnh đầu tiên của nhóm BRIC, gồm có Nga, Tầu, Ấn và Brésil.

- Qua năm 2010, Trung Quốc mới mời thêm Cộng hoà Nam Phi với chủ đích lấy lòng các nước Châu Phi da đen, rồi nhóm BRICS này thành hình từ đầu năm 2011. Tôi gọi là "nhóm" BRICS chứ không là "khối" vì họ chỉ là một câu lạc bộ gặp nhau để nói chứ không làm, mà cũng chẳng có nổi một cơ chế cưỡng hành. Họ đang đi tìm nội dung cho cái chai rỗng mà một người Mỹ đã đặt tên! Năm nay là lần đầu mà họ có vẻ nói đến chuyện trọng đại qua một thông cáo chung gồm 50 điểm rất huê dạng hoành tráng!

Dự án Ngân hàng BRICS để bớt lệ thuộc vào đô la

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ngay từ đầu, vào năm 2009, nhóm quốc gia ồn ào này kêu gọi một điều có vẻ hợp tình mà thật ra chẳng hợp lý. Đó là thành lập một loại ngoại tệ dự trữ toàn cầu và mặc nhiên chấm dứt vị trí thống trị của đồng Mỹ kim.

- Chuyện ấy có vẻ hợp tình và ăn khách nên Liên bang Nga mới nêu ra, vì chẳng lẽ các nước đang lên và nay buôn bán với nhau ngày một nhiều hơn lại cứ phải xài tiền của các nước tư bản đang mắc nợ như Mỹ, như Âu Châu hay Nhật Bản? Điều không hợp lý là chẳng ai có thể phán bảo là từ nay toàn cầu sẽ xài một loại tiền tệ nào đó từ trên trời rơi xuống.

- Ngoại tệ dự trữ phải là phương tiện hữu dụng – là dùng được để thanh toán giao dịch – và phải phản ảnh quy luật cung cầu, tức là được quyền trao đổi tự do, là chuyện chưa hề có với đồng Nguyên của Trung Quốc. Và nếu đồng Rúp Nga được tự do giao dịch thì có ngay nạn tẩu tán tài sản như người ta đã thấy từ năm ngoái vì những biến động chính trị ở bên trong.

Tính khả thi của dự án?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Ngân hàng Thế giới đã thành một bộ máy thư lại quốc tế với quá nhiều nhược điểm tích lũy và quả là cần cải cách. Nhưng đến nay, đa số phần vốn - và từ đó là tiếng nói - thì vẫn nằm trong tay các nước đã phát triển. Ngoài ra, thế giới cũng có nửa tá ngân hàng phát triển địa phương để tài trợ các nước nghèo thiếu tín dụng ưu đãi và cần tư vấn kỹ thuật khách quan khi thực hiện các dự án phát triển của họ.

- Tại sao không chung tiền gom sức củng cố các cơ chế này? Trong khi ấy, điều mỉa mai là trong nhóm BRICS có Trung Quốc vẫn còn vay tiền loại ưu đãi của Ngân hàng Thế giới dù đã có điều kiện huy động vốn trên thị trường tài chính tự do. Vì sao họ không nhường phương tiện cho các nước nghèo?

- Ngẫm cho kỹ thì chuyện họ nói nhắm vào mục tiêu chính trị chứ không để giúp các xứ nghèo, hoặc để chung sức giải quyết nhiều vấn đề của thế giới. Vì vậy, nhóm BRICS này là một tập hợp của nhiều mâu thuẫn mà lớn nhất là những tính toán đối chọi giữa từng nước với nhau. Vì vậy tôi mới nói là chuyện chính trị tào lao!

Mâu thuẫn giữa các thành viên BRICS

- Ngoài lý do địa dư là sự tiếp cận giữa các thành viên của một nhóm, ta có thể nghĩ đến triết lý kinh tế chính trị tương đối thống nhất của cả nhóm, là điều không hề có.

- Như năm 2010, ba xứ dân chủ là Ấn Độ, Brésil và Nam Phi đòi lập ra một nhóm lấy tên tắt là I.B.S.A. Trung Quốc bèn phá vỡ thế liên kết khi đặt điều kiện cho Nam Phi tham dự nhóm BRICS. Đó là một thí dụ đầu tiên cho thấy khác biệt giữa ba nước dân chủ với một xứ độc tài là Liên bang Nga và một xứ toàn trị chưa chấp nhận kinh tế tự do là Trung Quốc.

- Sau khi đưa quân tấn công Gruzia vào Tháng Tám năm 2008, đầu năm 2009, Nga khống chế nguồn khí đốt bán cho xứ Ukraine để bắt bí Âu Châu vì họ mua khí đốt của Nga dẫn qua lãnh thổ Ukraine. Cũng vậy, cuối năm 2010, Trung Quốc đơn phương quyết định ngưng bán quý kim của công nghiệp cao cấp gọi là "đất hiếm". Hai xứ này có thể đơn phương dùng tài nguyên làm võ khí và không tôn trọng quy luật giao dịch tự do mà ba nước kia vẫn muốn đề cao.

- Chuyện thứ ba, nhóm BRICS nói đến phát huy "kinh tế xanh" theo tôn chỉ phát triển bền vững của Hội nghị RIO+20 năm nay của Liên hiệp quốc. Trong thực tế, Trung Quốc lạm thác cây rừng và khống chế nguồn nước từ đỉnh tuyết Hy Mã Lạp Sơn và các dòng sông trên Cao Nguyên Tây Tạng nên sẽ gây tai họa môi sinh kinh khủng cho Ấn Độ và mọi lân bang ở Châu Á trong thế kỷ 21 này. Nếu kể thêm sự ngang ngược của Bắc Kinh ngoài Đông Hải thì ta thấy ra trò bi hài.

- Chuyện thứ tư, nếu cần cải tổ các định chế quốc tế như Liên hiệp quốc hay Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế FMI thì tại sao Nga và Tầu không đồng ý cho Ấn Độ vào làm Hội viên Thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc? Ngay trong Hội đồng Bảo an này, hai nước Nga và Trung Quốc còn phủ quyết việc trừng phạt xứ Syria độc tài đang tàn sát người dân vô tội. Làm sao có thể để các quốc gia vô đạo như vậy có thế lực chi phối thiên hạ sự của thế giới?

- Chuyện thứ năm, người lý tưởng ưa nói đến việc các nước nghèo phải liên đới tương trợ nhau qua quan hệ gọi là "Nam-Nam", tức là so với Bắc bán cầu là nơi tập trung các xứ giàu. Thực tế thì hãy xem mâu thuẫn mậu dịch rất nặng trong Thị trường Mercosur giữa các nước Nam Mỹ với nhau, trong đó có xứ Brézil. Hội nhập kinh tế giữa các nước tiếp cận mà không xong thì làm sao thống nhất hành động với các xứ ở xa, vốn đã có đầy mâu thuẫn trong lịch sử, như Nga, Tầu và Ấn? Vả lại, nếu thả ra thì xứ nào cũng đòi bảo hộ mậu dịch khiến các nước nghèo đều bị thiệt, đấy là sở trường của Trung Quốc và cả Ấn Độ.

- Sau cùng, trong mấy năm suy trầm vừa qua, ưu điểm biểu kiến, bề ngoài, của nhóm BRICS chẳng có gì là ưu việt vì sau khi tăng trưởng 7,5% vào năm 2010, xứ Brésil cũng bị suy trầm vì đạt tốc độ có 2,5% mà thôi và kinh tế Ấn Độ thì vẫn chưa ra khỏi nhiều sai lầm lưu cữu từ ba năm nay. Trong khi ấy, những xứ khác như Indonésie, Mexico hay Argentine cũng có lý do chính đáng tham gia vào nhóm này, nếu kể về dân số hay sức mạnh kinh tế của họ. Nếu gom ngần ấy nước lại, có khi ta sẽ có nhóm ABRACADABRA, là một câu thần chú của cổ tích!

- Kết luận thì nhóm BRICS đã nhân sáng kiến của một anh Mỹ đa sự mà kiễng chân cao quá tầm. Và nếu có thực tâm thì việc mời Trung Quốc tham dự vẫn khiến họ thất bại vì Bắc Kinh cứ đòi ngồi trên đôi vai của họ để uy hiếp thế giới và trục lợi riêng. Thật ra, cái câu lạc bộ này chỉ ồn ào khi hùa nhau đả kích Mỹ dù từng nước một lại muốn có quan hệ kinh tế đặc biệt với Hoa Kỳ. Đấy là một trò vui, nhưng không bền.

Nguyễn Xuân Nghĩa & Thanh Hà RFI

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.