Hôm nay,  

Mãi Mãi Không Quên

23/04/201200:00:00(Xem: 16222)
Mỗi năm cứ đến ngày oan trái
Thắp nén hương lòng tưởng nhớ ai. (Vô danh)

Paris xuống đường

Trong các hình ảnh lịch sử 30 tháng tư phổ biến mấy năm qua có hình Paris xuống đường gây nhiều xúc động. Mới đây tấm hình này lại được anh Nguyễn Ngọc Bách gửi lại với hàng chữ viết tay phía dưới của một sinh viên vô danh. Bác sĩ Hoàng cơ Lân chuyển cho thân hữu chúng tôi nhân ngày quốc hận lần thứ 37 mãi mãi không quên.

Sau đây là thư của anh Nguyễn Ngọc Bách từ Paris.

“Bức hình này cùng thủ bút thuộc archive của THSV VN Paris, nay thì cũng đã thuộc về lịch sử rồi! Quý NT có thể sử dụng tùy nghi, Bách xin xin phép đăng nguyên văn thủ bút, vì hình và thủ bút đi chung với nhau từ trước đến giờ.

Trong những năm 75, 76 ... 80, Hải ngoại và Paris chỉ có sinh viên với Trần Văn Bá đứng mũi chịu sào. Thời đó không có tổ chức cựu quân nhân, không có Hướng đạo, không có chùa chiền, không có đảng phái, không có gì cả... chỉ có sinh viên nghèo (vì bị cúp hết nguồn trợ cấp) và đợt tỵ nạn đầu tiên quậy nên chuyện mà thôi.

Trong đoàn người này ngày 27/04/75 chắc phải có anh Trần Văn Bá, vì qua vài hình khác, góc cạnh khác, thấy anh Bá chít khăn tang. Có thể nói rằng đây là cuộc biểu tình Quốc Hận năm thứ zéro tại Paris. (Nguyễn Ngọc Bách)

Hội ngộ trại Trần Hưng Đạo, bộ tổng tham mưu

Xem tấm hình Paris, tôi hết sức bồi hồi tự hỏi, các bạn sinh viên này bây giờ ở đâu. Gần 40 năm qua, đã trên 60 tuổi cả rồi, các anh chị còn nhớ hay quên. Tuổi hoa niên đã sớm để tang cho quê hương. Trong chúng ta, ai cũng có riêng một ngày 30 tháng tư. Riêng các bạn sinh viên Việt Nam tại Paris có thêm một ngày đau thương, sớm hơn 3 ngày.

Riêng phần chúng tôi, trong 37 lần quốc hận những năm qua, tôi có nhiều kỷ niệm riêng với ngày thứ 30. Số là vào năm 2005 chúng tôi kéo nhau lên DC tổ chức gặp lại chiến hữu lần đầu. Bây giờ 2012 bẩy năm sau, xem ra đối với nhiều bạn kỳ họp mặt đó đã thành ra lần cuối. Xin kể lại chuyện xưa cùng các bạn.

Trong kỳ hội ngộ 30 năm của trại Trần Hưng Đạo, bộ tổng tham mưu tại thủ đô Hoa Thịnh đốn, trung tướng Đồng Văn Khuyên tóc bạc phơ đã đi đến chào bàn và chắp tay xá từng chiến hữu. Gặp anh em cựu tù cải tạo trên 10 năm nhắc chuyện các tướng lãnh tự vẫn, vị tham mưu trưởng liên quân ngày xưa chợt nói ra cả gan ruột của mình. Ông nói rằng: Nghĩ lại thấy mình thật hèn.

paris_thang_4_1975_medium

Tấm hình lịch sử ngày 27-4-1975 ở Paris: tuổi trẻ bịt khăn tang biểu tình.
Những người tuẫn quốc .

Và như vậy là ông đã thực tâm nói hộ cho tất cả anh em. Các nhà lãnh đạo dù đảm lược can trường qua bao năm chinh chiến, nhưng dễ gì mà làm được người hùng tuẫn quốc như tiền nhân Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu.

Các niên trưởng của tôi một thời tuổi trẻ như ông Khiêm, ông Thiệu, ông Viên. Lúc đó còn là trung úy Cao Văn Viên, trung úy Nguyễn Văn Thiệu và đại úy Trần Thiện Khiêm gặp nhau ở Secteur Hưng Yên vào đầu thập niên 50. Quý vị không biết rằng sau này sẽ làm tổng thống, thủ tướng và tổng tham mưu trưởng. Nếu bây giờ được sống lại tuổi hoa niên, ta sẽ làm lại từ đầu với bao nhiêu điều tốt đẹp hơn, cho bản thân, cho gia đình và cho đất nước. Kể cả các hành động anh hùng lẫm liệt.

Và biết bao nhiêu tướng lãnh tư lệnh của quân lực Việt Nam Cộng Hòa ngày nay còn sống hay đã qua đời đều có chung một kỷ niệm đau thương.

Chiêm nghiệm lại, việc rút quân hoảng loạn tại quân đoàn I và Quân đoàn II đã trở thành một thảm kịch ghê gớm như một bệnh dịch, như ngọn sóng thần, như cơn hồng thủy vượt qua mọi sức đề kháng của con người. Vào cái thời điểm đó, trong một sáng một chiều, chúng ta không phải là những chiến sĩ anh hùng mà đã trở thành những con người khác.

Không cần địch tấn công, các đơn vị cứ tan ra như một dung dịch hóa học được thử nghiệm.

Vì vậy các tư lệnh chiến trường của miền Cao nguyên, Hỏa tuyến, Duyên hải khi chạy về được miền Nam thì đa số đều tìm đường di tản. Tư lệnh và tư lệnh phó quân đoàn. Các tư lệnh tổng trừ bị và các sư đoàn. Tất cả hoàn toàn mất hết sức đề kháng kể cả lục quân, không quân, và hải quân. Tất cả đều tin rằng Mỹ bỏ Việt Nam và mọi thứ coi như cáo chung. Không thể tiếp tục cuộc chiến.

Riêng mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh và khi cộng sản đi vòng qua phòng tuyến sư đoàn 5 tại Lai Khê để tiến về Sài Gòn thì coi như một phần của miền Đông vẫn bình yên.

Và chính ở các vùng đất hoàn toàn chưa nổi sóng đó đã sản xuất ra các vị lãnh đạo sẵn sàng vị quốc vong thân.

Trong suốt 55 ngày cuối cùng của miền Nam năm 75 đã có biết bao nhiêu chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hy sinh và gồm cả quân nhân các cấp đã tự sát.

Một số đã tự vẫn tại mặt trận hoặc tại nhà. Có các trường hợp tự tử chết cả gia đình. Chúng tôi ghi nhận rằng có nhiều anh em binh sĩ đã tự tử tập thể bằng lựu đạn tại chiến trường. Sau đây là một số trường hợp điển hình thường được nhắc nhở trong các năm qua.

Thiếu tướng Phạm Văn Phú: Sau cuộc rút quân tại Cao Nguyên hỗn loạn trở thành thảm họa, tướng Phú, tư lệnh quân đoàn II đã uống thuốc độc tự tử tại Sài Gòn. Một hình thức nhận trách nhiệm. Đó là vào ngày 29 tháng 4-1975. Thân nhân đưa vào nhà thương Grall để cấp cứu nhưng không kịp.

Trung sĩ I Quân Cảnh Trần Minh: Thuộc đại đội I quân cảnh đảm trách khu vực cổng chính bộ tổng tham mưu. Lúc 10 giờ sáng 30 tháng 4-1975, sau khi nghe tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, Trung sĩ Trần Minh đã dùng súng lục tự tử dưới chân cột cờ bộ tổng tham mưu.

Trung Tá Long, Cảnh Sát Quốc Gia: Sau khi nghe tin đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975, trung tá Long, cảnh sát quốc gia đã đến đứng chào tượng thủy quân lục chiến trước tòa nhà quốc hội ở Sài Gòn rồi rút súng tự sát. Báo chí ngoại quốc đã đăng hình của ông nằm ngay trước pho tượng. Hình chụp vào khoảng 12 giờ trưa 30 tháng 4-1975.

Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ: Khoảng 1 giờ trưa 30 tháng 4-1975, khi nghe lệnh đầu hàng, ông đã họp các sĩ quan tại bộ tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh tại Lai Khê. Sau khi dùng cơm với anh em, ông lui vào phòng riêng dùng súng lục tự vẫn. Vợ và 4 con nhỏ của ông di tản qua Hoa Kỳ ngày 28 tháng 4-1975 đến hai tháng sau mới biết tin.

Chuẩn tướng Trần Văn Hai:Chiều 30 tháng 4-1975 vị tư lệnh sư đoàn 7 bộ binh đã uống thuốc độc tự tử tại căn cứ Đồng Tâm – Mỹ Tho. Bà mẹ của tướng Hai đã đem xác con về chôn cất tại nghĩa trang Gò Vấp. Căn cứ Đồng Tâm là nơi đặt bản doanh của sư đoàn 7 bộ binh.

Thiếu tướng Lê Văn Hưng:Tư lệnh phó quân đoàn 4 đã dùng súng tự sát tại Cần Thơ tối ngày 30 tháng 4-1975. Lúc đó vợ và các con cũng có mặt cùng với các sĩ quan cận vệ thân tín. Tướng Hưng là vị tư lệnh nổi tiếng đã tử thủ tại trận An Lộc tỉnh Bình Long năm 1972. Đại úy Nghỉa, sỹ quan tùy viên đã viết bài rất cảm động về những giờ cuối cùng.

Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam: Tư lệnh quân đoàn 4 đã dùng súng lục tự sát vào lúc 7 giờ sáng ngày 1 tháng 5-1975. Ông là người đã sống một ngày dài nhất từ lúc tổng thống Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng sáng 30 tháng 4-1975 cho đến sáng 1 tháng 5-1975.

Ngay sau khi có lệnh đầu hàng ông đã gặp các đại diện phía cộng sản hai lần khi họ vào dinh tư lệnh tại Cần Thơ tiếp xúc nhưng cả hai lần đại diện phía cộng sản đều ra đi. Cũng trong chiều 30 tháng 4, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đi thăm quân y viện Phan Thanh Giản lần cuối cùng. Ông cử đại tá Thiên vào chức vụ tỉnh trưởng Cần Thơ thay cho người đã ra đi. Ông ra lệnh không được phá cầu Long An và chấm dứt giao tranh để bảo toàn tính mạng các binh sĩ và dân chúng.

Trước khi quay vào phòng tự vẫn, sĩ quan tùy viên kể lại tướng Nam đã thắp nhang trên bàn thờ Phật, thỉnh chuông rồi đứng lên lan can tòa lầu nhìn xuống thành phố Cần Thơ lúc đó vắng lặng. Lúc đó vào sáng sớm ngày 1 tháng 5-1975.

Vùng 4 chiến thuật gồm toàn thể miền Tây Nam Phần với 3 sư đoàn, sư đoàn 21 (Bạc Liêu), sư đoàn 9 (Sa đéc) và Sư đoàn 7 (Mỹ Tho) cùng với 20 tiểu khu. Cho đến ngày 30 tháng 4-1975 miền Tây vẫn còn gần như nguyên vẹn. Vị Tư Lệnh Quân đoàn vẫn liên lạc hàng ngày với các đơn vị gồm cả Hải Lục Không Quân thuộc Vùng 4. Toàn thể quân số chính quy và địa phương trên 200 ngàn quân đã tan hàng trong trật tự. Một số lớn hiện đã có mặt tại hải ngoại.

Nếu tướng Nguyễn Khoa Nam tiếp tục chiến đấu có thể sẽ nhiều trận đẫm máu kéo dài thêm từ 3 đến 6 tháng. Cộng sản với quân số 20 sư đoàn cùng với kho vũ khí của miền Nam để lại sẽ trở thành một lực lượng quân sự mãnh liệt nhất đông Nam Á.

Toàn thể miền Tây sẽ trở thành cuộc chiến đau thương nhất trước khi chiến tranh Việt Nam kết thúc. Dứt khoát là Hoa Kỳ và thế giới tiếp tục quay mặt đi. Bao nhiêu người kể cả quân và dân hai phía sẽ chết thêm cho cuộc chiến bi thảm này. Với ba tiếng chuông thỉnh Phật. Vị tư lệnh vùng 4 đã theo gương tiền nhân Phan Thanh Giản dọn mình tự vẫn để chết thay cho hàng vạn sinh linh của sông Tiền sông Hậu vào giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.

Trong buổi sáng cuối cùng 1 tháng 5-1975, tướng Nguyễn Khoa Nam đã đứng trên lan can của dinh tư lệnh cùng với hai sĩ quan tùy viên cấp úy. Con đường Phan Thanh Giản trước mắt trong buổi bình minh vắng lặng của thị xã Cần Thơ. Vị tư lệnh vùng 4 trở thành cấp chỉ huy cuối cùng của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đứng khóc. Nước mắt chan hòa làm hai sĩ quan tùy viên trung thành với ông thầy cũng khóc theo. Cái khung cảnh bi tráng tại dinh tư lệnh vắng vẻ vào ngày đầu tháng 5-1975 của ba thầy trò tư lệnh mới xúc động dường nào. Sau đó ông quay vào phòng tự sát bằng súng lục. Hành động vừa can trường vừa nhân đạo của tướng Nguyễn Khoa Nam đã nêu cao gương trách nhiệm uy dũng đồng thời cũng đã cứu cho sinh mạng của dân chúng và binh sĩ tại miền Tây không bị chết đau thương hỗn loạn như đã diễn ra tại Quân đoàn I và II.

Ngày 30 tháng 4-2012 ba mươi bẩy năm sau, trên bàn viết của tôi có một cái gạt tàn thuốc là bằng đồng vốn là đầu đạn đại bác được gò lại. Đây là quà tặng của pháo binh quân đoàn 4 tặng cho vị tư lệnh phó. Khi ông chết, đại úy Lê Quang Nghĩa thu dọn di vật đem về Sài Gòn. Ba mươi năm sau nhờ người đem tặng cho Viện Bảo Tàng tại San Jose.

Đặt tay lên cái gạt tàn thuốc giá lạnh gần 40 năm không còn hơi ấm. Nghe như có tiếng chuông thỉnh Phật năm xưa. Cuộc chiến đã tàn từ lâu rồi mà sao lòng người vẫn còn lạnh giá.

Như đã ghi lại ở phần trên, khi chiến tranh chấm dứt, tại khắp nơi có nhiều anh hùng Việt Nam Cộng Hòa đã tự quyết định đời mình không chịu sa vào tay giặc. Tuy nhiên chúng tôi không thể ghi lại được đầy đủ. Nhân ngày 30 tháng 4-2004-37 năm sau, xin thắp một nén hương lòng gửi về cho tất cả các anh hùng liệt sĩ.

Trên bức hình Paris xuống đường ngày 27 tháng tư 1975, anh chị em sinh viên Việt Nam quấn khăn tang đi dưới biểu ngữ tưởng niệm các chiến binh cộng hòa đã hy sinh. Ý nghĩa đó thực sự dành cho những anh hùng tuẫn quốc 30 tháng tư.

Chúng ta còn sống đến ngày nay, hãy sống sao cho xứng đáng với những đồng đội đã chết vì 30 tháng 4.


Giao Chỉ, San Jose

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tuần qua, UBTDTG/VN và các thân hữu đã gặp thêm được 10 phụ tá của các văn phòng quý TNS: Richard C. Shelby (R-AL), John Kerry (D-MA)
Trong giai đoạn 1954-1975, đảng Lao động Việt Nam (CSVN) đã phát động cuộc "kháng chiến chống Mỹ cứu nước" để làm sức mạnh xâm lăng miền Nam
Nhà văn Vĩnh Hảo ( www.vinhhao.net ) trong bản cập nhật Bản Lên Tiếng của Văn Nghệ Sĩ Tự Do đã cho biết chỉ trong vài ngaỳ, từ 26-10 tới 30-10-2007
Trong khi Giáo Hội PGVN Thống Nhất đã chính thức tan vỡ, với các văn bản ký tên các cấp cao nhất, trong đó quy chụp  nhiều chức sắc giaó phẩm cao cấp
Sau khoảng 2 tháng, từ Trại Lê Lợi, vốn là khu Tiếp vận của Tiểu khu Long Khánh, chúng tôi được di chuyển qua một khu gia binh cũ của Trung đoàn 48
Ngày 17 Tháng 10, 2007 Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 của Tây Tạng được Tổng Thống Bush và quý vị đại diện Quốc Hội HK trao tặng huy chương vàng
Phòng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế vừa phổ biến bản tin hôm 30-10-2007 từ Paris, về tình hình “Ủy hội Hoa kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới
Cộng sản đã có mặt trên đất nước chúng ta gần bảy chục năm nay.  Qua hai cuộc chiến lớn với Pháp và Mỹ, họ đã thâu tóm giang sơn
Mê tín dị đoan được định nghĩa là “sự tin tưởng những chuyện kỳ quặc, khó hiểu.” Người Việt Nam, tương tự như tất cả các dân tộc khác trên thế giới
Hôm nay là gần một tháng xảy ra sự cố sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ, gây bàng hoàng cả nước. Ngày 17/10 tìm được thi thể thứ 54 chôn vùi dưới đống đổ ná


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.