Hôm nay,  

Ngày Trở Về

12/05/201200:00:00(Xem: 14864)
Houston ơi! Sau những ngày xa cách ta lại sắp được trở lại gặp mi.

Mấy ngày nay bài hát “Ngày Trở Về” cứ loáng thoáng trong đầu tôi. Có lẽ vì trong thời gian gần đây tôi đang chuẩn bị cho ngày trở về cùa mình, trở lại thành phố Houston thân thương. Cùng lúc, tôi sẽ có những chuyến đi tới những thành phố khác để làm việc.

Tôi thấy mình hạnh phúc lắm. Tôi có được ngày trở về.

Còn những người Việt xin tị nạn tại Thái Lan thì sao? Họ không có được ngày trở về, họ cũng không dám mơ mộng gì khi nghĩ về điều này.

Có người may mắn vượt thoát khỏi sự truy bức của nhà cầm quyền cộng sản cùng với những người thân nhưng cũng có người vượt thoát một mình hay may mắn hơn với một hai người thân thôi. Có bao người thầm khóc khi nhìn những người đồng cảnh ngộ có cha mẹ, vợ chồng, con cái cùng chia sẻ đắng cay. Có lẽ họ đang ngày đêm thương nhớ người thân của mình nhưng nào dám nghĩ đến một ngày được trở về gặp lại mẹ cha, chồng, vợ và ôm ấp con thơ để thỏa lòng thương nhớ.

Họ không có ngày về nên chỉ biết nhìn về tương lai và mong đợi ngày được đi định cư. Nhưng than ôi! Tương lai lại quá mập mờ. Thời gian đợi chờ, sống lây lất canh cánh trong lòng nỗi lo âu, sợ hãi bị giam cầm bắt bớ nếu bị cảnh sát sở tại tìm gặp. Trong tận cùng khổ ải đó, may mắn cho họ được đùm bọc chở che bởi những tấm lòng nghĩa hiệp của quý vị ân nhân. Quý vị tu sĩ giàu lòng bác ái: quý linh mục, nữ tu, thượng tọa, đại đức và nhiều vị chức sắc tại Houston đã tổ chức những buổi gây quỹ với thành quả vượt xa ngoài lòng mong đợi. Xin nhiều lần cảm tạ quý ân nhân đã âm thầm đóng góp tại nhiều địa điểm khác nhau cũng như quyên góp nhiều lần, nhất là tại Houston, Texas thân yêu của tôi. Tôi còn được nghe là có nhiều vị cao niên đóng góp, đặc biệt tôi còn được nghe là có một vị cao niên không những góp công đứng tại một địa điểm ôm thùng quyên góp thôi mà cuối ngày sau khi kiểm toán, cụ còn match số tiền cụ xin được ngày hôm đó. Tôi ao ước được gặp cụ để tỏ lòng ngưỡng mộ của tôi đến với cụ. Cũng không thể không nhắc đến những ân nhân khác khắp nơi trên thế giới, xin chân thành thay mặt các nạn nhân gởi lời cảm tạ quý vị.

Một lần nữa, xin chân thành thay mặt các nạn nhân cùng khổ ở Thái Lan cảm tạ quý ân nhân, thầy Thích Huyền Việt, Cha Vũ Thành, Cha Phạm Hữu Tâm, Cha Trần Ngọc Hùng, Cha Nguyễn Mạnh Hùng, Cha Nguyễn Ngọc Thụ, cha Lê Thu, Cha Nguyễn Việt, Cha Đinh Minh Hải, Cha Đỗ Văn Chung, Cha Đinh Minh Tiên, Sơ bề trên Vũ Mai Oánh.

Cũng không quên cảm ơn các nhà truyền thông, báo chí. Nếu không có sự đóng góp, hỗ trợ tích cực của quý vị thì làm sao những lời kêu gọi có thể vang xa đến tai của các vị ân nhân. Xin đặc biệt cảm ơn chú Dương Phục, cô Vũ ThanhThủy của đài phát thanh Sài gòn Radio, cô chú cũng đã nhiều lần lặn lội đi đến tận nơi thăm viếng và ủy lạo các nạn nhân. Nói đến việc thăm viếng và uỷ lạo của quý vị tôi cũng muốn nhắc đến những cuộc thăm viếng và ủy lạo thật là quý hóa của Cha Phạm Hữu Tâm và thầy Thích Huyền Việt, đặc biệt là về vấn đề tâm linh.

Xin cảm ơn các vị chức sắc như bác Quởn, cô Oanh, chú Tinh, chú Vân Đình, và nhiều vị khác đã không quản ngại khó khăn bỏ thời giờ và tâm huyết hết lòng gíúp đỡ trong việc quyên góp hầu trợ giúp cho đồng bào tị nạn tại Thái Lan.

Nghĩ người lại nhớ đến mình, tôi chạnh nhớ về quá khứ của chính gia đình tôi. Đó là thời gian vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 khi cả gia đình tôi, lúc đó có 5 người, cũng là những người tị nạn.

Tôi nhớ mãi sáng hôm đó, ba má tôi phấn khởi đi lên văn phòng Cao ủy tị nạn Liên Hiệp Quốc để nhận giấy báo kết quả phỏng vấn. Qua hàng rào kẽm, tôi thấy ba má tôi đi ra, gương mặt hai vị thất thần, tái mét. Tôi lấy làm lạ tự hỏi sao ba má tôi lại mất tinh thần như thế này?

Trong lòng chị em chúng tôi luôn tin tưởng vào việc chúng tôi sẽ được chấp nhận quy chế tị nạn vì qua lời ba má tôi thường kể lại những gian truân và sự áp bức, kỳ thị của chính quyền mới đối với gia đình chúng tôi. Thái độ của bá má tôi làm tôi thấy hụt hẫng. Trông thấy tôi đứng chờ đợi, ba má tôi cho biết là gia đình tôi đã bị từ chối quy chế tị nạn. Đó là lần đầu tiên tôi thấy ba má tôi buồn như vậy vì ba tôi luôn là người lạc quan và vô tư còn má tôi là một người kiên cường và tự tin. Sau một kết quả quá shock như vậy đã làm má tôi bị té ngã, trong lúc đang mang thai em Hồng Bích của tôi, má tôi bị xuất huyết nhưng nhờ Ơn Trên che chở nên em tôi được bình yên. Trong thời gian chuẩn bị để nộp đơn xin tái xét, má tôi phải chạy đôn, chạy đáo tới nhà những người thân quen của má để nhờ viết đơn tái xét.

Ba má tôi nói lúc đi phỏng vấn, tự tin là hoàn cảnh và giấy tờ của gia đình chứng minh tình trạng bị áp bức nên khi trả lời phỏng vấn thì quá ỷ lại và không tường thuật rõ ràng sự áp bức, chỉ nói lướt qua sự việc và chỉ chú trọng quá nhiều vào chứng từ. Sự thiếu hiểu biết cộng thêm sự thiếu chuẩn bị của ba má tôi đã phải trả bằng một giá quá đắt (ngay những ngày trước khi đi phỏng má tôi vẫn miệt mài hằng ngày làm việc thiện nguyện tại Trung tâm phụ nữ của Pulau Bidong.Ba má tôi cùng bao nhiêu người đồng cảnh ngộ phải bùi ngùi tự trách mình quá thiếu chuẩn bị). May mắn là nhờ có sự giúp đỡ và cố vấn, đơn kháng cáo của gia đình tôi được chấp nhận và cả gia đình tôi được công nhận quy chế tị nạn.

Ba má tôi khi ở trại tị nạn có buồn tủi, lo âu hay khó khăn gì thì phần nhiều không hề cho chúng tôi biết. Nên ngoại trừ hôm đó, trong 3 năm rưỡi lưu trú tại đất Mã Lai chị em chúng không phải lo âu thiếu thốn gì vì tất cả những người tị nạn được Cao uỷ tị nạn cung cấp đầy đủ về mặt vật chất. Chúng tôi còn may mắn hơn nữa là có sự trợ giúp tài chánh từ ông bà nội và các cô chú của chúng tôi.

Người tị nạn lúc đó có các Cố vấn giúp đỡ, có nhà thờ, chùa chiền và các trung tâm tư vấn, giáo dục, nhà thương, giải trí, thể thao, lên đồi, xuống biển, chợ búa, hàng quán để mua sắm hay ăn uống v.v. Bản thân chị em chúng tôi không có nhu cầu đòi hỏi gì nhiều nên tự thấy mình quá mãn nguyện, vui vẻ học hành và cùng gia đình chờ ngày đi định cư sau khi đơn tái xét được giải quyết.

Bài học khó quên của gia đình tôi là một kinh nghiệm lớn cho chúng tôi và tôi đang dùng nó để làm hành trang mang theo mình trong sứ mạng hiện nay hòng giúp đỡ cho các thân chủ của tôi.

Riêng bản thân tôi, tôi từng sống trong cảm giác đợi chờ (không biết mình là ai chỉ trong thời điểm 4 tháng thôi) chỉ là chờ đợi kết quả cho văn bằng hành nghề luật lúc đó sao thấy dài lê thê. Đối với một người tốt nghiệp luật khoa mà chưa được hành nghề vì còn phải thi lấy bằng (tôi tự hỏi mình có phải là luật sư không?) Tôi ngày đêm mong chờ kết quả và cũng rất lo sợ bị đánh rớt.

So với tâm trạng người tị nạn tại Thái Lan thì 4 tháng chờ đợi kết quả hành nghề thật không đáng kể: Tôi biết rõ ngày có kết quả, cho dù có bị rớt đi chăng nữa tôi vẫn có thể thi lại và không bị ảnh hưởng nhiều đến tương lai. Nếu có thì chỉ có sự đình trệ và chờ đợi thi lại thôi. Còn những gia đình tị nạn thì sao? Trong khi mòn mỏi chờ đợi kết quả sau các cuộc phỏng vấn, họ tự dằn vặt mình vì không hiểu mình trả lời phỏng vấn ra sao mà lâu quá chưa nghe kết quả. Cái vòng lẩn quẩn cứ tiếp tục bao vây họ, ngày lại ngày, họ cứ phải tiếp tục chịu đựng trên xứ người, một nơi không nhìn nhận Công uớc Tị Nạn với sự thiếu thốn tứ bề, chịu đựng và sợ hãi hàng ngày (không biết cảnh sát có tìm bắt họ tại nơi tạm trú hay bị bắt khi ra đường mua thực phẩm?).

Nếu bị bắt thì họ sẽ bị nhốt ở Trại Giam Di Trú đến bao giờ đây? Ngoài mối lo cho bản thân ở xứ người họ còn canh cánh trong lòng lo cho thân nhân bên Việt Nam, liệu họ có bị liên lụy vì có thân nhân đang đào thoát không? Không biết họ có bị trả về Việt Nam không và nếu bị trả về Việt Nam thì sẽ bị tù đày và khốn khổ làm sao kể xiết? Trăm ngàn câu hỏi kèm theo với trăm ngàn âu lo, chưa kể đến nỗi lo ngại thiết thực về nơi ăn, chốn ở hằng ngày.

Bây giờ đây, sau nhiều ngày tháng xa Houston, tôi nhớ ba má, anh chị, các em và đứa cháu mà ngày tôi bước chân ra đi mới có mấy ngày tuổi thôi, nay cháu đã gần chín tháng rồi, nhớ những người bạn quá lâu tôi không được gặp, những quán ăn tôi thích nhất, những món đồ tôi thường dùng khi còn ở Hoa Kỳ.

Hôm trước tôi có một giấc mơ thật là con nít: tôi và chị của tôi đi chợ, tôi chỉ hết món này đến món kia và nói với chị tôi rằng: “Bên Thái Lan không có món này, em phải mua hai gói mang theo”. Và cứ thế, từ từ cái xe đẩy chất đầy với tất cả những món bên Thái Lan không có, hoặc nếu có, cũng không giống như bên Hoa Kỳ.

Đang viết đến đây thì tôi lại mở bản nhạc “Ngày Trở Về” để nghe. Bài hát này làm tôi bật khóc vì tôi thương cho số phận của đồng bào tôi: trải qua bao dâu bể chiến tranh, ly hương sống tha phương cầu thực, xa thân nhân quyến thuộc, xa mồ mả tổ tiên. Riêng người tị nạn đang ở Thái Lan lại xót xa hơn, không dám nghĩ đến “Ngày Trở Về”.

Khi chuẩn bị sang Thái Lan làm việc, tôi nghĩ có lẽ làm việc xa nhà 1 năm thôi. Tuy nhiên, sau khi sang đây tôi mới hay công việc quá nhiều và vì không có đủ nhân lực nên tôi quyết định sau chuyến trở về này tôi sẽ tiếp tục làm việc tại Thái Lan thêm một thời gian nữa. Tôi sẽ trở lại nơi thật nhiều buồn lo, với hồ sơ chất như núi. Hàng ngày tôi tạ ơn trời đã cho tôi có được cơ hội giúp đỡ người tị nạn, như tôi và gia đình tôi xưa kia đã từng trải qua cảnh ngộ này.

Trong nỗi buồn cũng có niềm vui, đó là hiện có một số gia đình đang chuẩn bị lên đường định cư, họ đã được Cao ủy tị nạn chuẩn thuận quy chế tị nạn và đã được Toà Đại Sứ Hoa Kỳ phỏng vấn và chấp nhận hồ sơ định cư của họ. Họ đã được khám sức khỏe và học lớp Hội Nhập Văn Hóa Hoa Kỳ. Chỉ còn vài tuần nữa, họ sẽ được nhận vé máy bay để sang Hoa Kỳ định cư. Đây là điều tôi mong muốn sẽ xảy đến cho tất cả đồng bào của tôi, mong là “qua cơn bĩ cực đến thời thái lai.”

Kể lại những điều trên, tôi chỉ muốn giải bày cùng quý vị lý do vì sao tôi mang hoài bão dấn thân chia sẻ cùng những con người khốn khổ như chúng tôi ngày xưa -- họ là những con người đang khốn khổ ngày hôm nay.

Hôm trước, có một người tị nạn cho biết khi nghe tin tôi về Hoa Kỳ tháng 5 này thì họ thật hụt hẫng và lo sợ vì lại mất thêm một người luật sư. Tôi vội vàng trấn an cho biết rằng, tôi chỉ về trong một thời gian ngắn để thăm gia đình và gây quỹ thôi, sau đó sẽ trở lại ngay. Và mong sao sau chuyến đi này tôi sẽ trở lại Thái Lan với ít nhất một luật sư khác để cùng nhau sát cánh giúp đỡ các gia đình vẫn còn tị nạn tại Thái Lan.

Tạm biệt nhé Bangkok. Tôi sẽ quay trở lại trong một thời gian thật ngắn.

Hiện có khoảng 800 đồng bào đang lánh nạn ở Thái Lan trước cuộc đàn áp ngày càng leo thang ở Việt Nam. Để đối phó, năm 2010 BPSOS phối hợp với một tổ chức địa phương để thành lập Văn Phòng Trợ Giúp Pháp Lý ở Bangkok. Chúng tôi rất cần sự tiếp tay của mọi người có lòng với đồng bào, của những cựu thuyền nhân đã từng sống qua cuộc đời tỵ nạn, của những tổ chức từ thiện, và của tất cả những ai quan tâm đến thân phận của những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo giờ đây đang phải lánh nạn vì bị đàn áp và truy lùng. Mỗi người một tay, góp gió thành bão.

Mọi đóng góp sẽ được cấp giấy trừ thuế và xin gởi về:
BPSOS/RCS
PO Box 8065
Falls Church, VA 22041 - U.S.A.
[Nguồn: http://www.machsongmedia.com.]
GHI CHÚ:
BPSOS TƯỜNG TRÌNH VỀ BUÔN NGƯỜI: Xin mời tham dự buổi họp báo để LS An Phong tường trình tình hình của hơn 800 người tị nạn Việt Nam ở Thái Lan và Cô Vũ Phương Anh tường trình về nạn buôn lao động, buôn người từ VN. Tại phòng sinh hoạt báo Người Việt. Chủ nhật 3 giờ chiều, June 3, 2012. Contact info: Holly Ngo 562-458-2285.

An Phong

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.