Hôm nay,  

Kim môn Kiều

29/05/201200:00:00(Xem: 13052)
Tưởng không bao giờ trở lại.

Năm 1962, có anh sĩ quan trẻ đi du học một mình. Học về môn chiến tranh sinh hóa tại Fort Mc.Clellan, tiểu bang Alabama. Từ Việt Nam phi cơ cánh quạt vượt Thái bình Dương phải ghé đảo Guam, đảo Wake rồi Hawaii. Trạm dừng chân đầu tiên là San Francisco. Tuy đi một mình với khóa học 3 tháng cô đơn nhưng trên đường bay vào Mỹ có các bạn học lớp đại đội trưởng ở Fort Benning. Chúng tôi cùng cư ngụ tại hotel nằm ngay cửa ngõ lối vào phố Tàu. Thời gian tạm trú chờ di chuyển anh em ta chuyên trị lội bộ. San Francisco ngày đó mở ra một thế giới xa lạ và huyền diệu trong giấc mơ Mỹ quốc. Đọc sử thế giới đã từng nghe nói đến các hội nghị quốc tế tại Cựu Kim Sơn. Vì vậy chương trình thăm viếng đầu tiên là phải đến Kim môn Kiều, Golden Gate Bridge.

Vào đầu thập niên 60, cây cầu vàng khánh thành năm 1937 vừa được 25 cái xuân xanh. Như vậy là mình còn hơn cô nàng mấy tuổi. Bốn anh em đi bộ đến bến xe điện du ngoạn cho hết con đường rồi lấy taxi thăm Kim Môn Kiều. Dưới ánh nắng chiều Golden Gate hiện ra rực rỡ. Từ phía thành phố ngó qua, hai ngọn tháp dường như chuyển động giữa trời xanh mây trắng. Nhìn từ phía dưới, ngọn tháp phía bắc còn cao hơn cả dẫy núi bên kia quận Marin. Kim Môn Kiều nằm dài như hình ảnh của người đẹp đợi chờ ta cả ngàn năm. Anh em hăng hái đi bộ suốt lộ trình qua bờ Bắc rồi quay trở lại. Niềm say mê cảnh đẹp giữa xứ lạ quê người làm ai nấy như đi trong mộng.

Cảnh thanh bình của nước văn minh làm động lòng các sỹ quan từ xứ chiến tranh đến Mỹ du học.

Sau khi đi học ở Albama trở về, tôi lại có dịp ghé lại Kim Môn Kiều chụp hình kỷ niệm.

Rồi chúng tôi chia tay, tưởng chừng đôi ngả cách biệt sẽ không bao giờ trở lại.

Nhưng thật không ngờ, suốt thời gian 21 năm quân vụ, tôi còn may mắn trở lại công tác tại Mỹ. Lúc thì du hành quan sát, lúc thì đi học về quản trị, mỗi lần ghé San Francsico là một lần thăm Golden Gate.

Cô nàng trải qua bao năm tháng vẫn giữ mãi vẻ đẹp huyền ảo. Hai cột trụ vươn cao như 2 cánh buồm có lúc chìm trong màn sương của vịnh Cựu Kim Sơn u tịch.

Dù gặp đi gặp lại đôi lần, nhưng cũng không bao giờ lại nghĩ rằng có dịp chúng tôi sẽ định cư ngay tại Bay Area như ngày nay.

Cho đến bây giờ, mùa lễ chiến sĩ trận vong năm nay, được tin San Francsico sẽ đốt pháo bông. Chưa bao giờ người ta vui mừng đốt pháo vào ngày lễ tưởng niệm như vậy.Nhưng thành phố Vịnh quả thực sẽ đốt pháo mừng vì đúng vào dịp cô Kiều sinh nhật 75 tuổi. Đó là ngày 27 tháng 5 năm 1937.

Lịch sử cây cầu vàng.
kim_mon_kieu_giao_chi_medium
May 24-1987 kỷ niệm 50 năm Golden Gate, 300 ngàn người đứng trên cầu. Giữa sàn cầu trùng xuống 7 feet. Tuy chưa nguy hiểm kỹ thuật nhưng vì sợ mọi người kinh hoàng nên phải giải tỏa. Còn gần một triệu người chờ đợi lên cầu nhưng không có cơ hội. Bên trái, kỷ niệm của tác giả năm 1963 trên tầu của USNavy trong vịnh San Francisco. Hình cũ do cố vấn in lại trên báo.
Vào đầu thế kỷ thứ 20, sự phồn thịnh của nước Mỹ phát triển nhờ chuyển vận. Đất nước mênh mông ráp danh 2 đại dương đã thành cường quốc kinh tế nhờ đường xe lửa và xa lộ. Trong hệ thống giao thông chằng chịt thì các cây cầu là nhu cầu then chốt. Cầu Golden Gate là bài toán khó nhất tại miền Tây.

Kỹ sư Joseph Strauss mà tượng đài của ông hiện đặt ở đầu cầu là người đã phác họa hình dáng cây cầu từ kỹ thuật cho đến mỹ thuật.

Tháng giêng năm 1933 công trường khởi sự và hoàn tất vào năm 1937. Ngày 27 tháng 5-1937 cho người đi bộ và ngày hôm sau bắt đầu cho xe hơi chạy qua.

Đây là cây cầu treo đầy sáng tạo và mỹ thuật của thế giới. Ý tưởng mới lạ và táo bạo của các nhà chuyên môn thực hiện cây cầu không có chân. Chỉ treo lên bằng dây thép được gắn vào 2 ngọn tháp. Những sợi dây cáp bằng thép dùng để treo thân cầu tính ra dài đến 80 ngàn dặm.

Thời kỳ miền tây Hoa Kỳ xây cầu Golden Gate là lúc cả nước Mỹ lâm vào cảnh đại suy thoái. Cả vùng Bay đều đói kém, thất nghiệp. Các đạo luật về xã hội được ban hành và các công trình công cộng được thực hiện để cứu Hoa kỳ thoát khỏi cơn khủng hoảng hết sức lớn lao.

Sau đó nước Mỹ dần dần hồi sinh và khi cô Kiều ra đời đã đóng góp vào sự hưng thịnh của cả miền duyên hải Bắc Caifonia.

Thành quả một cuộc đời.

Nếu ví Kim Môn Kiều là một phụ nữ thì cuộc đời nàng sẽ còn dài cả ngàn năm. Tuy nhiên chỉ riêng trong trong 75 năm qua Golden Gate đã sống trong lòng Cali với những thành tích hết sức tốt đẹp.

Khu quần cư đông đảo của dân chúng vùng Vịnh đã chiếm gần một nửa dân số Cali. Vì vậy sau cây cầu vàng và thêm một cây cầu Bay Bridge xây cất tiếp theo đã giải quyết vấn đề lưu thông cho cả triệu dân. Trước đây dân chúng khổ sở phải chờ đợi qua phà. Ngày nay riêng Golden Gate có 110 ngàn xe qua lại mỗi ngày. Người ta cũng ghi nhận vẻ đẹp quyến rũ của Kim Môn Kiều làm cho 1600 người tìm đến nhẩy cầu tự tử. Trong số đó hơn 30 năm trước có một cô gái Việt Nam ở San Jose đã tìm được cái chết tại đây. Từ trên thành cầu nhẩy xuống biển ở đoạn giữa sẽ có được cái chết chắc chắn vì khoảng cách xa mặt nước là 220 feet và biển vịnh San Francsico có đô lạnh hết sức nguy hiểm.

Trải qua 75 năm số người tự vẫn lên đến 1,600 xem ra quá nhiều. Trong số 10 triệu du khách đến thăm cô Kiều mỗi năm, người ta vẫn tự hỏi ai là người từ phương xa đến để xin nằm lại dưới đáy vịnh Cựu kim Sơn.

Vào buổi xế chiều, gió thổi mạnh, trời mù sương, bạn đi lại một mình. Đi tới rồi đi lui, vẻ mặt mang nỗi buồn u uẩn. Thế nào nhân viên an ninh cũng đến gần hỏi thăm. Đây cũng là chuyện dễ hiểu vì Kim môn Kiều đã nổi danh thế giới là nơi nhiều người muốn đến để tự kết liễu cuộc đời.

Hướng dẫn du lịch.

Sống ở San Jose hơn 30 năm. Năm nào cũng có hơn một lần phải làm anh chàng hướng dẫn du khách. Bạn bè từ các tiểu bang về chơi. Bà con bên vợ từ Canada đến. Ta lại làm 1 chuyến San Francsico. Đi vào buổi sáng cuối tuần rong ruổi trên xa lộ 280 vào mùa xuân, hoa nở 2 bên đường. Bà con ta ở vùng đồng khô cỏ cháy cứ suýt soa khen phong cảnh hữu tình. Từ 280 luôn luôn đi thẳng đường số 1 mà đến Golden Gate . Đậu xe vào bãi đầu cầu. Xe cộ tấp nập chở du khách 4 phương chụp hình quay phim. Rủ nhau đi bộ 1 đoạn rồi ta lại phóng qua cầu sau khi nộp tiền đường. Qua phía bên kia lại chụp những bức hình cả cây cầu lẫn thành phố. Sau khi chụp hình với nàng Kim, chúng tôi trở về phố Tàu. Nhưng trên đường đi lại phải ghé đến con đường dốc có 9 khúc quanh co. Đây cũng là 1 thắng cảnh lạ lùng của San Francsico.

Nếu phái đoàn thăm viếng không có nhiều thì giờ hay còn lưu luyến mua sắm tại khu thương xá nổi danh Union Square thì có thể bỏ qua nhiều nơi danh tiếng. Nhưng bao giờ cũng phải có tấm hình bên Kim Môn Kiều. Vậy cây cầu này đã được xây dựng ra sao.

Kỹ thuật và mỹ thuật.

Kim Môn Kiều nổi danh từ 1937 vì nhu cầu nối liền Marin County và thành phố San Francisco. Vì địa thế không thể làm các chân cầu nên ý kiến cầu treo hết sức đơn giản đã đưa ra. Nhưng đến khi thực hiện thì quả thực là trần ai.

Thoạt tiên phải xây 2 cây trụ thật cao ở 2 bên cách xa 4 ngàn 200 Feet. Chiều cao của trụ cầu là 746 Feet có thể so sánh với cao ốc 70 tầng. Tiếp theo là kéo 2 sợi dây thép khổng lồ chạy 2 bên cạnh trên đỉnh trụ cầu. Hoàn tất được công trình vĩ đại này mất 3 năm dài. Sàn cầu được làm từ 2 trụ cầu. Dùng các sợi dây cáp treo lên 2 sợi dây lớn. Từ phần giữa của sàn cầu xuống mặt nước là 220 Feet tương đương với cao ốc 20 tầng.

Ý tưởng làm cầu treo vào 75 năm trước đơn giản như chuyện trẻ con, nhưng khi hoàn tất đã trở thành một công trình kỹ thuật và mỹ thuật không thể tưởng tượng được vào năm 1937.

Năm 1964 tại Nữu Ước đã có thêm cây cầu treo dài hơn Golden Gate 60 Feet tức là 4,260 xa cách giữa 2 trụ cầu. Được coi là dài nhất nước Mỹ. Tuy nhiên Kim Môn Kiều vẫn còn vô địch về tất cả mọi mặt. Đến năm 1998 Nhật Bản hoàn tất cây cầu treo dài nhất thế giới với 6,532 Feet giữa 2 trụ cầu. Lại thêm một lần nữa Golden Gate vẫn mãi mãi là mối tình đầu bất diệt của nhân loại. Trị giá của cây cầu vàng tính theo tiền bạc của thế kỷ 21 là một tỷ 200 triệu mỹ kim. Nhưng giá trị của kỹ thuật và mỹ thuật thì không thể so sánh được. Đây là cây cầu của Thái bình Dương, của sự kết hợp Đông và Tây phương và là biểu hiệu của văn minh nhân loại qua kiến trúc. Đó chính là tiêu biểu của miền đất Hiệp chủng quốc, đất của cơ hội, đất của dân chủ. Từ phương xa dù mới đến hay trở về San Francisco, qua cầu Golden Gate sẽ được chào đón không phải trả tiền. Nếu đi khỏi San Francisco dù là giã từ vĩnh viễn hay chỉ rời xa chốc lát là phải trả tiền cầu.

Bây giờ thương mại địa ốc tạm thời đi xuống, chỉ có nghề bán cầu là may ra phát đạt. Ai mà mua được cây cầu Golden Gate, sáng sáng đem vợ con ra thu tiền. Mệt nghỉ.

Có anh lính Sài Gòn ngày xưa, gần 30 tuổi, năm 1962 lần đầu tiên gặp cô Kiều San Fran lúc nàng 25 tuổi. Đem lòng yêu thương, nhưng chỉ chụp được những tấm hình. Rồi duyên may trở lại đôi lần cho đến ngày Kim Môn Kiều sinh nhật 50 năm, vào tháng 5-1987. Bây giờ, 25 năm sau thật may mắn còn ngồi đây mà viết cho ngày sinh nhật 75 vào 27 tháng 5-2012 của nàng Kiều mãi mãi trẻ trung như cô gái 25 tuổi vào năm 1962, ta mới gặp nhau. Nhưng anh chàng sỹ quan 30 tuổi đứng trên du thuyền lộng gió chạy quanh vịnh Cựu Kim Sơn dưới chân cầu Golden Gate năm xưa bây giờ ở đâu.

Giao Chỉ, San Jose.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.