Hôm nay,  

Công Dân Hạng Nhất: Công An

28/07/201200:00:00(Xem: 18858)
Một trong những quyền con người được cả nhân loại đề cao là quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật. Đó là thước đo phẩm giá con người trong xã hội, bao quát toàn bộ các quyền bình đẳng khác của con người trong các lĩnh vực như chính trị, văn hóa, kinh tế, dân sự. Quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật cũng có thể coi như cội nguồn của dân chủ mà nhìn vào đó người ta có thể đánh giá một thể chế có tự do dân chủ hay không.

Quyền bình đẳng trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ (1) cũng là điều đầu tiên được ông Hồ Chí Minh nhắc đến trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của nước Việt Nam Dân Chủ Công Hoà, đọc ngày 2/9/45 ở Hà Nội. Thế nhưng, xã hội Việt Nam hiện nay, tình trạng bất bình đẳng trong cách đối xử của nhà cầm quyền đối với công dân đã trở nên trầm trọng đến nỗi người ta có thể phân ra nhiều loại công dân khác nhau: công dân hạng nhất, hạng hai, hạng ba,... và hạng bét, một loại người mất hẳn quyền công dân từ khi sinh ra đời.

Vậy những ai là “công dân hạng bét” và ai là “công dân hạng nhất?”

Dễ lắm. Chỉ cần nhìn vào cách xét xử của các tòa án Việt Nam đối với từng loại người, đặc biệt so sánh các bản án là đã có thể thấy được sự “phân cấp công dân” này.

Ngày 17/7/12 vừa qua, Tòa án Nhân dân tỉnh Bắc Giang trong phiên sơ thẩm đã tuyên xử ba ông Nguyễn Kim Nhàn, Đinh Văn Nhượng và Đỗ Văn Hoa tổng cộng 13 năm 6 tháng tù, trong đó người nặng nhất là ông Nhàn bị 5 năm 6 tháng tù và 5 năm quản chế. Những người này bị khép tội “tuyên truyền chống nhà nước xã hội chủ nghĩa” theo điều 88 của Bộ luật hình sự. Đây là loại công dân chỉ mới dùng lời nói và chỉ nói lên sự thật về tình trạng xã hội hiện nay cũng như những oan khuất của chính họ và các nông dân mất đất là đã bị dập như thế.

Trong vụ án được dư luận trong nước và thế giới quan tâm nhiều nhất, ngày 2/8/2011, Tòa phúc thẩm tại Hà Nội đã giữ nguyên bản án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế đối với ông Cù Huy Hà Vũ cũng với tội danh tuyên truyền chống nhà nước theo điều 88 Bộ luật hình sự. Ông bị đưa ra xét xử chỉ vì viết bài ngăn cản nhà nước đừng làm những dự án quá tai hại cho đất nước, như dự án khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao cho Trung Quốc khai thác. Nghĩa là ông thuộc loại công dân chỉ mới dùng chữ viết và chỉ viết để khuyên can là đã bị dập như thế.

Đầu năm 2010 vụ án "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân" cũng là một vụ án chính trị gây chấn động dư luận từ tháng 6/2009 được đem ra xét xử ngày 20/1/2010. Luật sư Lê Công Định và Trung tá Trần Anh Kim bị tuyên án 5 năm tù, ông Lê Thăng Long 3 năm 6 tháng và ông Nguyễn Tiến Trung 7 năm. Riêng ông Trần Huỳnh Duy Thức bị kết án 16 năm tù giam. Trước khi bị bắt, ông Trần Huỳnh Duy Thức là một blogger nổi tiếng với các bút danh: Trần Đông Chấn, Change We Need... Những bài viết trên blog của ông đều thu hút rất đông người đọc, trong đó có nhiều bài phân tích về các vấn đề kinh tế, chính trị. Cả 5 ông này thuộc loại công dân chỉ mới dùng ý nghĩ và chỉ mới nghĩ đến một tương lai khác tươi sáng hơn cho dân tộc là đã bị dập như thế.

Các bản án dành cho người dân là như thế, còn các bản án dành cho công an thì sao?

Tại tỉnh Bắc Giang ngày 23/7/2010 thanh niên Nguyễn Văn Khương bị đưa về đồn công an huyện Tiên Yên, lý do không đội mũ bảo hiểm. Sau đó theo tin lọt ra ngoài, anh Khương bị cả đồn công an đang say thay phiên nhau đánh đến chết tại đồn. Vụ án gây phẫn nộ dư luận và hàng ngàn người dân đã tập trung biểu tình trước trụ sở công an để phản đối. Ngày 1/3/10 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang lôi ra MỘT con dê tế thần là thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp để phạt 7 năm tù. Đó là cái giá của một mạng người và thế là huề cả làng. Cả đồn công an lại tiếp tục “thi hành công vụ”.

Cũng tại tỉnh Bắc Giang, trong một vụ cưỡng chế đất ba tuần trước đó ông Nguyễn Văn Hùng 50 tuổi, ngụ tại xóm 2 thôn Quyết Tiến, xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng, bị công an trong lực lượng cưỡng chế đánh trọng thương. Ông Hùng chết ngày 26/1/12 trong hoàn cảnh nghèo khó không tiền chạy chữa ở bệnh viện. Mọi sự chìm vào quên lãng vì cũng chẳng có ai trách nhiệm về cái chết thương tâm của một nông dân mất đất và thế là huề cả làng. Lực lượng công an lại kéo đi “duy trì trật tự” cho những vụ cưỡng chế nhà đất khác.

Vụ án tàn bạo nhất do công an gây ra ngay giữa thủ đô Hà Nội xảy ra ngày 28/2/2011 khi một nhóm công an, trong đó có trung tá Nguyễn Văn Ninh của công an phường Thịnh Liệt, Quận Hoàng Mai, bao vây dùng dùi cui đánh gãy cổ ông Trịnh Xuân Tùng với lời tố cáo sau đó rằng ông Tùng vi phạm luật giao thông. Khi có dấu hiệu vụ án này sắp bị nhấn chìm xuồng như bao vụ việc khác, gia đình nạn nhân mà đại diện là người con gái tên Trịnh Kim Tiến đã liên tục lên tiếng về cái chết oan khuất của cha mình. Sau gần một năm trời, tòa sơ thẩm ngày 13/1/12, không phạt ai khác ngoài Nguyễn Văn Ninh và bản án là 4 năm tù. Đó là tất cả trị giá sinh mạng của nạn nhân Trịnh Xuân Tùng. [Con số này lại càng đáng kinh ngạc khi so với bản án dành cho người dân xuất hiện trên báo Người Lao Động ngày 24/7, “Ném đá vào mặt công an viên, lãnh 18 năm tù”(2)]

Trước làn sóng phẫn nộ của công luận và gia đình nạn nhân, sau hai lần đình hoãn, ngày 17/7/12 tòa phúc thẩm tại Hà Nội không những chỉ tuyên y án 4 năm tù mà còn xác nhận việc công an đánh dân là đúng và bình thường. Tại phiên tòa này, công an Nguyễn Văn Ninh tuyên bố không chấp nhận bản án sơ thẩm và vẫn cho rằng “bản thân mình làm đúng, không có gì sai trái cả”. Công an Ninh còn nói khi có hành vi đánh vào gáy nạn nhân Trịnh Xuân Tùng là lúc đương sự “đang rất bình tĩnh để xử lý tình huống”. Sau đó, chánh án phiên tòa kết luận trung tá công an Nguyễn Văn Ninh “làm đúng”; xác nhận đánh dân “một cách bình tĩnh” như thế lại càng đúng; và bản án 4 năm chỉ để phạt tội “lỡ tay” đánh gẫy cổ nạn nhân và không cho nạn nhân đi nhà thương. Thế là huề cả làng.

Điều đáng nói là nếu đây không phải là gia đình kiên trì đeo đuổi công lý của mẹ con cô Trịnh Kim Tiến, thì giờ này trung tá công an Nguyễn Văn Ninh vẫn đang chỉ huy đám công an dưới quyền tiếp tục “làm đúng” đối với người dân trên đường phố Hà Nội. Khó ai biết còn bao nhiêu nạn nhân Trịnh Xuân Tùng khác ngay giữa lòng Hà Nội mà gia đình họ không dám lên tiếng.

Hơn thế nữa, các vụ chết dưới tay công an không chỉ giới hạn ở Hà Nội mà hầu như tỉnh thành nào cũng có và năm nào cũng có. Ngay cả trên báo lề phải cũng nhan nhản tin tức loại này:

Anh Nguyễn Công Nhựt, sinh năm 1981, chết tại trụ sở công an huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, ngày 25/04/2011. Lý do: “chết do thắt cổ bằng dây sạc pin điện thoại”. Sau đổi lại thành “thắt cổ bằng dây cáp điện thoại bàn”.

Anh Nguyễn Quốc Bảo, sinh năm 1978, bị công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội tạm giữ. Ngày 22/01/2010 gia đình được báo tin “Chết do tự thương”, nghĩa là anh Bảo tự gây thương tích mà chết!

Anh Vũ Văn Hiền (40 tuổi) chết trong đồn công an huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên ngày 29/6/2010 do "tự lao đầu vào tường". Người giám sát việc mổ tử thi cho hay, nạn nhân bị đa chấn thương rất nặng: đỉnh đầu có hai vết tụ máu, vỡ xương hàm trái, thái dương trái bị rạn xương sọ, phổi tụ máu, “gãy 4 chiếc xương sườn, gẫy cẳng xương tay trái”.

....Và chỉ cần đánh vào Google với cụm từ “công an đánh chết người”, người ta sẽ được hơn 50 triệu kết quả!

Hầu như tất cả các vụ chết người trong đồn công an đều có chung một lý do duy nhất, đó là tù nhân tự tử. Nhưng kết quả giảo nghiệm tử thi cho thấy những nghịch lý trắng trợn. Như biên bản điều tra của công an ghi “nhảy lầu chết” nhưng nạn nhân lại bể đầu và gãy xương sườn. Hai bộ phận này không thể chạm đất cùng lúc; biên bản ghi “thắt cổ tự tử bằng cách cột giây vào song sắt cửa sổ” nhưng khung cửa sổ không cao bằng chiều cao của nạn nhân; biên bản ghi “tự tử bằng dây buộc giày” nhưng nạn nhân lại bị bể lá lách và gãy chân; biên bản còn ghi “chết do thắt cổ trong tư thế ngồi”; v.v... Nhưng dù là lý do gì đi nữa, các vụ kiện tụng công an chỉ đến cửa tòa, chứ chưa vào được đến trong tòa, là hết, huề cả làng để công an tiếp tục “điều tra các vụ tự tử khác”.

Rõ ràng tại Việt Nam, tầng lớp quan chức cao cấp của đảng và nhà nước là thành phần “ngoại hạng”. Họ đứng trên toàn bộ hệ thống và xử dụng bất kỳ tài sản nào của đất nước vào bất kỳ mục tiêu và ở bất kỳ thời điểm nào họ muốn, y như các vua chúa thời xưa. [Cũng có người tranh luận rằng số dân “nước lạ” đang sống tại các khu riêng biệt trên đất Việt cũng thuộc loại “ngoại hạng” này vì công an cũng rất sợ, không dám đụng đến họ.]

Nhưng ngay bên dưới thành phần ngoại hạng đó, khó ai còn có thể tranh cãi về vị trí “công dân hạng nhất” của công an ngày nay.

Bình thường trên thế giới, cảnh sát là những người chỉ có bổn phận thi hành pháp luật đang có. Nhưng tại Việt Nam, công an có luôn vai trò đẻ ra luật miệng ở bất kỳ lúc nào, từ bất kỳ cấp nào và có luôn trong tay mọi loại phương tiện, kể cả tòa án, để buộc các thành phần bên dưới phải vâng theo các lệnh miệng đó. Nói cách khác, công an được giao cho toàn quyền sinh sát, trấn lột, đánh đập, mắng nhiếc mọi loại dân chúng dưới họ, miễn là bảo vệ được và đầy đủ cho tầng lớp vua quan bên trên...

Còn công dân hạng nhì là ai? Đó là thành phần tay chân được công an thuê mướn dưới nhiều hình thức: từ thanh niên tình nguyện, “nhân dân tự phát”, đến những đầu gấu chính hiệu, những tay du thủ du thực, những tội phạm hợp tác với công an. Tuy ở mức thấp hơn, nhưng thành phần côn đồ này cũng được cho quyền đánh đập, mắng nhiếc và trả thù riêng đối với mọi loại dân chúng dưới họ, miễn là làm đúng và đủ theo các lệnh miệng của công an. Mọi khiếu nại về các hành vi côn đồ của thành phần này chỉ đến đồn công an là chấm dứt vì luôn phải chờ “công an mở cuộc điều tra”. Dưới sự bảo vệ đó, thành phần “công dân hạng nhì” đang xông vào nhiều trận chiến, từ vung gậy với dân oan, lên gối các ký giả, ném đồ dơ bẩn vào các nhà dân theo đơn đặt hàng, chạy theo đập kiếng xe các nhà dân chủ, dàn xếp các vụ xô xát để công an xông vào bắt một phía về tội “phá rối trật tự”, v.v... cho đến dàn hàng cùng công an để chận biểu tình. Thật là vô số công dụng.

Công dân hạng ba là thành phần đang hưởng lương bổng từ chế độ và được sai bảo đi làm việc trái với lương tâm bình thường của con người. Đó là những đại diện tổ dân phố, dân phòng, các đoàn thể thuộc Mặt Trận Tổ Quốc, những thành phần mang nhãn cựu chiến binh, cán bộ về hưu, v.v... Họ được sử dụng đi thuyết phục những người yêu nước đừng đi biểu tình chống Trung Quốc với điệp khúc “hãy để đảng và nhà nước lo”. Họ cũng lục tục theo lệnh kéo vào những cuộc đấu tố tại khu phố đối với những nhà dân chủ. Họ cũng là những “nhân dân” được điều động vào các buổi xử án chính trị “công khai” để ngồi cho đầy. Thân nhân và bạn bè của người bị xét xử không được vào vì lý do rất vô tư là “hết chỗ”. Một thí dụ điển hình gần đây là vụ các “thương binh hạng nặng” xông vào gây sự tại Viện Hán Nôm và không phê bình gì công việc của Viện, dù là Hán hay Nôm, mà chỉ nhất định đòi Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện phải đóng trang blog riêng của ông, không dính dáng gì đến Viện Hán Nôm. Loại công dân hạng ba này được cho quyền phỉ nhổ các nạn nhân lãnh tiền, miễn là theo đúng bài bản và trình tự do công an sắp xếp.

Và có lẽ còn nhiều hạng công dân sống dựa vào chế độ khác nữa.

Nhưng khá rõ ở tầng chót là đại khối nhân dân thứ thiệt còn lại. Đây là những công dân hạng bét, hay những người đã mất quyền công dân từ lúc chào đời dưới bóng chế độ. Đó cũng là những nạn nhân dự khuyết trong các cuộc đàn áp kết hợp của ba loại công dân cao nhất. Dù lúc nào cũng mang nhãn những người chủ của đất nước, các công dân hạng bét này có thể bị moi tiền, bị nạt nộ, bị bạt tai ngay giữa đường phố, bị lôi về đồn, và ngay cả bị bảo “tự tử”.

Lịch sử Việt Nam từng trải qua một giai đoạn tương tự, đó là dịch “kiêu binh” dưới thời Lê mạt. Thời ấy, vua Lê chỉ còn là hư vị, quyền bính rơi vào tay các Chúa Trịnh. Thoạt đầu, phủ Chúa chỉ dùng lính tuyển mộ từ vùng Thanh Hóa, Nghệ An làm lính riêng của mình và gọi đó là “ưu binh”. Sau khi thấy công trạng của mình đối với các Chúa Trịnh quá lớn, giới “ưu binh” dần dần trở thành “kiêu binh”, một loại công dân hạng nhất của Phủ Chúa chốn kinh kỳ. Kiêu binh bắt đầu ra “lệnh miệng” bất kể cả các luật lệ của Vua và Chúa, và đánh giết những ai không tuân các lệnh miệng đó. Có lúc họ đánh giết cả các quan lại triều đình và gia đình họ. Và vào giai đoạn chót, kiêu binh làm luôn việc chọn và đưa lên các Chúa mới.

Không chỉ lịch sử Việt Nam mà lịch sử cuả thế giới cũng đã chứng minh nhiều lần: Mọi đất nước sống dưới họa “kiêu binh” đều lụn bại trong yếu kém, và dễ trở thành mồi ngon cho ngoại bang xâm lấn.


(1) "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". (Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 của Hoa Kỳ)

(2) “Ném đá vào mặt công an viên, lãnh 18 năm tù” http://nld.com.vn/2012072404223164p0c1019/nem-da-vao-mat-cong-an-vien-lanh-18-nam-tu.htm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.
Từng là một trung tâm thương mại sầm uất và biểu tượng cho niềm hy vọng đang dâng cao về tương lai dân chủ trong khu vực, Hồng Kông hiện đang đối mặt với các biện pháp kiểm soát ngày càng siết chặt của chính quyền Bắc Kinh. Từ năm 2019 cho đến nay, khoảng hơn 200.000 người đã ra đi để cố thoát khỏi bầu không khí chính trị ngày càng ngột ngạt. Với việc áp dụng Luật An ninh Quốc gia, quyền tự trị của Hồng Kông từng được cam kết trong mô hình “một quốc gia, hai chế độ” đã bị gần như hoàn toàn xoá bỏ. Xu hướng toàn trị của chính quyền Trung Quốc không những ảnh hưởng trực tiếp đến số phận nghiệt ngã của Hồng Kông mà còn gián tiếp đến trào lưu dân chủ hoá của Việt Nam.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.