Hôm nay,  

Ai Lo Sợ?!

03/08/201200:00:00(Xem: 19232)
Năm 34 (SCN), Tô Định được vua Hán cử qua Giao Chỉ, thay Thái thú Tích Duyên. Tô Định cai trị nhân dân hà khắc và bóc lột. Nên thời ấy nhân nhân rất lo sợ chính quyền. Tô Định thấy vậy càng đàn áp, càng giết hại nhân dân trắng trợn hơn.

Năm Kỷ hợi (39-SCN), Bát Nạn là người tài sắc, nên hào mục họ Trần tìm người mai mối, nhưng bà lại thành hôn với Phạm Danh Hương là người nho nhã, ghét ác tế bần. Hào mục họ Trần hầm rập với Thái thú Tô Định, đem quân đến giết gia đình Bát Nạn. Bà vung đao phá được trùng vây, nhưng chồng của bà bị chúng bắt giết. Cũng năm này, ông Hùng Sát là vị thủ lãnh châu Đại Man, vì bất đồng chính kiến, thái thú Tô Định đem quân giết chết; Xuân Nương là con gái của ông trốn thoát.

Và những trường hợp khác, bà Lê Chân quê huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn (nay Quảng Ninh). Bà nổi tiếng xinh đẹp, giỏi võ nghệ; Thái thú Tô Định nghe danh, muốn lấy làm thiếp. Bị bà từ chối, nên Tô Định hãm hại cha bà. Thân phụ ông Cao Doãn làm huyện lệnh, tính tình khẳng khái, trung hậu, thương dân, nên thái thú nhà Hán không ưa, tìm cách giết chết...! Nhân dân càng nhẫn nhục, giặc càng kiêu căng và giết hại dân chúng càng dã man.

Thấy vậy, ông Đặng Thi Sách (phu quân của bà Trưng Trắc), là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên, viết thư cảnh cáo Tô Định: “Mảnh đất phương Nam hàng vạn bá tánh, dưới sự cai trị của triều đình, nhà ngươi đi tuyên hóa phải lấy dân làm trọng. Chính sách của ngươi hành tội kẻ có ý tốt vì nói thẳng, nghe theo ý kiến kẻ luồn cúi, để bọn tì thiếp ngang ngược, bọn nịnh nọt lộng quyền. Ngươi nói thương dân luôn miệng, nhưng đày đọa dân cơ cực, rỉa rói của dân làm giàu, bòn rút sức dân làm thích. Cậy mình mạnh như gươm Thái a sắc bén, không nghĩ đến lúc nguy ngập như sương mai sẽ tan khi có nắng. Nếu không biết dung khoan, hung hiểm sẽ đến”. Tô Định không nghe lời nói thẳng, sai người bất ngờ bắt Thi Sách giết chết vào năm 39 (SCN).

Tức nước vỡ bờ, bà Bát Nạn, bà Xuân Nương, bà Lê Chân, ông Cao Doãn... và nhân dân khắp nơi đồng loạt khởi nghĩa, sau đấy cùng qui tụ dưới cờ nghĩa dũng của Bà Trưng cùng báo thù nhà, nợ nước; tạo được những chiến thắng lẫy lừng. Sử Hậu Hán Thư của Tàu, Phạm Việp viết: “Ở quận Giao Chỉ có người đàn bà tên Trưng Trắc, cùng em gái là Trưng Nhị, khởi binh đánh lấy quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, dân chúng đều hưởng ứng, chiếm trên 60 thành vùng Lũng Ngoại. (Nguyên văn: Hựu Giao Chỉ tử nữ Trưng Trắc, cập nữ muội Trưng Nhị, phản công đầu kỳ quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giai ứng chi, khẩu lược Lũng Ngoại lục thập dư thành).

Khi nhân dân đồng lòng chống lại quân (chính quyền) tàn bạo, thì sự lo sợ đảo ngược lại, là chính quyền lo sợ dân, chứ dân không còn lo sợ chính quyền nữa. Tô Định vì lo sợ, chạy trốn về Tàu vào năm Canh tý (năm 40-SCN).

Luận cổ suy kim, ngày nay chính quyền tại Việt Nam, có lẽ không cai trị giống như Tô Định, vì chính quyền Việt Cộng (VC: Việt Nam Cộng sản) thì khôn khéo hơn, biết “hèn với giặc, ác với dân” mà người Việt ai cũng biết?!. Sau đây xin dẫn chứng một vài việc đau lòng do VC đã gây ra:

Trung tá công an Việt cộng tại Hà Nội là Nguyễn Văn Ninh đánh chết ông Trịnh Xuân Tùng, chỉ vì không đội mũ bảo hiểm. Ông Trần Văn Dữ bị thượng sĩ công an tên là Nhãn ở thị trấn Ngã Năm, Sóc Trăng đánh chết, chỉ vì uống rượu say. Thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp là công an huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, đã hại chết anh Nguyễn Văn Khương, chỉ vì không đội mũ bảo hiểm và mới đây, ngày 30-7-2012, bà Đặng Thị Kim Liêng (thân mẫu nhà văn bất đồng chính kiến Tạ Phong Tần) đã tự thiêu (có thể bà bị công an giết chết, rồi nguỵ tạo là tự thiêu, để khỏi bị kiện tụng) phía sau khu hành chính thành phố Bạc Liêu để phản đối chính quyền VC bức bách phi lý đối với gia đình của bà...

Song song việc giết hại lương dân, chính quyền VC còn đàn áp dân oan và những nhà đấu tranh dân chủ hay tạo ra những kỳ công thật lớn lao cho Đại Hán: Cho Tàu cộng khai thác Bô xít Tây nguyên là tạo điều kiện cho chúng, chiếm vị trí chiến lược quân sự của VN. Hiến dâng ải Nam Quan, thác Bản Giốc là cắt da thịt của non nước ta, cho quân xâm lược. Và Phố Tàu đã mọc lên nhiều nơi ở Việt Nam: ở thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh...

Về biển Đông với Công Hàm cống nạp biển đảo, do Thủ tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng ký năm 1958, với sự đồng loã của ông Hồ Chí Minh! Là sự sai lầm “giao trứng cho ác”, nên Tàu cộng đã dựa vào đấy lấn chiếm biển đảo của chúng ta. Nhưng cả VC Phạm Văn Đồng và Tàu cộng Chu Ân Lai thời ấy và Tàu cộng ngày nay đều lầm, lầm rất lớn! Vì vào thời gian ấy (năm 1958), vùng biển đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về VNCH. Nên Tàu cộng dựa vào Công hàm của Phạm Văn Đồng, thì thiếu yếu tố pháp lý.

Riêng người viết thấy rất lo ngại cho chính quyền VC, vì sao?. Vì lò xo càng đè nén, thì sức bật càng mạnh, nên đồng bào VN càng bị đàn áp, càng quật khởi đấu tranh quyết liệt. Do đâu? Do VC đã tạo ra quá nhiều lỗi lầm với nhân dân và đất nước VN. VC luôn luôn đàn áp các cuộc biểu tình yêu nước của đồng bào chống Tàu xâm lược. Vì sao VC làm như vậy?! Vì Tàu cộng là quan thầy che chở cho VC và lỡ ra cuộc biểu tình lan rộng hơn, rầm rộ hơn thì chính quyền VC lấy gì để chống đỡ?! Kể từ hôm nay, chính quyền VC nơm nớp lo sợ dân, chứ dân không còn lo sợ chính quyền VC nữa. Vì sao nói như vậy? Vì công an VC là đại diện chính quyền, mà “ném đá giấu tay” như việc công an đã đồng loã với côn đồ bạo hành với các tôn giáo hoặc các nhà đấu tranh dân chủ.

Tự do và độc lập thật sự sẽ đến với dân tộc VN, khi đấy quí ngài lãnh đạo chính quyền VC sẽ đi đâu?! Trốn chạy theo Tàu như Tô Định ư?! Không, không, ngay bây giờ quí ngài đừng “buôn dân bán nước” nữa, vứt bỏ “16 chữ oan và 4 chết”, hãy trở về với dân tộc; đồng bào mình luôn khoan dung, không có máu lạnh và không nỡ tương tàn như quí ngài đã giam cầm dài đằng đẵng, những người mà quí ngài gán ghép là “nguỵ quân, nguỵ quyền”?! Xin quí ngài suy nghĩ, tên tuổi của quí ngài muốn lưu vào sử sách muôn đời, là kẻ bán nước hay kẻ giữ nước?!

Tàu cộng thấy quí ngài càng yếu hèn, chúng càng hống hách, càng xâm lấn biển đảo của ta, như vô cớ bắt ngư dân VN đánh cá trên lãnh hải của VN. Tàu hải giám của Trung cộng cắt cáp tàu Bình Minh 02 của VN, đang hoạt động sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. Gần đây, ngày 21-6-2012, Quốc vụ viện Trung cộng lại quyết định thành lập cái gọi là “Thành phố Tam Sa”, với phạm vi quản lý bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 23-6-2012, Tổng công ty Dầu khí Hải Dương của Tàu cộng, ngang nhiên thông báo mời các hãng thầu quốc tế, để thầu 9 lô dầu khí nằm sâu trong thềm lục địa của Việt Nam. Ngày 12-7-2012, Tàu cộng đưa một đội tàu 30 chiếc, gồm một tàu hậu cần 3000 tấn và 29 tàu đánh cá, tiến vào khu vực đảo đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Hành động ngang ngược của Tàu cộng, có thể làm cho chính quyền VC lo sợ hay khuất phục; nhưng nhân dân VN bất khuất, chống đối quyết liệt hơn. Chúng (Tàu cộng) thiển cận, chỉ nhìn lợi lộc trước mắt, nên chúng đã lộ nguyên hình bản chất bành trướng ngạo ngược, nên chúng sẽ bị thất bại to lớn. Trong nước của chúng đang lủng củng: Tây Tạng (Tibet) đang tranh đấu, Pháp Luân Công và các nhà dân chủ đang chống đối chính quyền Tàu cộng khắp nơi, gần đây ngày 02-7-2012, tại Quốc hội nước Tàu, Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải thốt rằng: “Nếu không cải cách chính trị kịp thời, thì những thành tựu đạt được về kinh tế có thể bị biến mất”... Bên ngoài, chúng đã bị các nước trên thế giới (Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản...) bao vây; do đấy chúng đang gặp nhiều khó khăn.

Do đó, cho phép chúng ta khẳng định rằng: “Tàu cộng không bao giờ dám gây đại chiến trên biển Đông hay trên đất nước VN, nhưng ta phải đề phòng chúng gặm nhấm cương thổ của ta. Và Bộ mặt thật của chúng, bề ngoài thì hung hãn, hống hách; nhưng trong tâm của chúng thì đang bối rối và hồi hộp lo sợ”.

Nguyễn Lộc Yên (August 2-2012)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.