Hôm nay,  

Tình Người Muôn Vàn

07/08/201200:00:00(Xem: 13476)
Thời gian gần đây, tôi được đọc một số bài của nhà văn Tràm Cà Mau và lấy làm thích thú được biết rằng: Tác giả dù bị đau bệnh nhiều mà vẫn cung cấp cho độc giả những bài viết đày tính cách lạc quan khích lệ - có tác dụng nâng cao trí óc và tâm hồn chúng ta (uplifting). Những bài viết như thế đó rõ ràng biểu lộ một sự suy nghĩ tích cực - mà người Mỹ gọi là "Positive Thinking" - như đã được trình bày trong một cuốn sách nổi tiếng của tác giả Norman Vincent Peale phổ biến từ thập niên 1950 (The Power of Positive Thinking).

Trong bài viết mới đây nhất phổ biến vào đầu tháng Bảy năm 2012, nhan đề là "Ơn Đời Chứa Chan ", ở đọan kết luận - tác giả Tràm Cà Mau đã trưng dẫn lời biện bạch của nhân vật lớn tuổi là ông Tư đại khái như sau: Ông đang được hưởng nhiều phước hạnh do Trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân lọai xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè... Và ông Tư thấy tội nghiệp cho những người "nắng không ưa, mưa không chịu", luôn luôn bi quan bất mãn và tự làm khổ cho chính bản thân mình...

Chính vì tâm đắc với nội dung của bài "Ơn Đời Chứa Chan" nói trên của tác giả Tràm Cà Mau, mà tôi xin ghi lại những sự việc mình đã đích thân chứng kiến có liên hệ đến chuyện ân nghĩa trên đời qua bài viết này với nhan đề: "Tình Người Muôn Vàn".

I - Trước hết là câu chuyện xung quanh Nạn Đói năm Ất Dậu 1945 tại làng quê tôi.

Đầu năm 1945, tại vùng đồng bằng sông Hồng ở miền Bắc quê hương tôi đã xảy ra nạn đói khủng khiếp gây ra cái chết thảm thương cho đến mấy triệu nạn nhân. Cụ thể trong làng tôi thuộc xã Cát Xuyên, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thì có đến 30% dân làng bị thiệt mạng - trong đó có rất nhiều bà con và bạn hữu gần gũi của tôi, điển hình là chú Đòan Đức Thiêm là người em út của bố tôi. Vì đói, nên chú Thiêm phải bỏ nhà ra đi biệt tăm mất dạng và đã bỏ xác nơi đâu - mà không một ai trong dòng họ biết đích xác được là chú mất ở đâu, vào ngày giờ nào nữa.

Ngay trong nhà tôi, thì nhiều khi bố mẹ tôi cũng phải cho nấu gạo độn thêm với khoai sắn hay với cám - để dành ra chút ít gạo nhằm cứu trợ cho bà con trong làng. Mẹ tôi bảo: Mình bớt ăn nhịn tiêu đi, để mà “nhường cơm sẻ áo” cho người đang thiếu thốn, thì điều đó mới đích thực có ý nghĩa cao quý.

Đặc biệt là ông bố tôi đã ra tay tổ chức chôn cất cho những người chết đói bỏ xác "vô thừa nhận" tại khu chợ Cát trong làng. Ông cụ phải cho một người trai trẻ ăn no để anh còn có sức phụ giúp ông khiêng xác chết đem ra chôn ngòai nghĩa địa - nơi huyệt mộ cả hai người vừa mới hì hục đào lên.

Việc ông cụ tự nguyện đứng ra "chôn xác kẻ chết" như thế đã được bà con trong làng đánh giá cao, họ gọi đó là thể hiện cái tình "nghĩa tử là nghĩa tận". Và sau đó Tòa Giám mục Công giáo ở Bùi chu đã cấp cho ông cụ một tấm bằng khen ngợi công việc bác ái này của cụ.

Chuyện bố mẹ tôi nêu tấm gương từ thiện bác ái như thế giữa lúc bà con bị khốn khổ vì nạn đói năm Ất Dậu 1945 đen tối thảm hại đó - quả thật đã ảnh hưởng sâu sắc đến anh chị em chúng tôi trong gia đình. Và điều đó sau này cũng thúc đảy tôi nhập cuộc cùng với các bạn đồng trang lứa ở vào tuổi trưởng thành - để dấn thân hết mình với công tác xã hội tại miền Nam Việt nam - nhằm cứu trợ những nạn nhân chiến cuộc giữa thời kỳ chiến tranh tàn khốc vào hồi thập niên 1960 - 70.

Rồi bây giờ đến lượt thế hệ thứ ba là các cháu nội ngọai của bố mẹ tôi, thì dù tất cả đều sinh sống trên đất Mỹ - các cháu cũng tham gia rất hăng say với công việc từ thiện nhân đạo tại Việt nam - cụ thể là thông qua các tổ chức Hope Today và SAP VN (Social Assistance Program).

II - Kỷ niệm về một số bạn hữu đã khuất bóng.

Khi từ miền Bắc di cư vào miền Nam năm 1954, thì tôi đã đến tuổi 20 và theo học tại trường Luật ở Saigon. Vào năm 1956, tôi cư ngụ tại cư xá sinh viên có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng trên đường Nguyễn Thông gần với bệnh viện Saint Paul. Tại cư xá do mấy linh mục thuộc dòng Đa minh tổ chức này, tôi được gặp rất nhiều bạn có tinh thần hăng say với công tác xã hội và chúng tôi rủ nhau tình nguyện tham gia những việc làm cụ thể có ích cho đồng bào, điển hình như đến thăm viếng những trẻ em mồ côi ở các cô nhi viện, cứu trợ nạn nhân bão lụt, hỏa họan v.v...

Sau đó, thì các bạn lại lôi cuốn tôi tham gia sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí với những cuộc cắm trại kèm theo công tác phục vụ đồng bào ở địa phương - mà tiếng Mỹ gọi là "Work Camp". Rồi kể từ năm 1965, một số anh chị em chúng tôi đã hợp nhau thành lập một Chương trình Phát triển Cộng đồng tại địa phương các Quận 6, 7 và 8 Saigon. Rồi cũng qua những công tác xã hội như thế, tôi quen biết thêm được với nhiều người bạn người Việt cũng như người ngọai quốc - mà cùng có sự đồng cảm với mình trước nỗi khổ đau quá lớn lao của vô số những nạn nhân chiến cuộc.

Những bạn hữu này xuất thân từ nhiều quốc gia khác nhau với niềm tin tôn giáo khác nhau, và cũng khác nhau cả về mặt chính kiến nữa. Nhưng mà tất cả chúng tôi đều có một mẫu số chung, đó là cùng nhau ra sức phục vụ đồng bào Việt nam mình đang lâm vào hòan cảnh khó khăn bế tắc ngặt nghèo.

Dưới đây, tôi xin đơn cử trường hợp của một số bạn hữu thân thương mà tôi có duyên quen biết qua một số công việc cùng theo đuổi chung với nhau. Các bạn này đều đã qua đời từ ít lâu nay.

1 – Anh Nguyễn Đức Nhuần, sinh viên Dược khoa.

Anh Nhuần quen biết với tôi từ hồi còn học ở ngòai Bắc và sau này lại ở chung với nhau tại cư xá Phục Hưng Saigon từ năm 1956. Anh tham gia sinh họat với Nhóm Thanh Lao Công (JOC = Jeunesse Ouvrìere Catholique) từ hồi còn ở Hanoi cùng với các anh Nguyễn Đức Phong, Nguyễn Quang Hồ…Trong thời gian ở Phục Hưng, anh Nhuần có nhờ tôi dịch một vài tài liệu bằng tiếng Pháp để đăng trong nội san của Nhóm. Nhưng chẳng bao lâu sau, anh bị đau bệnh phổi và qua đời vào đầu năm 1957 tại nhà thương Saint Paul trước sự thương tiếc của số đông sinh viên chúng tôi trong cư xá.

Qua anh Nhuần, tôi có dịp tìm hiểu thêm về sinh họat của Phong trào Thanh Lao Công trên thế giới, đặc biết là các bài viết của vị Sáng lập của JOC, đó là Linh mục Joseph Cardijn người Bỉ. Ông khuyên các đòan viên JOC là phải thực hiện cả 3 việc, đó là: Xem – Xét – Làm (Voir – Juger – Agir) trong mọi hành động nhằm nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của giới lao động nghèo khổ bần cùng.

Và tôi thật cảm kích trước tấm gương nhập cuộc của bà Simone Weil là một giáo sư về môn Triết học - mà lại đi làm một công nhân tại hãng chế tạo xe hơi Renault - để cùng chia sẻ nỗi vất vả cơ cực của giới lao động thời trước đệ nhị thế chiến. Simone Weil là bạn học cùng lớp với Simone de Beauvoir người bạn đời nổi danh của Jean Paul Sartre ấy.

Người sau này cũng có lý tưởng phục vụ giới lao động như anh Nhuần, đó là anh Nguyễn Văn Tánh hiện cũng ở Bruxelles nước Bỉ. Anh Tánh vừa được bàu vào chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Bảo vệ Lao động trong kỳ Đại hội tại Washington DC vào cuối tháng 6 năm 2012 này, mặc dù anh đã ngòai 80 tuổi rồi.

2 – Chị Phạm Thị Thân, sinh viên Nha khoa.

Từ năm 1957, qua sự giới thiệu của anh bạn Bùi Minh Đức sinh viên Y khoa, tôi bắt đầu sinh họat với Nhóm Thanh niên Thiện chí lúc mới còn phôi thai chỉ có chừng vài chục sinh viên. Trong Nhóm này, người họat động kiên trì bền bỉ nhất phải kể đến chị Phạm Thị Thân. Đó là người mà từ khi còn là một nữ sinh ở ngòai Hanoi thì đã là một đòan viên nòng cốt của Phong trào Nữ Hướng Đạo Việt nam. Sau khi đi du học ở Mỹ về, thì chị Thân đã góp phần quan trọng vào việc phát triển Phong trào Thanh niên Thiện chí ở Việt nam song song với nhiệm vụ của một Tổng Ủy Viên của Nữ Hướng Đạo.

Vì không bận rộn với chuyện gia đình riêng tư, nên chị đã dành tòan thời gian ngòai việc dậy học tại Đại học Nha khoa cho cả hai tổ chức Nữ Hướng Đạo và Thanh niên Thiện chí này. Chị Thân đã qua đời tại Mỹ vào năm 2007 ở tuổi 75. Trước năm đó, thì cũng đã có nhiều huynh trưởng của Phong trào Thanh Thiếu niên ở miền Nam trước năm 1975 đã ra đi, điển hình như các bạn Trần Đại Lộc, Lê Đình Điểu, Trần Huy Phong, Nguyễn Hữu An, Ngô Mạnh Thu, Đỗ Ngọc Yến... Và gần đây vào năm 2010 - 2011 là Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Đức Quang...

Chị Thân cũng như các bạn nói trên là những nhân vật tiêu biểu cho thế hệ những người trẻ đã dấn thân tích cực trong việc phục vụ nhân quần xã hội tại Việt nam giữa thời kỳ chiến tranh khói lửa khốc liệt trong các thập niên 1960 – 70. Họ đích thực là những đại diện xuất sắc của khu vực Xã Hội Dân Sự tại miền Nam vậy.

3 – Anh Gene Stoltzfus của Đoàn Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo (CPT = Christian Peacemaker Team).

Gene Stoltzfus đã từng là một đòan viên của tổ chức Thanh Niên Chí Nguyện Quốc Tế họat động tại Việt nam hồi đầu thập niên 1960. (IVS = International Voluntary Services). Sau đó, anh trở về Mỹ và đi học thêm về môn Á châu học (Asian Studies) và Thần học. Năm 1988, Gene cùng các bạn đứng ra thành lập tổ chức "Đòan Xây Dựng Hòa Bình Thiên Chúa Giáo" (CPT) gồm những thiện nguyện viên đi đến những vùng có nguy cơ xung đột bạo động để tìm cách thuyết phục hai bên đối nghịch dàn xếp các mâu thuẫn tranh chấp bằng sự thương lượng và thỏa hiệp với nhau (compromise) thay vì sử dụng bạo lực chém giết lẫn nhau. Các bạn tình nguyện trong CPT này thực hành đúng theo lời giáo huấn được ghi rõ trong cuốn Kinh Thánh của Thiên Chúa Giáo, đó là: "Phúc thay cho những kẻ làm cho người hòa thuận" (Blessed are the Peacemakers).

Các đòan viên này phải đối đầu với sự nghi kỵ căng thẳng từ cả hai phía, nên chịu áp lực rất nguy hiểm, đến nỗi có người bị sát hại giữa lúc tìm cách giàn xếp cuộc tranh chấp ở địa phương. Tổ chức CPT được một số tôn giáo yểm trợ về tài chánh cũng như về tinh thần, nhưng họ lại không chủ trương đi truyền đạo như các giáo sĩ.

Tôi có dịp gặp lại Gene vào năm 2008 tại trụ sở của cơ quan xã hội trung ương của giáo hội Mennonite (MCC = Mennonite Central Committee) tại thành phố Akron trong khu vực Lancaster tiểu bang Pennsylvania. Lúc đó, anh đã về nghỉ hưu và sinh sống với gia đình ở Canada. Nhưng vào năm 2010, Gene đã qua đời vì bệnh tim ở vào tuổi 70 (1940 – 2010). Gene đã để lại thương tiếc cho bao nhiêu bạn hữu vốn hằng quý mến và khâm phục tinh thần hăng say của anh trong công cuộc xây dựng hòa bình tại nhiều nơi trên thế giới.

4 – Anh Vũ Lục Thủy, nhà biên khảo về văn học và lịch sử.

Anh Vũ Lục Thủy tên thật là Vũ Năng Phương quê quán tại làng Lục Thủy huyên Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Anh có niềm say mê với sách vở ngay từ thời còn nhỏ tuổi, lúc mới chập chững vào lớp trung học. Vào những năm 1951 - 52, tôi thường có dịp đến chơi với Phương ở nhà của cha mẹ anh tại làng Lục Thủy.

Bạn bè học cùng lớp với anh tại trung học Chu Văn An Saigon như các anh Trần Huy Bích, Hà Mai Phương cũng là những nhà nghiên cứu có tiếng tăm, thì đều quý mến và đánh giá cao công trình biên khảo của Vũ Lục Thủy. Mà các bậc trưởng thượng về văn học như cụ Nguyễn Khắc Kham, Tăng Xuân An, Nguyễn Đình Hòa, thì đều mến mộ anh và gọi anh là “Tiên sinh”. Bác sĩ Phạm Hữu Trác ở Canada là bạn học cùng quê thì cho biết là: "Vào những năm đầu thập niên 1980, Phương hay nhờ tôi mua giùm một số sách xuất bản ở trong nước mà chỉ ở Canada mới có bán, vì nước này có giao thương với Hanoi – trong khi ở Mỹ thì vẫn còn áp dụng lệnh cấm vận đối với Việt nam..." Với niềm say mê tìm tòi nghiên cứu trong nhiều năm tháng, anh bạn Vũ Lục Thủy đã cho phổ biến được nhiều bài viết rất có giá trị về lịch sử và văn học mà được các học giả và công chúng đánh giá cao.

Nhưng không may, Vũ Lục Thủy đã đột ngột qua đời ở San Diego California vào mùa hè năm 2001 lúc mới ở tuổi 65 – 66. Thật là sự mất mát lớn cho giới nghiên cứu biên khảo của Việt nam vậy.

Trên đây, tôi chỉ trưng dẫn một số trường hợp điển hình về hành động của các nhân vật là cha mẹ, là bạn hữu thân thiết của tôi. Những việc làm của họ rõ ràng là xuất phát từ tấm lòng yêu thương đồng lọai, quý trọng sự sống con người, yêu mến văn hóa dân tộc. Dù tất cả họ chẳng phải là những nhân vật kiệt xuất hay vĩ nhân anh hùng gì - thì trong phạm vi khả năng giới hạn của mỗi người, họ cũng đã cố gắng đóng góp thật đáng kể cho sự an vui của nhân quần xã hội. Tôi thật biết ơn vì tấm gương tốt đẹp sáng ngời như thế của cha mẹ cũng như của các bạn hữu thân thương đã để lại cho bản thân mình từ suốt bao nhiêu năm qua.

Và như tôi đã có lần nhắc đến: Tôi thật tâm đắc với câu trong bài hát của nhạc sĩ Trầm tử Thiêng: “Tạ Ơn Trên: Người Vẫn Thương Người “. Bài viết đơn sơ mộc mạc này là một minh họa cho cái tấm lòng nhân ái bao la rộng mở của rất nhiều bà con trong thế hệ chúng ta ngày nay vậy.

Một lần nữa, tôi xin cảm ơn nhà văn Tràm Cà Mau - vì bài “ Ơn Đời Chứa Chan” của ông đã tạo hứng khởi cho tôi để viết thành bài “ Tình Người Muôn Vàn “ này đây./

Costa Mesa, California ngày 5 tháng Tám năm 2012

Đoàn Thanh Liêm

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi chính phủ liên bang đe dọa cắt hàng tỷ đô la tài trợ nghiên cứu cho Harvard, đó không chỉ là một quyết định ngân sách. Đó là một phép thử cho chính nền tảng dân chủ: liệu chính quyền có thể dùng sức mạnh tài chính để định đoạt tư tưởng hay không. Tòa án liên bang vừa trả lời dứt khoát: không.
Ở với cộng sản, tuy còn trẻ con, chúng tôi đã hiểu thấu bài học: không nói theo là có tội, mà nói khác đi lại càng là trọng tội. Bước sang Mỹ, cứ tưởng rằng mọi chuyện sẽ khác vì đây là đất tự nhận là xứ sở tự do, nơi hiến pháp bảo đảm quyền được nói. Nhưng tuần qua, sau mấy chục năm ở Mỹ, tôi bỗng bắt gặp chính mình ngập ngừng muốn nói điều thật: tôi không thích Charlie Kirk, và tôi không muốn “celebrate his life” (tôn vinh cuộc đời ông).
Không rõ ABC có lường trước được phản ứng của cộng đồng, khán giả đối với hành động cúi đầu trước áp lực và quyền lợi, dẫn đến dừng ngay lập tức Jimmy Kimmel Live! hay không, nhưng thực tế đã cho thấy một làn sóng tức giận đã bùng nổ. Viên đạn dường như quay ngược lại, xé gió, đâm thẳng vào ba ký tự khổng lồ của đế chế truyền thông. Các cuộc tẩy chay Hulu và Disney+ bắt đầu. Trang mạng Disney+ bị sụp đổ vì lượng khán giả đăng nhập để “cancel subcription” trong đêm họ ra lệnh tắt đèn sân khấu; Disney mất gần $4 tỷ trên thị trường. Hàng loạt cuộc biểu tình phản đối trước trụ sở của ABC và Disney. Về phía các nhà báo, nghệ sĩ giải trí, các nhà lãnh đạo chính trị – từ Stephen Colbert đến David Letterman đến cựu Tổng thống Barack Obama – cùng lên án việc làm của ABC, coi đó là sự đầu hàng nguy hiểm trước áp lực chính trị và là phép thử đối với quyền tự do ngôn luận.
Nhìn vào những gì đang diễn ra tại nước Mỹ hiện nay, người ta không thể không liên tưởng đến cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc như vậy. Cũng là cuộc tấn công vào những gì bị cho là khuynh tả, là sự tập trung quyền lực vào một cá nhân qua phong trào cuồng lãnh tụ với những vệ binh trung thành chưa từng thấy tại Hoa Kỳ.
Người ta thường có nhiều cách định nghĩa về hy vọng. Hy vọng là một cảm xúc lạc quan, một niềm tin tươi sáng rằng mọi thứ chắc chắn sẽ được cải thiện. Hy vọng có thể đến từ một tiếng nói cá nhân xa lạ nào đó trong triệu triệu người trên thế giới này. Hy vọng có thể đến từ một bản tuyên bố chung của hai phong trào đối lập. Hy vọng là phải nhận ra rằng cái ác và sự bất công có thể chiếm ưu thế ngay cả khi chúng ta đang đối đầu với nó. Hy vọng là khi nhìn thấy rõ một bên sáng và một bên tối, thấu hiểu rằng vòng cung của vũ trụ đạo đức có thể không uốn cong về phía công lý – nhưng chúng ta không tuyệt vọng. Hy vọng, là khi một đêm vinh danh nghệ thuật trở thành nơi hàng trăm người giơ cao ngọn đuốc tôn vinh sự kiên cường, tiếng nói dũng cảm, như một lời nhắc nhở với thế giới rằng nghệ thuật và nhân văn là không thể tách rời.
Donald Trump từng bóng gió rằng mình xứng đáng được khắc tượng trên núi Rushmore, sánh vai cùng những bậc khai quốc công thần nước Mỹ. Bên kia Thái Bình Dương, Tập Cận Bình chẳng màng đá núi, nhưng ôm mộng lọt vào sử xanh, đặt mình ngang hàng những “đại thánh đế vương” của đảng và đất nước. Bởi thế, cuộc duyệt binh rùm beng ở Thiên An Môn vừa rồi không chỉ là phô trương cờ trống rình rang, mà là lời tuyên cáo giữa chiến địa, là tiếng trống thúc quân của một kẻ đang gấp gáp thúc ngựa đuổi theo bá mộng thiên cổ.
Bạn, tôi, chúng ta, không ai an toàn trước bạo lực súng đạn ở Mỹ. Chắc người Mỹ chưa kịp quên hình ảnh người mẹ tất tả chạy trên đôi chân trần, tìm con trong vụ xả súng mới nhất ở Annunciation Catholic School in Minneapolis tháng vừa qua. Những đứa trẻ xứng đáng có đời sống an toàn để đến trường mỗi ngày và trở về an toàn trong vòng tay cha mẹ. “Thay vì kích động thêm bạo lực, các nhà lãnh đạo chính trị nên tận dụng thời điểm này để đoàn kết chúng ta hướng tới những thay đổi hợp lý về súng đạn mà đa số người Mỹ ủng hộ,” Giáo sư Robert Reich đã nói như thế.
Trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và công nghệ, toàn cầu hoá – vốn từng được xem là động lực chính thúc đẩy cho tăng trưởng và thịnh vượng – đang đứng trước những thách thức chưa từng có. Tiến trình công nghiệp hoá và toàn cầu hoá đã đem lại nhiều thành tựu vượt bậc trong suốt thời gian dài qua, từ thế kỷ XX sang thế kỷ XXI, đặc biệt là thông qua sự chuyên môn hoá, tự do thương mại và tiến bộ công nghệ. Tuy nhiên, các cuộc khủng hoảng tài chính, đại dịch toàn cầu, chiến tranh và cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc đã khiến mô hình toàn cầu hoá truyền thống bộc lộ nhiều tình trạng bất ổn...
Nhiều thế hệ sống ở Sài Gòn những năm của thập niên 80-90, khi con gà trống của Thương Xá Tax chưa bị bức tử, khi những hàng cây cổ thụ trên đường Tôn Đức Thắng vẫn là nét thơ mộng của Sài Gòn, có lẽ đều quen thuộc với câu “Chương Trình Truyền Hình Đến Đây Là Hết…” Nó thường xuất hiện vào cuối các chương trình tivi tối, khi chưa phát sóng 24/24. Thời đó, mỗi ngày truyền hình chỉ phát sóng trong một số khung giờ nhất định (thường từ chiều đến khuya) nên hầu như ai cũng có tâm lý chờ đợi đến giờ ngồi trước màn ảnh nhỏ, theo dõi vài giờ giải trí. Đó cũng là chút thời gian quên đi một ngày cơ cực, bán mồ hôi cho một bữa cơm độn bo bo thời bao cấp. Nhắc nhớ chút chuyện xưa, để nói chuyện nay, đang diễn ra ở một đất nước văn minh hàng đầu, từng là niềm mơ ước của biết bao quốc gia về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Trên mạng gần đây lan truyền một bức tranh chuỗi tiến hóa ngược nhại kiểu Banksy - vẽ hình ảnh tiến hóa quen thuộc từ khỉ tiến tới người, nhưng đến giữa chặng đường, một gương mặt ai cũng nhận ra quay lưng đi ngược lại về phía khỉ. Cái dáng ngoảnh đầu ấy khiến tôi chạnh lòng nghĩ đến hình ảnh nước Mỹ hôm nay. Giữa thế kỷ XXI, lẽ ra phải tiếp tục đi tới, nhưng thay vì mở rộng tự do học thuật – ngọn nguồn của sáng tạo – chúng ta lại thấy những dấu hiệu nước Mỹ thoái lui theo một quỹ đạo lạ lùng: thử nghiệm một kiểu “tiến hóa ngược”.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.