Hôm nay,  

Thổ-Cẩm Việt-Nam

30/10/201200:00:00(Xem: 13107)
Diamond Bích-Ngọc
(sưu-tầm & biên soạn)

Theo số liệu ước tính của “The World Factbook” do CIA (Central Intelligence Agency) công bố: vào tháng 7 năm 2012, dân số Việt Nam là 91.519.289 người, đứng hàng thứ 13 trên thế giới.

Trẻ sơ-sinh đến 14 tuổi chiếm tỷ-lệ 24.9% (11.924.283 Nam và 10.824.773 Nữ)

Từ 15 đến 64 tuổi: 69.6% (31.824.777 Nam và 31.887.228 Nữ)

Trên 65 tuổi: 5.5% (1.940.755 Nam và 3.117.473 Nữ)

Việt Nam gồm 54 sắc tộc. Đông nhất là người Kinh, chiếm 85.7%, Tày (1.9%), Thái (1.8%), Mường (1.5%), Khmer (1.5%), Hmông (1.2%), Nùng (1.1%), còn lại 5.3% là người Dao, Giarai, Êđê , Chăm, Sán-Dìu, Raglay... Đa số các dân-tộc này sống ở miền núi trong những vùng sâu, vùng xa phía Bắc, Tây Nguyên, miền Trung và đồng-bằng sông Cửu-Long. Cuối cùng là các dân-tộc Brâu, Ơ-Đu và Rơ-Măm chỉ khoảng trên 300 người.

Link: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/geos/vm.html

Người Hoa cũng được xem là 1 trong 54 sắc dân thiểu-số tại Việt-Nam. Theo “Từ-Điển Bách-Khoa-Toàn-Thư” họ là người có tổ-tiên đến từ Trung-Quốc. Phần lớn là người Hán, tuy nhiên cũng có những người không thuộc Hán tộc. Phần đông người Hoa ở Việt-Nam cũng như trên thế-giới đều đến từ hai tỉnh cực Nam của Trung Quốc là Quảng-Đông và Phúc-Kiến. Riêng một bộ phận nhỏ đến từ vùng duyên-hải Triều-San thì được gọi là người Triều-Châu. Hiện nay người Hoa ở Việt-Nam gồm hai thành-phần: nhóm thứ nhất đã vào nước ta sinh sống chủ yếu tại miền Nam từ khoảng 300 năm nay (thời Trần-Thượng-Xuyên, Dương-Ngạn-Địch, Mạc-Cửu), số còn lại mới vào Việt-Nam từ đầu thế-kỷ 20 khi nước ta còn là thuộc-địa của Pháp, nhóm này sống nhiều tại Chợ-Lớn. Giống như người Hoa tại các nước khác, ở Việt-Nam họ thường tập-trung trong lĩnh-vực thương-mại và được xem là rất thành-đạt.
nguoi_thuong_3
Các ca-nhạc-sĩ: Thanh-Hằng, Dr. David Bui, M.D, Thùy-Liêm, Lan-Anh, Châu-Hiệp, Quốc-Hùng, An-Khoa, Diamond Bích-Ngọc, Thái-Nguyên và Trung-Chánh trong trang-phục “Thổ-Cẩm” trình-diễn tại Garden Park Care Center (sinh-hoạt thiện-nguyện tháng 10 -2012).
Trong giới-hạn của bài viết này, chúng tôi chỉ xin nói đến những nét đặc-sắc của người thiểu-số vùng cao-nguyên Việt-Nam, tức người Thượng.

“UNHCR” (United Nations High Commissioner for Refugees) tức Cao-Uỷ-Tỵ-Nạn-Liên-Hiệp-Quốc thường nói tắt là "Cao-Ủy-Tỵ-Nạn". Tên gọi rất quen thuộc đối với tất-cả những người Việt-Nam phải rời bỏ đất nước sau biến-cố 30, tháng 4, 1975 - đây là một cơ-quan được thành-lập ngày 14 tháng 12 năm 1950, có trụ sở tại Genève (Thụy Sĩ). Tiền-thân là Tổ-Chức-Quốc-Tế về Người-Tỵ-Nạn (International Refugee Organization) và trước nữa là Cơ-Quan Liên-Hiệp-Quốc về Cứu-Tế và Phục-Hồi (United Nations Relief and Rehabilitation Administration). Mục-đích của Cao-Ủy là chỉ-huy và phối-hợp các hoạt-động quốc-tế nhằm bảo-vệ và giải-quyết nhiều vấn-đề cho người tỵ-nạn trên toàn thế-giới. “UNCHR” đã được tặng Giải Nobel Hòa-Bình hai lần: 1954 và 1981.

“UNHCR” đã ghi-nhận rằng: đồng bào vùng cao (Highland) miền Bắc Việt-Nam tức người Thượng (là một thuật-ngữ có từ thời Pháp thuộc), họ thường cư-trú ngoài vùng sông Hồng và có một nền văn-hóa rất gần-gũi với người Việt-Nam.

Người Thượng có thể được chia thành (ít nhất) trên 30 dân-tộc khác nhau; nói không cùng ngôn-ngữ nhưng chủ yếu là loại “Austronesian Languages” (Ngữ Hệ Nam Đảo) như người Gia Rai, Ê-đê, Rag Lai và Chăm. Nói tiếng “Mon-Khmer” là người: Ba Na, Bru-Vân Kiều, Giẻ Triêng, M'Nông, Xê Đăng và X Tieng. Hầu hết họ theo chế-độ Mẫu Hệ “Matrilineality” (là một hình-thái tổ-chức xã-hội trong đó người phụ-nữ, đặc biệt là người Mẹ, giữ vai trò lãnh-đạo, quyền-lực và tài-sản trong gia-đình được truyền từ Mẹ cho con gái). Người Êđê và Bahnar (Jarai, Rhade, Bahnar, Koho, M'nông, Stiêng) thường là tín-hữu Công-Giáo hay Tin-Lành.
nguoi_thuong_1
Các ca-nhạc-sĩ gia-đình “Chân-Quê” mang màu sắc “Thổ-Cẩm” tươi vui đến “Pacific Heaven Health Care Center”. Một Nursing-Home với 99% là người Mỹ trắng.
Người Thượng có nguồn gốc từ các nhóm khác nhau, người ta cho rằng họ đã đến định-cư ở những vùng phía nam Đông-Dương cách đây hơn 2.000 năm - trước khi có sự xuất-hiện của dân-tộc Kinh. Trong suốt thời kỳ tiền thuộc-địa, đồng bào dân-tộc thiểu-số này vẫn duy-trì sự tự-trị với nhà nước Việt-Nam. Từ khi Pháp chiếm Đông-Dương các khu-vực vùng cao là mục-tiêu của giáo-dục truyền giáo và các hoạt-động thương-mại. Người Pháp dùng chính sách “chia để trị” (devide and conquer) giữa người “Thượng” và “Kinh” (tương-tự như hình-thức chia dân-tộc ta làm ba phần: Bắc, Trung & Nam). Từ đó gây ra những mâu-thuẫn nên đã có những cuộc nổi dậy như của người Jarai kéo dài cho đến cuối những năm 1930.

Để dành được sự ủng-hộ từ các nhóm dân-tộc thiểu số ở các vùng cao-nguyên phía Bắc và Trung phần, chính-quyền thực-dân Pháp thành lập khu tự-trị dân-tộc Mường và Thái ở vùng núi Tây- Bắc và Tây-Nguyên Trung bộ như 'Pays Montagnard du Sud' – đặt dưới quyền giám sát trực-tiếp của vua Bảo-Đại lúc bấy giờ.

(Link: http://www.unhcr.org/refworld/topic,463af2212,469f2f9a2,49749c7e16,0.html)

Một số tài-liệu khác cũng ghi-nhận rằng: vào năm 1956, Tổng-Thống Ngô-Đình-Diệm của chính-quyền Đệ-Nhất-Cộng-Hòa Việt-Nam cho thành lập “Văn-Phòng-Cố-Vấn-Thượng-Vụ” để góp ý về những vấn-đề liên-quan đến cao-nguyên miền Thượng, rồi được nâng cấp lên thành “Nha-Công-Tác-Xã-Hội-Miền-Thượng” (nghị định số 302/NV ngày 3-7-1957) trực thuộc Phủ-Tổng-Thống, trụ sở đặt tại Huế.

Mặc dù chính-sách đề ra cố-gắng giúp người Thượng hội-nhập và đề cao khái-niệm quốc-gia nhưng cũng vướng vào hậu-quả gây thiệt-hại kinh-tế và tổn thương tự-ái của các sắc-tộc vùng cao-nguyên Trung phần. Phong trào BAJARAKA bộc phát (đây là chữ viết tắt tên bốn sắc tộc lớn trên Tây Nguyên : BAhnar, dJArai, RhAdé và KAho) kêu gọi vận động dân chúng Thượng chống lại chính quyền miền Nam.

Những người lãnh-đạo phong trào gồm có các ông Y Bham Ênuôl (người Rhadé, sáng lập viên), Siu Síp (nhân sĩ Djarai), Y Dhơn Adrong (hiệu trưởng trường tiểu học Lạc Thiện), Y Nuin Hmok (giáo viên trung học buôn Kram kiêm chính trị viên), Y Nam Êban (sĩ quan), Y Bhan Kpor, Y Chôn Mlô Duôn Du, Nay Luett, Paul Nưr (trí thức Bahnar) và nhiều nhân sĩ gốc Chăm, Mạ, Stiêng, Kor...) như một phản-ứng của người dân miền Thượng.

Cuộc chống đối đầu tiên xảy ra vào giữa tháng 9-1957, trong một buổi học chữ Việt dành cho người Thượng : ông Y Bham Ênuôl công-khai nói lên những bất đồng của người Thượng và đòi quyền "biệt lập" về hành-chánh và chính-trị.

Một năm sau, trong hai tháng 8 và 9-1958, phong trào Bajaraka tổ-chức nhiều cuộc xuống đường tại Kontum, Pleiku, Buôn-Ma-Thuột nhưng đều bị trấn áp, tất cả những lãnh tụ của phong trào đều bị bắt, những thành-phần có uy-tín như sĩ-quan và công-chức Thượng đang công-tác trên cao-nguyên đều bị thuyên-chuyển về đồng bằng. Cộng-đồng người Thượng như rắn mất đầu đã bị cán bộ Cộng-Sản nằm vùng tuyên-truyền và lôi kéo theo họ chống lại chính-quyền miền Nam; không những thế, một số thanh-niên Thượng ưu-tú còn được tuyển mộ ra Bắc học-tập rồi đưa vào Nam hoạt-động cho phe Cộng-Sản.

Trước đe dọa mới này, tháng 10-1958, chính-quyền Ngô Đình Diệm kêu gọi Kinh-Thượng hợp tác chống Cộng và hứa sẽ cải-tổ sâu rộng hơn về kinh-tế, xã-hội miền Thượng.Văn-Phòng Xã- Hội được thành-lập tại Tây-Nguyên, nhiều học-sinh Thượng được đưa về Huế và các thành-phố Qui-Nhơn, Nha-Trang, Đà-Lạt học trong những trường trung-học kỹ-thuật. Một số cán-bộ Thượng được đưa về Sài-Gòn tu-nghiệp tại “Học-Viện-Quốc-Gia-Hành-Chánh”.


Nhưng kết quả đã không như mong muốn, Văn-Phòng Xã-Hội không hoạt động gì cả, các học- sinh Thượng ra trường (khoảng 150 người mỗi năm) không tìm được việc làm vì thiếu trình độ; bằng cấp của học sinh Thượng thường do nâng đỡ.Đời sống của người Thượng không sáng sủa gì hơn… (trích từ tài-liệu của chuyên-gia dân-tộc tại Pháp: Nguyễn-Văn-Huy).

Khi nền Đệ Nhất Cộng-Hòa sụp đổ, năm 1964 “Nha-Công-Tác-Xã-Hội-Miền-Thượng” đổi thành “Nha-Ðặc-Trách-Thượng-Vụ” trực thuộc Bộ-Quốc-Phòng và sau đó được nâng cấp lên thành “Phủ-Ðặc-Ủy-Thượng-Vụ”.

Sang thời Đệ Nhị Cộng-Hòa: năm 1969, “Bộ-Phát-Triển-Sắc-Tộc” được thành lập ngay trong chính-phủ Việt-Nam-Cộng-Hòa do một người Thượng lãnh đạo, có chức-năng tương-đương các Bộ khác. Tổng-Trưởng Bộ-Sắc-Tộc lúc bấy giờ lần lượt là các ông Paul Nưr, Ya Ba, cuối cùng là ông Nay Luett (Nay Louette), một lãnh-tụ người GiaRai.

Cho đến ngày nay, dân-tộc Kinh chiếm khoảng hai phần ba dân-số người miền Thượng.

Chúng tôi vừa sơ-lược vắn-tắt về nguồn gốc và đời sống của người thiể-số Việt-Nam.

Hơn mười năm qua, trên những chặng đường chia xẻ tình-thương đến các đồng-bào khó nghèo vùng Thượng-Du; chúng tôi đã có cơ may gặp trực-tiếp nhiều sắc tộc như: Xinh-Mun, Mường, La-Ha, Chăm, Dao, Hre, Ba-Na, Lô-Lô, Tày, Thái, Cơ-Tu, Nùng… Họ sống hiền hòa như cây, như cỏ. Bình-dị, hoang-sơ trong những căn nhà sàn trên triền đồi hoặc ngay ở vách núi cheo-leo. Ấn-tượng sâu đậm nhất trong tôi là những bộ trang-phục rất đẹp mắt và đầy sức quyến rũ của các Sơn-Nữ núi rừng cao-nguyên huyền-bí– Đó chính là: “Thổ-Cẩm Việt-Nam”.

Mỗi một vùng đất, mỗi một tộc người có những nét rất riêng mà phải thật tinh-ý chúng ta mới nhận biết được qua chất liệu mềm mại, màu sắc và hoa-văn đầy ý-nghĩa trên mặt vải. Đặc biệt càng ở vùng núi cao, nơi quanh năm mây mù bao phủ, hoa-văn của họ càng thiên về màu nóng với nhiều đỏ, vàng. Ở cổ và nẹp áo phụ-nữ Mông-Hoa có xử-dụng chỉ màu đỏ, xanh lá cây thêu hình con ốc (lầu kưx), loại ốc này sống trên cạn, còn gọi là ốc rồng (Kưx rong), hoặc bố-cục theo lối băng ngang họa tiết hình con chim (lầu-mờ-nông) cách điệu, nổi rõ hai bên nẹp trên nền vải trắng.

Hoa-văn của mỗi dân-tộc đều mang những nét đặc-trưng riêng về bố-cục, màu sắc, lối trang-trí, tạo nên sự phong-phú đa-dạng, nhưng chúng lại thể-hiện một sự thống-nhất cao về tính hình-học và cách điệu hóa. Loại hoa-văn này phản-ánh một thế-giới-quan về vũ-trụ và thiên-nhiên như mặt trời, hoa lá, sóng nước, núi non, cây thông hoặc các loài động vật... Đôi khi mang hình chim thú, hoa lá được dệt trong từng ô vuông nhỏ, cân-đối, rất tỉ-mỉ; tạo nên cảm-giác hoang-sơ sắc-xảo, biểu-tượng của từng dân-tộc Thượng; hoa-văn nổi lên trên bề mặt vải như thêu, đem lại sự tương-phản nhưng rất hòa-hợp qua từng sắc độ của màu.

Nghề dệt Thổ-Cẩm có từ rất lâu đời ở nước ta, trước đây sản-phẩm này được tạo ra chủ-yếu nhằm phục-vụ nhu-cầu trong gia-đình các bộ-tộc, làm của hồi-môn khi con gái về nhà chồng và một phần để trao đổi hàng-hoá lấy lương-thực.Ngày nay, Thổ-Cẩm là những món quà lưu-niệm rất được ưa chuộng đối với khách du-lịch khi đi đến các vùng cao-nguyên Việt-Nam.

Nguyên-liệu chính được xử-dụng là bông vải; thu hoạch theo mùa được đánh tơi xốp rồi kéo thành sợi.Một số dân-tộc còn khai-thác chất liệu từ vỏ cây kéo thành sợi. Kỹ-thuật lấy sợi và mắc thành cuộn theo các quy trình sau:

Cho bông qua giá tách hạt - Cung bật bông - Xa quấn tơ - Xa bắt chỉ - Xa đánh ống - Giá mắc sợi - Khung xỏ go.

Quá trình nhuộm vải như sau:

Màu nhuộm dành cho Thổ-Cẩm có thể được tạo ra từ nhiều chất liệu thiên-nhiên và phương-pháp khác nhau:

- Màu đen: ngâm lá chùm bầu với bùn non từ ba đến bảy ngày đêm hoặc ngâm lá chàm.

- Màu nâu hoặc màu đỏ sẫm lấy từ các loại vỏ cây.

- Màu xanh: nung vỏ ốc suối thật khô, ngâm thành vôi rồi trộn với nước lá krum; hoặc ngâm lá chàm.

- Màu đỏ: giã vỏ cây krung già ra, nấu lên.

- Màu nâu đỏ: ngâm giấm vỏ cây sủi, đun sôi khoảng ba giờ và làm mát qua đêm, pha thêm phèn rồi ngâm sợi vải ở nhiệt độ 80 độ C.

- Màu vàng: nhuộm từ củ nghệ.

Sau khi nhuộm, sợi được phơi khô. Người thợ nhuộm xử-dụng một chiếc bàn chải (kruamrai), chải dọc theo cuộn sợi để gỡ sạch các vụn màu và vỏ cây.

Hàng Thổ-Cẩm cũng đã được nhà thiết-kế nổi tiếng Minh-Hạnh (Saigon) đem sang Pháp để tham-dự Festival ngành dệt may từ ngày 12 đến 16 tháng 9, 2012 vừa qua tại Clermont Ferrand. Thổ-Cẩm Việt-Nam đã được xếp vào mặt hàng mang tầm-vóc quốc-tế vì để lại rất nhiều ấn-tượng đẹp và được mọi người vô cùng yêu thích & hâm-mộ.

Trong những chương-trình sinh-hoạt âm-nhạc thiện-nguyện của gia-đình “Chân-Quê” hàng tháng tại các Trung-Tâm-Điều-Dưỡng (Nursing-Home) vùng quận Cam, California – Hoa-Kỳ không ngừng nghỉ suốt 12 năm qua. Diamond Bích-Ngọc luôn sưu-tầm và tự thiết-kế các trang-phục lạ, thật đẹp mắt – thay đổi theo từng mùa cho tất-cả các ca-nhạc-sĩ than-gia thiện-nguyện. Như tháng 10 (chủ-đề mừng lễ Halloween; thay vì là những bộ custumes ma-quái); chúng tôi đã dầy công đi về miền Thượng-Du Việt-Nam; sưu-tầm hàng Thổ-Cẩm đem đến trình-diễn cho khán-giả; đặc-biệt là những bệnh-nhân, y-tá, bác-sĩ người Mỹ trong Nursing-Home; giới-thiệu nét đặc thù, về nền văn-hóa độc đáo Việt-Nam.

Các thiện-nguyện-viên cũng luôn chuẩn bị chu-đáo cho chương-trình, như anh Quốc-Hùng (Black Caps) phải soạn hòa-âm, gửi MP3 qua Email cho từng thành-viên nghe trước, nhạc-sĩ kỳ-cựu Châu-Hiệp phối-khí bằng thanh-âm guitarist điêu-luyện, rất tuyệt-vời! Các ca-nhạc-sĩ: Trung-Chánh, Dr. David Bui, M.D, Thanh-Hằng, Thùy-Liêm, Lan-Anh tập dợt kỹ càng sao cho đúng nhịp, đúng âm-vực của từng nốt, từng cung bậc, giai-điệu nhạc trước ngày biểu-diễn. Riêng ca-nhạc-sĩ Thái-Nguyên và Diamond Bích-Ngọc, cuối tuần phải lái xe chở đầy nhạc-cụ đi và về mỗi lượt 5 tiếng đồng-hồ từ nhà đến các Nursing-Home không quản ngại đường xa đầy bất trắc (vì “Tejon Pass” hiểm-trở - mùa Đông tuyết rơi và mùa Hè thì dễ cháy rừng; đôi khi cảnh-sát chặn tất-cả xe cộ không cho vượt đèo để tránh hiểm-nguy!) Xem thêm chi-tiết qua “link”: http://www.vietbao.com/D_1-2_2-44_4-180440_5-15_6-1_17-1_14-2_15-2_10-5138_12-1/

Những cố-gắng về nội-dung lẫn hình-thức này không ngoài mục đích phục-vụ cho khán-giả - dù họ chỉ là những bệnh-nhân yếu đuối; không đủ sức trao tặng lại bằng những tràng pháo tay nồng nàn như trong các buổi đại-nhạc-hội ngoài đời. Nhưng qua cách tỏ bày sự cảm-kích, trân-quý bằng ánh mắt rạng ngời vui sướng hồn-nhiên, nét cười hay những giọt nước mắt cảm-động yêu-thương, những bắt tay xiết chặt không muốn xa rời của khán-giả đối với các thiện-nguyện-viên.Tất-cả biểu-hiện này phải chăng đã quá đủ bù đắp cho sự hy-sinh về thời-gian, công sức & vật-chất của gia-đình “Chân-Quê”;làm hành-trang tiếp tục cho chúng tôi trên bước đường phụng-sự tha-nhân.

Để đúc kết bài viết này, xin phép mượn những câu thơ rất “Thiền”, rất dễ-thương của thi-sĩ Du-Tử-Lê để tặng cho chính mình và tất-cả các thiện-nguyện-viên trên toàn thế-giới:

“Thế giới vì em sẽ dịu hiền
Biển đời phút chốc bỗng bình-yên
Cánh chim tịch tịch miền vô niệm
Vô chấp em ngồi như Quan-Âm”


(Trích từ thi-phẩm: Vì Em Tôi Đã Làm Sa-di)

Diamond Bích-Ngọc (sưu-tầm & biên soạn - www.diamondbichngoc.com)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.