Hôm nay,  

Tổng Kết 2012

14/12/201200:00:00(Xem: 12706)
...nạn chồng chất nợ nần và bể bóng đầu tư là tình trạng chung của khối kinh tế Âu Mỹ Nhật...

Thấm thoát vậy mà đã tới cuối năm. Đây là dịp Diễn đàn Kinh tế làm một tổng kết sơ khởi về tình hình kinh tế toàn cầu qua phần trao đổi với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa do Vũ Hoàng thực hiện sau đây.

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Chỉ còn hai tuần nữa là thế giới bóc nốt tờ lịch của Tháng 12 năm 2012 và chuẩn bị chào đón năm 2013 với nhiều hy vọng cùng những băn khoăn e ngại. Vì vậy, tiết mục chuyên đề của chúng ta yêu cầu ông khởi sự một bản tổng kết về tình hình kinh tế năm nay, trong đó tất nhiên là có các nền kinh tế châu Á và Việt Nam.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng về đại thể, ta có thể phân biệt hai khối kinh tế lớn của thế giới. Đầu tiên là khối kinh tế của các nước công nghiệp hóa tiên tiến, chủ yếu là của Âu Châu, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Sau đó là khối kinh tế của các quốc gia đang phát triển hoặc vừa mới nổi lên, trong đó có Việt Nam. Do hiện tượng toàn cầu hóa vì các nền kinh tế này trao đổi buôn bán với nhau với mức độ sâu rộng chưa từng thấy, cho nên các nước cũng bị hiệu ứng của nhau.

- Các nền kinh tế công nghiệp hóa chưa ra khỏi chu kỳ suy sụp vì đã vay mượn quá nhiều quá lâu và lại bị nạn lão hóa dân số nên đạt tốc độ tăng trưởng thấp, thường xuyên bị rủi ro suy trầm là khi mức tăng trưởng sút giảm trong nhiều quý liên tục và thậm chí còn bị nguy cơ suy thoái kinh tế và khủng hoảng xã hội. Trong khi ấy, các nền kinh tế đang lên đều có mức tăng trưởng cao hơn nhưng cũng bị hậu quả sa sút từ các thị trường Âu-Mỹ-Nhật, nên chưa thể kéo kinh tế toàn cầu ra khỏi trì trệ thì có khi lại bị suy trầm vào năm tới. Nói chung, 2012 vẫn là bất trắc kéo dài.

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ khởi đi từ khối kinh tế công nghiệp hóa thưa ông. Có phải rằng năm 2012 này chưa thấy có gì tiến triển sau nhiều năm khó khăn và khủng hoảng hay chăng?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Với khoảng cách thời gian đủ dài vì thật ra đã là năm năm rồi kể từ năm 2008, người ta hiểu ra nhiều điều trước đây không biết hoặc chỉ thấy một cách lờ mờ. Đó là các nước công nghiệp hóa đã qua chu kỳ tích nợ nghĩa là vay mượn kéo dài đến ba chục năm và nay đã đến hồi trả nợ. Khi nội vụ vỡ lở vào năm 2008, người ta tưởng lầm rằng đó là hậu quả của nạn bể bóng đầu tư trên thị trường gia cư và khủng hoảng tài chính của Mỹ. Thật ra, nạn chồng chất nợ nần và bể bóng đầu tư là tình trạng chung của khối kinh tế Âu Mỹ Nhật khi mà tiền rẻ, lãi suất hạ và trào lưu toàn cầu hóa còn giúp khối kinh tế này thu hút tiết kiệm từ các quốc gia mới nổi lên. Khi phải điều chỉnh một chu kỳ kéo dài nhiều thập niên thì người ta phải mất nhiều năm sau khi gặp những khó khăn chưa từng thấy kể từ vụ Tổng khủng hoảng thời 1929-1933.

- Trong năm 2012, các khó khăn này kết tụ vào Âu Châu vì cả lý do kinh tế là nạn vay mượn, bong bóng và bội chi ngân sách lẫn lý do chính trị là trong cơ chế 27 nước của Liên hiệp Âu châu lại có 17 nước đã thống nhất tiền tệ gọi là khối Euro mà không có khả năng cưỡng hành về chính trị hay chính sách. Vụ khủng hoảng của đồng Euro gây rạn nứt trong khối và còn đe dọa cả cơ chế Liên Âu. Hậu quả là bất ổn xã hội lan rộng, là sự tái xuất hiện của chủ nghĩa quốc gia và nhất là nguy cơ rạn nứt trong khối Âu Châu.

Vũ Hoàng: Nhưng nói về chuyện nợ nần thì dường như là Nhật Bản mới mắc nợ nhiều nhất mà vì sao trong năm qua xứ này lại không bị khủng hoảng như Âu Châu.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng Nhật quả là mắc nợ nhiều nhất trong các nước công nghiệp hóa với gánh nợ đã vượt 230% Tổng sản lượng Nội địa so với hơn 90% của khối Euro hay 100% của Mỹ. Nhưng khác với Âu Châu, Nhật Bản là một quốc gia thống nhất và khác với Hoa Kỳ, chủ nợ chính của Nhật Bản là người Nhật, với sức tiết kiệm rất cao.

- Tuy nhiên, nền kinh tế đứng hàng thứ ba của thế giới đang ở trong trạng thái tôi xin gọi là "đợi chờ khủng hoảng" vì lãnh đạo chính trị trì hoãn và thậm chí từ chối cải cách nên trong năm 2012 chỉ kéo dài ảo tưởng ổn định. Nhiều dấu hiệu đã manh nha cho thấy nguy cơ khủng hoảng đó khi hai chính đảng lớn bị sức ép rất mạnh của các đảng nhỏ ở địa phương và có thể mất đa số để cầm quyền và lồng trong đó là sự lớn mạnh của xu hướng quốc gia dân tộc đã tìm thấy lực đẩy từ sự bất mãn và tuyệt vọng lan rộng của quần chúng.

Vũ Hoàng: Chúng ta xét tới trường hợp Hoa Kỳ, với dự báo vừa được một cơ quan tư vấn về tình báo quốc gia công bố hôm Thứ Hai mùng 10 vừa qua, rằng kinh tế Mỹ sẽ tụt xuống hạng nhì và nhường bước cho Trung Quốc vào năm 2030 này. Năm 2012, Hoa Kỳ cũng lại vừa có tổng tuyển cử, cử tri và lãnh đạo Mỹ đã xoay trở ra sao với hồ sơ kinh tế?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là kết quả bầu cử tại Hoa Kỳ xác nhận công trình nghiên cứu và dự phóng của Hội đồng Tình báo Quốc gia hay National Intelligence Council mà ông vừa nhắc tới. Xin nói thêm rằng Hội đồng này chỉ là cơ quan tư vấn và kết quả nghiên cứu của họ không là chính sách nhà nước mà chỉ nhắm vào việc kích thích suy tư về chiến lược cho trường kỳ, là điều rất hay trong một xã hội có quyền tự do thông tin và cởi mở về tư tưỏng.

- Trở lại chuyện kinh tế, Hoa Kỳ đã đến kỳ trả nợ và sẽ phải trải qua nhiều năm khó khăn thì mới có nền tảng chi thu quân bình và khai thác được những lợi thế truyền thống của địa dư hình thể và tinh thần linh động biến báo mà ít xứ nào có thể so sánh được. Nhưng quần chúng Mỹ không nhìn ra viễn ảnh dài của yêu cầu cải cách mà chỉ muốn có sự chọn lựa dễ dãi cho ngắn hạn.

- Vì vậy, sau hai năm ách tắc, họ bầu lại hệ thống lãnh đạo tương tự như trước và hệ thống đó sẽ kéo dài tình trạng bế tắc mà không dám cải cách thật, trước tiên là hệ thống ngân sách, thuế vụ, kinh doanh và giáo dục để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Hoàn cảnh chính trị ấy mới giải thích vì sao ngay sau bầu cử nước Mỹ lại có cuộc tranh cử nữa trong dư luận về việc giảm chi hay tăng thuế, là những chọn lựa đã được nêu thành vấn đề mà không có giải pháp trong hai năm qua. Báo cáo của Hội đồng Tình báo Quốc gia có thể là hồi chuông cảnh tỉnh cho lâu dài chứ trước mắt và trong năm tới, kinh tế có thể lại bị suy trầm nữa và chỉ khá hơn nếu dám cải tổ.

Vũ Hoàng: Trong năm qua Trung Quốc cũng đã có thay đổi lãnh đạo sau Đại hội 18 của Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Thưa ông, tổng kết về tình hình kinh tế của xứ này là gì trong năm 2012?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thuần về kinh tế, Trung Quốc bị hiệu ứng nặng nhất từ nạn trì trệ chung của các thị trường công nghiệp hoá mà cũng đã có những triệu chứng nguy ngập của tình trạng vay mượn quá sức thanh toán, bể bóng đầu cơ và cả nạn lão hóa dân số với hậu quả tệ hại cho sản xuất và xã hội.

- Trong năm 2012, lãnh đạo xứ này còn chật vật chuẩn bị việc thay đổi tầng lớp cầm quyền trên thượng tầng cho 10 năm tới, với rất nhiều bất mãn và động loạn xã hội ở bên dưới trong khi đà tăng trưởng lại sút giảm nặng. Về Đại hội 18 này, năm nay nỗ lực bày tỏ ra một hình thức thống nhất và quy củ ở mặt ngoài đã thất bại vì hàng loạt những vụ tai tiếng về tội ác và tham nhũng ngay trong hàng ngũ những người cao cấp nhất. Và thế hệ thứ năm sẽ lãnh đạo Trung Quốc phải nhận lại một di sản chồng chất những vấn đề mà thế hệ thứ tư đã nhìn thấy nhưng không giải quyết được. Vì vậy, năm 2012 là năm bản lề đánh dấu sự chuyển hướng tăng trưởng từ lượng sang phẩm, với rất nhiều rủi ro chính trị.

- Khi chỉ nhìn vào mặt ngoài mà dự báo kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ, dù tính trên mệnh giá hay tỷ giá mãi lực thì có khi người ta cho xứ này nuôi nấng ảo tưởng ưu việt của một quốc gia có dân số cao nhất thế giới. Chứ nhìn trong dài hạn và y hệt trường hợp Nhật Bản ba chục năm trước với ảo tưởng sẽ mua đứt nước Mỹ, Trung Quốc có nguy cơ khủng hoảng rất cao vì cơ chế thiếu dân chủ và linh động nên rất khó xoay trở và kịp thời tìm ra giải pháp khác.

Vũ Hoàng: Ngoài Trung Quốc và trong nhóm kinh tế đang lên, tình hình năm 2012 có những gì là đáng kể nhất?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thấy là nói chung các nền kinh tế này đã có đà tăng trưởng cao hơn của những nước đi sau nhưng trong nội bộ từng nước thì cũng có vấn đề về tham nhũng hay lạm phát như trường hợp Ấn Độ hay Brazil và cả các nước Á Rập Hồi giáo đang bị chấn động nặng vì những đổi thay chính trị với sự xuất hiện của một lớp người trẻ, có học mà thất nghiệp và thấy bất mãn với hiện tại.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối thưa ông là về tình hình Việt Nam, dù rằng chúng ta sẽ phải có một chương trình riêng về đề tài này trong những tuần lễ tới.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việt Nam chưa thuộc vào tầng lớp các quốc gia có nền kinh tế tân hưng, hay mới phát triển mà cũng đã gặp nhiều chứng tật của các nền kinh tế giàu có hơn, tức là cũng vay mượn quá sức để thổi lên bong bóng đầu tư vì tình trạng lạc quan thiếu cơ sở. Thứ hai, Việt Nam cũng đi vào một chu kỳ tăng trưởng thấp hơn xưa, cỡ 5% là mừng, với cơ cấu thất quân bình còn nặng hơn nhiều nước khác, kể cả Trung Quốc, nên bị nguy cơ khủng hoảng tài chính ngân hàng và cả xã hội còn cao hơn. Thứ ba, cơ chế chính trị xứ này còn lạc hậu, với trình độ lãnh đạo thấp hơn hầu hết các lân bang mà mâu thuẫn nội bộ về quyền lợi lại sâu đậm hơn, nên sẽ rất khó xoay trở khi khủng hoảng bùng nổ. Trong khung cảnh đổi thay rất lớn của toàn cầu, mấy chục năm mới có một lần, trình trạng bấp bênh của Việt Nam là điều đáng lo ngại nhất.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc trao đổi này.

Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.