Hôm nay,  

Hai Chữ “Hôn Nhân”

15/12/201200:00:00(Xem: 15172)
“Hôn Nhân” được dịch là “Marriage”; có nguồn gốc từ miền Trung nước Anh – lần đầu tiên xuất-hiện khoảng năm 1250-1300 CE (Common Era); CE tương ứng với AD (Anno Domini): thời-đại lịch truyền-thống.

Từ-điển “Oxford Dictionaries” định-nghĩa rằng “Hôn-Nhân” là sự kết hợp trang-trọng giữa một người Nam với một người Nữ; được chính-thức-hóa bởi luật-pháp để trở thành Vợ và Chồng (The formal union of a man and a woman, typically recognized by law, by which they become husband and wife).

Tuy nhiên, tính đến nay, tại Hoa-Kỳ có 9 tiểu-bang đã công-nhận việc Hôn-Nhân đồng tính (gồm: Connecticut, Iowa, Maine, Maryland, Massachusetts, New Hampshire, New York, Vermont và Washington). Ký-giả Mark Sherman (AP) tường-trình ngày 9 tháng 12, 2012 trên “abc news” là: Tối Cao Pháp-Viện đang nghiên-cứu một vụ kiện của nhóm “Tranh-Đấu và Bảo-Vệ Quyền Dân-Sự cho Người Đồng Tính” (the Civil Rights Project at Gay and Lesbian Advocates and Defenders). Nhóm này đang đòi hỏi tiểu-bang California phải chấp thuận hợp-pháp-hóa việc hôn-phối của hai người cùng phái.

Trong xã hội Việt Nam ở giữa thế kỷ 20 trở về trước, “Hôn-Nhân” là do cha mẹ quyết định, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, lễ-nghi cưới hỏi gồm có nhiều thủ-tục, qua đó nó mang một ý-nghĩa giáo-dục cổ-truyền, một triết-lý về việc chung sống giữa hai cá-thể (nam & nữ) trưởng-thành hội-nhập vào xã-hội, xác-định một tôn-tri trật tự trong hệ-thống gia-dình. Hôn-Nhân xưa phần lớn cũng dựa vào ông Mai & bà Mối hoặc bói toán như xem tuổi đôi lứa có hạp nhau hay không!
hon_nhan_dinh_huy_quynh_le_
Chúc Mừng: Chú rể Đình-Huy & Cô dâu Quỳnh-Lê – Trăm Năm Hạnh-Phúc.
Theo Phan-Kế-Bính (1875-1921) - một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt-Nam trong sách “Việt-Nam Phong-Tục” do “Phong-Trào Văn-Hóa” tái xuất-bản ngày 29, tháng 11, 1972 - khi bàn về “Tế Tơ-Hồng”, Phan-Kế-Bính kể rằng: “điển Tế Tơ-Hồng do chuyện ngày xưa, có một người tên là Vi-Cố, một bữa đi chơi giăng (trăng), gặp một ông già đang se các sợi dây đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân-gian, ta đã buộc sợi giây này vào chân ai thì dù thế nào cũng phải lấy nhau. Vì thế việc vợ chồng là có ông Nguyệt lão định trước, cho nên thành vợ chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau…”

Trong “Việt-Nam Tự-Điển”, quyển hạ của tác-giả Lê-Văn-Đức (trang 254), phần phụ-lục Tục-ngữ - Thành-ngữ - Điển-tích cũng ghi rằng: “Nguyệt hạ lão nhân, ông già ngồi dưới bóng trăng, tức Ông Tơ, vì tiên se duyên cho người đời”.

Hình tượng ông Tơ-bà Nguyệt (là hai tên gọi khác nhau của vị tiên Nguyệt Lão này) đã gắn liền với “Hôn-Nhân”, nói lên được nỗi lòng khát-khao được giao-hòa của tuổi trẻ. Nó biểu hiện đầy đủ những cung bậc tình-yêu qua ca-dao Việt-Nam:

“Ông Tơ đành vấn Bà Nguyệt đành vương
Phụ mẫu đành gả, hỏi nàng thương không nàng?
“Nhớ chàng vì nợ vì duyên
Vì Ông Tơ Nguyệt đã khuyên lấy chàng.”
“Để tôi kiếm sợi chỉ hồng
Nhờ Ông Tơ Bà Nguyệt kết vợ chồng trăm năm.”

Theo thuyết Phật giáo, không có sự khuyến-khích về Hôn-Nhân thế-tục, nhưng Đức Phật tán- thán những cặp vợ chồng sống hòa-thuận với nhau. Ngài cũng khuyên dạy các đệ-tử tại gia làm sao để có cuộc sống hạnh-phúc gia-đình như trong những bài giảng của kinh “Thi-Ca-La-Việt”. Đức Phật đã dậy rằng:
hon_nhan_dai_gia_dinh
Hình đại-gia-đình cựu Sĩ-Quan Không-Quân/QL.VNCH: Mai-Văn-Chớ & Phu-Nhân trong tiệc mừng Thượng-Thọ 70 năm của anh – 27 tháng 6, 2010. Chương-trình văn-nghệ do nhóm “Chân-Quê” đảm trách.
“Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây:

1/ Kính trọng vợ,
2/ Không bất kính đối với vợ.
3/ Trung thành với vợ.
4/ Giao quyền hành cho vợ.
5/ Sắm đồ nữ trang cho vợ.

Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách:

1/ Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình
2/ Khéo tiếp đón bà con
3/ Trung thành với chồng
4/ Khéo gìn giữ tài sản của chồng
5/ Khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.”


Như trên đã nêu, Đức Phật khuyên người chồng có năm bổn phận đối với vợ và ngược lại người vợ cũng có năm bổn phận đối với chồng. Mỗi cương vị có năm điều khoản như vậy đã được Đức Phật sắp đặt theo một trật-tự nhất định trước sau, sự liên-hệ chặt chẽ trong từng điều một không phải là ngẫu-nhiên mà có một dụng ý hết sức tinh-tế, từng vấn-đề tương-ứng nhau, cho ta thấy sự cân bằng trong đời sống giữa hai người, và tạo ra một lề luật có thể gọi đó là đạo Phu-Thê (theo quan điểm của Phật giáo). Nếu cả hai bên thực-hiện tốt đẹp bổn-phận trách-nhiệm của mình, thì mối quan-hệ giữa vợ chồng sẽ trổ hoa an-lạc, hạnh-phúc gia-đình đầm ấm, vui tươi. Đức Phật gọi điều đó là: “Phương tây được che chở, trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi”.

Thống-kê của “Guinness World Record” cho biết cặp vợ chồng có cuộc Hôn-Nhân đạt kỷ-lục nhất thế-giới là ông Herbert Fisher (sinh ngày 10 tháng 6, 1905) và bà Zelmyra Fisher (sinh ngày 10 tháng 12, 1907) cả hai đều là người Mỹ. Đã thành hôn vào ngày 13 tháng 5, 1924 tại North Carolina, USA. Tính đến 27, tháng 2 năm 2011 (ngày bà Zelmyra qua đời) là họ đã có với nhau 86 năm, 9 tháng và 16 ngày hạnh-phúc.

(Link: http://www.guinnessworldrecords.com/records-1/longest-marriage-/)

Trong sinh-hoạt với Cộng-Đồng Việt-Nam tại miền Nam California. Chúng tôi được duyên may quen biết gia-đình anh chị Mai-Văn-Chớ. Anh là cựu Thiếu-Tá Không-Quân Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa, một người chồng và một người Cha gương mẫu, đức-độ. Thoát chết nhiều lần trong chiến tranh khi lái trực-thăng. Sau 1975, anh phải trải qua 7 năm trong trại tù cải-tạo vùng Bắc-Việt; phu-nhân anh một tay tần-tảo nuôi con, thăm chồng suốt thời-gian cơ khổ này. Đúng như câu ca-dao ngày xưa:

“Thương nhau bất luận giàu nghèo,
Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.”

Đến năm 1985, sau 8 ngày đêm lái tàu không ngủ trong hải-trình gian-truân vượt biển tìm tự-do; Trời thương cho anh đến được bến bờ Mã-Lai cùng người con trai trưởng. Rồi khi đã định cư tại Hoa-Kỳ, anh Mai-Văn-Chớ vùi đầu vào những công việc nặng nhọc toàn thời-gian để kiếm tiền bảo-lãnh vợ và các con nhỏ (lúc ấy đang còn kẹt tại quê nhà). Sau này tất-cả đã đều được đoàn-tụ vui vầy cùng anh.

Hơn hai năm trước, vào ngày 27 tháng 6, 2010 – 5 người con anh cùng dâu rể đã đứng ra tổ-chức tiệc mừng lễ Thượng-Thọ 70 năm cho ba: Mai-Văn-Chớ trong tình thân đầm ấm, hạnh-phúc chan hòa bên bạn bè thân-hữu.

Những điều vừa kể trên như một tuyệt tác-phẩm, một bức tranh sống động của lòng thủy-chung trong “Hôn-Nhân” gần 50 năm của anh chị Mai-Văn-Chớ.

Tuần qua, nhận được Thiệp Hồng báo tin vui người con gái út của anh-chị là cháu: Mai-Như-Quỳnh-Lê sẽ làm lễ vu-quy cùng chú rể: Phạm-Đình-Huy, trưởng nam của ông bà Phạm-Đình-Hiếu vào thứ Bảy 29, tháng 12, 2012 tại thành-phố Garden Grove, miền Nam California. Hoa-Kỳ.

Nhân dịp này, Thái-Nguyên và Diamond Bích-Ngọc cùng gia-đình “Chân-Quê” xin được gửi những lời tốt đẹp nhất đến gia-đình hai họ: Phạm và Mai. Chúc mừng cô dâu Quỳnh-Lê trăm năm hạnh-phúc bên chú rể Đình-Huy.

Ngày xưa “Hôn-Nhân” là do Phụ-Mẫu đôi bên xếp đặt. Người ta tin vào chuyện ông Tơ bà Nguyệt se duyên. Trong xã-hội bây giờ, chỉ có tình-yêu thực-sự của đôi lứa mới là sợi dây “Tơ Hồng” không ai có thể cắt chia. Rất mong hai cháu Quỳnh-Lê và Đình-Huy cũng như những đôi uyên-ương trên cõi đời này sau khi thành-hôn luôn giữ trọn đạo Vợ-Chồng như anh-chị Mai-Văn-Chớ. “Hôn-Nhân” là bước đường dài nhiều thử-thách, hãy sống trong tình yêu-thương, thuận-thảo, dung hòa để được ăn đời ở kiếp với nhau như đôi vợ chồng ông bà Fisher (người chiếm kỷ-lục Hôn-Nhân lâu nhất trong Guinness World Record).

Tục-ngữ Việt-Nam có câu “thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”; nghĩa là có hòa-thuận với nhau thì dù gian-truân, đoạn trường đến đâu cũng sẽ đủ nghị-lực vượt qua - để vợ chồng được sống hạnh-phúc bên nhau đến thời răng long, tóc bạc trọn đời. Rất Mong lắm thay!

www.diamondbichngoc.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tây Bắc hay Tây Nguyên thì cũng chừng đó vấn đề thôi: đất đai, tôn giáo, chủng tộc… Cả ba đều bị nhũng nhiễu, lũng đoạn tới cùng, và bị áp chế dã man tàn bạo. Ở đâu giới quan chức cũng đều được dung dưỡng, bao che để tiếp tục lộng quyền (thay vì xét sử) nên bi kịch của Tây Nguyên (nói riêng) và Cao Nguyên (nói chung) e sẽ còn dài, nếu chế độ toàn trị hiện hành vẫn còn tồn tại...
Bữa rồi, nhà thơ Inra Sara tâm sự: “Non 30 năm sống đất Sài Gòn, tôi gặp vô số người được cho là thành công, thuộc nhiều ngành nghề, đủ lứa tuổi, thành phần. Lạ, nhìn sâu vào mắt họ, cứ ẩn hiện sự bất an, lo âu.” “Bất an” có lẽ không chỉ là tâm trạng của người Sài Gòn mà dường như là tâm cảm chung của toàn dân Việt – không phân biệt chủng tộc, giới tính hay giai cấp nào ráo trọi – nhất là những kẻ sắp từ giã cõi trần. Di Cảo của Chế Lan Viên và di bút (Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất) của Nguyễn Khải, theo nhận xét của nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, chỉ là những tác phẩm “cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng).”
Tập Cận Bình tin rằng lịch sử đang dịch chuyển theo hướng có lợi cho mình. Trong chuyến thăm Vladimir Putin tại Matxcơva vào tháng 3 năm ngoái, nhà lãnh đạo Trung Quốc nói với Tổng thống Nga rằng “Ngay lúc này, chúng ta đang chứng kiến một sự thay đổi chưa từng thấy trong 100 năm qua, và chúng ta đang cùng nhau thúc đẩy sự thay đổi ấy.”
Sau 20 năm chiêu dụ Kiều bào về giúp nước không thành công, đảng CSVN lại tung ta Dự án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” vào dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn 2024. Đây là lần thứ tư, từ khi có Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26 tháng 3 năm 2004, một Quyết định nhằm mưu tìm đầu tư, hợp tác khoa học, kỹ thuật và tổ chức các Hội, Đoàn người Việt ở nước ngoài, đặt dưới quyền lãnh đạo của đảng CSVN được tung ra...
Khi số lượng di dân vượt biên bất hợp pháp qua biên giới Hoa Kỳ-Mexico tăng cao kỷ lục, câu hỏi quan trọng được đặt ra là: Làm thế nào mà Hoa Kỳ lại rơi vào tình trạng này, và Hoa Kỳ có thể học hỏi những gì từ cách các quốc gia khác ứng phó với các vấn đề an ninh biên giới và nhập cư. Chào đón công dân nước ngoài đến với đất nước của mình là một việc khá quan trọng để giúp cải thiện tăng trưởng kinh tế, tiến bộ khoa học, nguồn cung ứng lao động và đa dạng văn hóa. Nhưng những di dân vào và ở lại Hoa Kỳ mà không có thị thực hoặc giấy tờ hợp lệ có thể gây ra nhiều vấn đề – cho chính bản thân họ và cho cả chính quyền địa phương bởi tình trạng quá tải không thể kịp thời giải quyết các trường hợp xin tị nạn tại tòa án nhập cư, hoặc cung cấp nơi ở tạm thời và các nhu cầu cơ bản khác. Mà tình trạng này hiện đang xảy ra ở rất nhiều nơi ở Hoa Kỳ.
Trên vai những pho tượng trắng trong vườn Lục Xâm Bảo, lá vàng đã bắt đầu rơi lất phất. Mùa Thu Paris thật lãng mạn. Henry Kissinger đi dạo quanh một hồ nhỏ ở ngoại ô gần Rambouillet. Nơi đây từng cặp tình nhân đang nắm tay nhau bên những cành cây la đà bóng hồ. Ông thấy lòng mình nao nao (melancholic) vì sắp tới phiên họp quan trọng nhất với ông Lê Đức Thọ.
Tôi nghe nhiều người tỏ ý bi quan về hiện cảnh cũng như tương lai (đen tối) của Việt Nam. Dân tộc nào, số phận đó. Một đất nước có những người viết sử và làm luật (cỡ) như ông Dương Trung Quốc thì… đen là phải!
Việt Nam bước vào năm Giáp Thìn 2024 với gánh nặng tham nhũng và một đội ngũ “không nhỏ” cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức lối sống. Đó là cảnh báo của người đứng đầu đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng, trong cuộc phỏng vấn đầu năm của Thông Tấn Xã Việt Nam...
Từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, Triết gia Mạnh Tử (372-289 BC) của Trung Hoa đã nói rằng, “Dân là quý, thứ đến đất nước, rồi tới vua.” Điều đáng nói là Mạnh Tử là người đi theo học thuyết của Nho Gia vốn chủ trương vua là con ông Trời (Thiên tử) được sai xuống nhân gian để trị quốc an dân, vậy mà cũng không thể phủ nhận vai trò quan trọng, nếu không muốn nói là tối quan trọng của người dân. Thời hiện đại, công pháp quốc tế đã nêu ba yếu tố chính hình thành một quốc gia: người dân, lãnh thổ và chính quyền. Trong đó, thật ra người dân chính là yếu tố then chốt quyết định. Lãnh thổ nếu không có dân ở, không có người quản trị thì không phải là đất nước của một dân tộc. Chính quyền từ người dân mà ra, bởi vì trước khi một người ra nắm quyền cai trị đất nước thì người đó phải là một người dân của đất nước ấy. Hơn nữa, sự thịnh suy của một quốc gia nằm trong tay người dân.
“Phản động lực” mà người Đài Loan thể hiện trong cuộc bầu cử tổng thống vừa rồi khiến tôi, sau những suy nghĩ miên man về chuyện nước non, lại quay về với bài học yêu nước của thời tiểu học với câu hỏi khó, khiến nhiều học trò gác bút: “Em hãy tìm từ phản nghĩa với ‘tôn đại’.” Trung Quốc càng hung hăng đe dọa bao nhiêu, Đài Loan càng quật cường ngạo nghễ bấy nhiêu. Mà nếu Bắc Kinh ngu ngơ hay vờ vịt không biết gì đến định luật này thì, thầy nào tớ đó, Hà Nội cũng mù tịt hay giả bộ tương tự. Họặc mù tịt như thể đã hoàn toàn miễn dịch trước luật này; hoặc đóng kịch như thể không hề sống trong không gian ba chiều bình thường mà là một môi trường nào đó thiêu thiếu, cơ hồ chỉ… hai chiều rưỡi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.