Hôm nay,  

Đất Việt: Nước Việt Nam

27/12/201200:00:00(Xem: 8266)
Nguyễn Lộc Yên
(tiếp theo)

12- Mở mang bờ cõi về phương Nam: Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thân chinh bắt được vua Chiêm là Chế Củ (Jaya Rudravarman). Chế Củ dâng 3 châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (nay là Quảng Bình và phía bắc Quảng Trị). Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân (Jaya Simhavarman) cưới công chúa Huyền Trân, dâng Châu Ô và Châu Rí. Vua Trần Anh Tông đổi tên thành Châu Thuận và Châu Hóa, nay thuộc vùng đất phía nam Quảng Trị và Thừa Thiên. Năm 1470, thời Lê Thánh Tông, quân Đại Việt đánh chiếm kinh đô của Chiêm là Vijaya (nay Bình Định), và sáp nhập miền bắc Chiêm Thành, từ đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông vào Đại Việt, đặt tên là thừa tuyên Quảng Nam. Quân nhà Lê còn tiến tới phía nam vùng đất Phú Yên ngày nay, vua đã cho khắc chữ vào hòn đá to trên đỉnh Thạch Bi sơn (đá bia), để phân định lãnh thổ Việt-Chiêm.

Năm 1620, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, thuận gả Công nương Ngọc Vạn xinh đẹp và khôn ngoan cho vua Chey Chetta II, vua Chân Lạp hết sức tin yêu phong là Hoàng hậu Somadach. Năm 1623, chúa Nguyễn cử một sứ bộ, đem quốc thư và tặng phẩm, tới Oudong để tỏ tình hữu hảo và yêu cầu vua Chey Chetta II, cho lập một đồn thuế ở Prei Kor (nay Sài Gòn) và lập một dinh điền ở Mô Xoài (nay Bà Rịa), vì có Ngọc Vạn, nên vua Chân Lạp đồng ý yêu cầu của nhạc phụ.

Năm 1693, vua Chiêm là Bà Tranh (Po Saot) không tiến cống, chúa Nguyễn Phúc Chu sai tổng binh Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đánh, bắt được Bà Tranh đem về Phú Xuân (Huế). Chúa Nguyễn đổi đất Chiêm làm Thuận Phủ, nay thuộc Bình Thuận. Đất này, chúa cho con cháu của Bà Tranh làm Đô đốc trấn giữ. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp; lấy Đồng Nai làm huyện Phúc Long và Sài Gòn làm huyện Tân Bình, đặt Trấn Biên dinh (Biên Hòa) và Phiên Trấn dinh (Gia Định).

Khi nhà Thanh tiêu diệt nhà Minh, Mạc Cửu người gốc Quảng Đông, cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp khai khẩn vùng đất Hà Tiên, rồi mở rộng đến Rạch Giá, Phú Quốc. Năm 1708, quân Xiêm sang cướp phá, Mạc Cửu dâng đất đã khai phá xin nội thuộc về chúa Nguyễn Phúc Chu, chúa Nguyễn đổi tên thành Trấn Hà Tiên, phong Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ lên giữ chức Đô đốc. Từ năm 1735-1739, Mạc Thiên Tứ mở rộng đến Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ.

Năm 1732, chúa Nguyễn Phúc Chú tiến chiếm vùng đất Vĩnh Long và Bến Tre (ngày nay), dựng dinh Long Hồ trực thuộc phủ Gia Định. Năm 1755, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên (Ang Tong) thông sứ với chúa Trịnh để lập mưu đánh chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh đem quân đánh Nặc Nguyên. Năm 1756, Nặc Nguyên thua chạy sang Hà Tiên nhờ Mạc Thiên Tứ, rồi xin dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) cho chúa Nguyễn để cầu hòa. Sau đấy, chúa Nguyễn giúp Nặc Tôn (Outey II), con Nặc Nhuận, giữa lúc tranh ngôi được lên làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (nay là Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn. Nặc Tôn lại tặng riêng cho Mạc Thiên Tứ 5 phủ: Kompong Som (Vũng Thơm), Kampot (Cần Bột), Chal Chun (Chưn Rùm), Bantey Méas (Sài Mạt) và Raung Veng (Linh Quỳnh) để tạ ơn. Mạc Thiên Tứ lại đem dâng chúa Nguyễn, chúa cho thuộc về trấn Hà Tiên cai quản, 5 phủ này về sau khi Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takeo và Kampot.

Thời các chúa Nguyễn, có các bộ lạc ở Tây Nguyên; bộ tộc người Gia Rai là mạnh nhất, các vị tiểu vương Thủy Xá, Hỏa Xá đã từng triều cống chúa Nguyễn. Khi xưa, khu vực này có lúc thuộc về nước Chiêm Thành hay Chân Lạp; có lúc một phần đất nơi này lại thuộc về Ai Lao, tùy vào sức mạnh của các nước ấy. Vào năm 1830, vua Minh Mạng chính thức sáp nhập vùng đất Tây Nguyên ngày nay, vào bản đồ Việt Nam.

13- Khí hậu VN: Việt Nam là nước ở miền nhiệt đới. Gần biển và cao nguyên có khí hậu ôn hoà. Nhiệt độ trung bình hàng năm 22

0C đến 270C. Một năm có 365 ngày, thì có khoảng 100 ngày mưa. Việt Nam có gió Bắc (gió Bấc) là gió lạnh từ phương bắc thổi vào. Gió Lào là gió nóng từ bên Lào thổi qua. Gió Nam là gió từ phương nam thổi tới. Gió Nồm là gió từ hướng đông nam của biển thổi vào, nên không khí mát mẻ.

14- Đất đai và đồng bằng: Đất nông nghiệp VN khoảng 20%, đất lâm nghiệp khoảng 30% diện tích đất tự nhiên. Đồng bằng VN có rải rác từ bắc chí nam. Đồng bằng miền Bắc, được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng, có diện tích khoảng 15.000 km2. Đồng bằng miền Trung, bị dãy Trường Sơn như xương sống chạy dài từ Bắc chí Nam, nhiều núi đâm ra sát biển, chia thành những cánh đồng nho nhỏ. Đồng bằng ở miền Nam được bồi đắp bởi phù sa sông Cửu Long có diện tích trên 40.000 km2; hàng năm phù sa bồi ra biển từ 60m đến 80m.

15- Tài nguyên: - Tài nguyên rừng: Rừng ở VN có nhiều cây gỗ quý: Hương, gụ, trắc, cẩm lai, gõ... và cây dược thảo rất dồi dào. Các loại lâm sản khác: Nấm hương, nấm linh chi, mật ong... Động vật ở Việt Nam có khoảng 1.000 loại chim, 300 loài thú, trong đó có: Nai, hổ, gấu, voi, trâu rừng, bò rừng, công, trĩ..., với khoảng 300 loài bò sát và ếch nhái.

- Tài nguyên thủy sản: Việt Nam là quốc gia có nguồn nước dồi dào, nên về thủy sản có đầy đủ các loại cá tôm ở nơi sông hồ nước ngọt và ở biển rộng bao la, có nhiều: Tôm cá, mực, muối và nhiều loại rong biển.


- Khoáng sản củaVN ở đất liền có: Than đá, mỏ đồng, mỏ vàng. Ngoài biển khơi có mỏ dầu dọc theo bờ biển của nước Việt.

16- Thắng cảnh: Việt Nam có nhiều sông suối, ao hồ, thác ghềnh, VN ở vùng nhiệt đới, nên cây cỏ, hoa lá tươi tốt quanh năm. Nơi nghỉ mát lý tưởng là: Đà Lạt, Sa Pa, Tam đảo...

Thác, hồ, xinh xắn: Thác Bản Giốc hồ Ba Bể. Di sản đẹp đẽ, được cơ quan UNESCO công nhận: Vịnh Hạ Long, động Phong Nha. Những bãi tắm rộng rãi, mát mẻ: Vũng Tàu, Đồ Sơn ở Hải Phòng, Sầm Sơn ở Thanh Hoá. Cố đô đồ sộ, cổ kính: Thăng Long và Huế. Đẹp như viên ngọc Viễn Đông: TP Sài Gòn. Phố phường nguy nga, đông đúc, nhộn nhịp khác là thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ... Danh lam thắng cảnh ở VN thật là:

“Thác hồ xinh xắn quá nhiều

Núi sông cẩm tú, mỹ miều khắp nơi.”

*- Thiết nghĩ: Nước Việt nói riêng, Đông Dương nói chung, là một tiểu quốc, vì vậy từ hiệp định Genève 1954, đến hiệp định Paris 1973, đều bị các cường quốc: Pháp, Mỹ, Tàu, Nga... chi phối mọi mặt, đất nước mình lại không thể tự quyết định tương lai cho chính mình, mà phải bị những áp đặt của ngoại bang, dù đó là ngoại bang tư bản hay ngoại bang cộng sản. Quỷ

quái thay! Sau hiệp định Genève Pháp rút quân, nhưng VC lại gài Bộ đội và chính trị viên ở lại miền Nam. Sau hiệp định Paris, Mỹ đã rút quân theo điều khoản của hiệp định, còn VC lại tăng thêm Cộng quân vào miền Nam VN?!. Ai cũng đặt “quyền lợi chủ nghĩa” quốc gia của họ lên trên, chứ đừng hòng có sự hỗ tương hay giúp đỡ thực lòng của các nước “tư bản chủ nghĩa” hay “xã hội chủ nghĩa”?! Ai cũng vì quyền lợi đất nước của họ, chỉ trừ bọn bán nước cầu vinh. Nên nước ta, dân ta phải tự vươn mình lên như Nhật Bản hay Do Thái, thì mới có cơ may quyết định vận nước của mình.

Thế mà ngày nay (2012), chính quyền Việt Nam Cộng sản (VC) bị hệ luỵ bởi “mười sáu chữ vàng” (Láng giềng hữu nghị; Hợp tác toàn diện; Ổn định lâu dài; Hướng tới tương lai). Mười sáu chữ vàng là một cái thòng lọng, cái kim cô của quân xâm lược Tàu, đang và sắp tròng vào đầu 90 triệu dân Việt, trong đấy có VC, vậy mà VC vẫn còn hoan hô 16 chữ độc địa này là sao?!!!. Lịch sử Việt Nam, đã có biết bao anh hùng, anh thư trung trinh, đã lo dân giúp nước, nhưng cũng có một thiểu số lại là mọt nước sâu dân thật đáng trách. Những nhân vật buôn dân bán nước, đã làm hoen ố trang Sử Việt, đấy là:

- Mạc Đăng Dung (1483-1541), kẻ cướp ngôi nhà Lê: Khi họ Mạc làm vua, ông ta tự trói mình trước phủ của quân Minh ở trấn Nam Quan, nhục nhã dâng vàng bạc và 6 động: Tế Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liêu Cát, An Lương và La Phu cho nhà Minh.

- Lê Chiêu Thống (1766-1793), cầu viện nhà Thanh, nhà Thanh đem trên 20 vạn quân Thanh đến Thăng Long xâm lược nước ta, nếu không có anh hùng Nguyễn Huệ và các tướng sĩ Tây Sơn đánh đuổi chúng, thì nước ta đã bị Tàu đô hộ nữa rồi!.

- Hồ Chí Minh (1890-1969) và đồng đảng của ông, đã, đang và sẽ đem giang sơn Việt Nam cắt nhượng từng vùng da thịt đất nước ta cho giặc Tàu, hay sẽ hiến dâng cả giang sơn VN cho Tàu?!.

- Ngày 14-9-1958, thủ tướng miền Bắc Việt Nam là Phạm Văn Đồng, với sự đồng loã của chủ tịch nước là Hồ Chí Minh, đã dùng Biển Đông (cả Hoàng Sa, Trường Sa) của miền Nam Việt Nam (VNCH), gởi công hàm cho Chu Ân Lai là thủ tướng Tàu cộng: “Biển Đông thuộc về Tàu”. Dù thiếu yếu tố pháp lý, nhưng VC mong được viện trợ của Tàu, để xâm chiếm miền Nam VN?!

- Ngày 30-12-1999, phân định lại lãnh thổ Việt, Tàu. Tàu chiếm của Việt Nam, khoảng 700 km vuông lãnh thổ.

- Ngày 25-12-2000, chính quyền Cộng sản Hà Nội, cắt nhượng cho Tàu, khoảng 10.000 km vuông lãnh hải, thuộc vùng vịnh Bắc bộ VN. Nhân đấy, vào ngày 2-12-2007, Quốc vụ viện của Tàu, tuyên bố thành lập huyện Tam Sa, bao gồm đảo Hoàng Sa và một phần đảo Trường Sa của Việt Nam, mà Tàu đã cưỡng chiếm. Giờ đây, ải Nam Quan và thác Bản Giốc của ta còn hay mất?!.

Riêng Mạc Đăng Dung và Lê Chiêu Thống, liền sau đấy đã biết ăn năn hối lỗi, biết nhục khi bán nước cầu vinh, biết thiệt thòi đất nước khi quy luỵ ngoại bang Tàu. Mạc Đăng Dung sau khi chuốc nhục ở ải Nam Quan năm 1541, vì thẹn mà bệnh mất năm ấy. Lê Chiêu Thống vì hối hận, lâm bệnh mất năm1793, tại Yên Kinh (Tàu), lúc 28 tuổi. Còn Hồ Chí Minh và đồng đảng vẫn tiếp tục “mãi quốc cầu vinh” là vì sao???!

Việt Nam làng xóm thổ cương
Giang sơn cẩm tú, vấn vương lòng người
*
Cảm tác: Non nước Việt Nam
Việt Nam lập quốc, quá truân chuyên
Lân cận Bắc phương, lắm luỵ phiền
Bắc thuộc ngàn năm, vùng vẫy đứng
Trăm năm đuổi Pháp, mới bình yên
*
Việt Nam non nước đẹp làm sao!
Vị trí đông nam của Á Châu
Tổ Quốc giữ gìn bao thuở trước
Nước non sang sửa mãi nghìn sau
*
Việt Nam phía bắc giáp Trung Hoa
Biên giới lâu lâu lại bất hoà
Tây cận Lào Miên rừng rậm rạp
Nam liền vịnh Thái biển bao la
*
Việt Nam đông giáp biển mênh mông
Hải đảo lô nhô khắp biển Đông
Thuỷ sản cá tôm đầy rẫy lội
Xăng dầu đáy biển, vững vàng trông
*
Việt Nam non nước thiết tha lòng
Hùng vĩ núi rừng, bởi hóa công
Cây cỏ đẹp xinh, xinh xắn cảnh
Lúa ngô xanh tốt, tốt tươi đồng
*
Việt Nam sông suối, nước long lanh
Khúc khuỷu quanh co, chảy quẩn quanh
Ghềnh thác ầm ì, màu nước bạc
Đầm ao lấp lánh, mặt hồ xanh
*
Việt Nam quặng mỏ, ở nhiều nơi
Than đá, sắt đồng, đủ hẳn hoi
Phong cảnh mỹ miều, lưu luyến mãi
Việt Nam non nước nhớ nhung hoài.

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Mamdani không bán mộng. Anh bán khả thi. Và cử tri, sau nhiều lần bị dọa nạt, có vẻ đã chọn đúng thứ cần mua. Hy vọng, khi ấy, không phải lời hứa. Nó là hóa đơn thanh toán mỗi cuối tháng, nhẹ hơn một chút — và là bằng chứng rằng lý trí vẫn chưa bị bôi xóa.
Hiến pháp là văn bản pháp lý tối cao quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, xác lập thẩm quyền của các cơ quan công quyền, đồng thời quy định các chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội và những quyền cơ bản của công dân. Tất cả các cơ quan nhà nước và công dân đều có nghĩa vụ tuân thủ Hiến pháp...
Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.