Hôm nay,  

Thi Đua Hoa-Ấn

05/01/201300:00:00(Xem: 9410)
Vì sao Trung Quốc sẽ thua Ấn Độ?

Trả lời cuộc phỏng vấn đầu năm 2013 của mục Tạp Chí Kinh Tế trên đài Phát thanh Quốc tế Pháp RFI tại Paris, về trận đua kinh tế giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, người viết tỏ vẻ hoài nghi những dự báo rằng kinh tế Trung Quốc sẽ sớm vượt Mỹ để đứng đầu thế giới. Và còn nói ngược rằng có khi Trung Quốc lại bị Ấn Độ bắt kịp! Độc giả có thể thắc mắc về cơ sở của lý luận này. Nhân dịp đầu năm, xin nhắc lại chuyện Ấn Hoa....

Tương lai không nhất thiết là một dự phóng vạch ra từ quá khứ, nhiều đột biến bất ngờ vẫn có thể xảy ra và làm thay đổi cục diện của các quốc gia. Nhưng nhìn trong trường kỳ, một số chuyển động chậm rãi âm thầm cũng dẫn tới những đổi thay trong từng nước và chi phối tương quan giữa các quốc gia với nhau. Vì vậy, dự báo là điều cần thiết, nhưng phải trong thế động...

Kể về mệnh giá, sản lượng kinh tế Trung Quốc vừa vượt Nhật Bản vào năm 2010 để đứng hạng nhì thế giới và thực tế thì còn sớm hơn cả chục năm nếu kể về tỷ giá mãi lực hay sức mua của đồng bạc tại hai nơi khác nhau. Trong các nền kinh tế thuộc loại đang phát triển, Trung Quốc là một thị trường lớn và đông dân nhất địa cầu, thực tế là một trung tâm chế biến của toàn cầu, nên được chú ý, thậm chí ngợi ca. Trong phần ngợi ca ấy có rất nhiều điều nhảm nhí, đôi khi còn vì dụng tâm! Chuyện dụng tâm ấy, xin gác qua một bên

Với khác biệt về đà tăng trưởng hàng năm – 7% so với 2% của Hoa Kỳ - thì Trung Quốc có thể bắt kịp Mỹ nếu ta phóng lên hai đường tuyến từ quá khứ vào tương lai. Nhiều dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, hay gần đây nhất, của Hội đồng Tư vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (National Intelligence Council), đều nói tới chuyện bắt kịp và vượt qua, vào thời điểm 2016 hay 2030, tùy cách tính.

Nhưng thế giới con người lại không đơn giản như vậy.

Là quốc gia đông dân nhất địa cầu, Trung Quốc có một tỷ 350 triệu dân, hơn Ấn Độ cỡ trăm triệu. Nhưng, do chủ trương kế hoạch hóa gia đình (chính sách "mỗi hộ một con") được áp dụng từ năm 1978, đà tăng trưởng dân số đã bắt đầu chậm lại và Trung Quốc sẽ sớm gặp hiện tượng "lão hóa dân số", với lớp cao niên chiếm một tỷ trọng lớn hơn và nâng cao "tỷ số lệ thuộc", của thành phần lệ thuộc vào sức sản xuất của những người trẻ hơn.

Ấn Độ sẽ sớm bắt kịp Trung Quốc về dân số, với "tỷ số lệ thuộc" thấp hơn nhờ dân số trẻ hơn. Tức là về lượng lẫn phẩm, Ấn có ưu thế cao hơn nếu chỉ tính đến dân số. Hệ thống giáo dục và đào tạo của Ấn còn có ưu thế khác - kể cả di sản về tổ chức của Đế quốc Anh - nên đạt năng suất và cơ hội lao động cao hơn. Đấy là một lẽ.

Sau khi giành lại độc lập năm 1947 và dưới sự lãnh đạo của đảng Quốc Đại theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Ấn Độ học thói Xô viết và đòi quốc hữu hóa nền kinh tế. Điều may mắn là xứ này đã ngay từ đầu áp dụng chế độ dân chủ và tinh thần đa nguyên, nên khi Liên Xô tan rã năm 1991, Ấn đã kịp xoay mà không bị loạn. Ấn đã cải cách kinh tế và chuyển hướng theo quy luật thị trường và 20 năm sau, khu vực quốc doanh chỉ kiểm soát được có 14% của Tổng sản lượng, so với 50% tại Trung Quốc.

Chẳng những vậy, Ấn Độ có truyền thống kinh tế tự do hơn các nước lớn đã áp dụng chế độ độc tài, như Trung Quốc hay Liên bang Nga. Nhờ vậy, tư doanh Ấn có những tổ hợp lớn với sức cạnh tranh đáng kể trên trường quốc tế. Trung Quốc thì chưa vì tập đoàn nào cũng bị nhà nước chi phối, từ ngân hàng đến công nghiệp và dịch vụ, để thực thi chánh sách của đảng, đã kém khả năng cạnh tranh mà còn gây lãng phí và chỉ là hang ổ của tham nhũng.Nói về tập đoàn tài chánh ngân hàng và khả năng điều tiết kinh tế, các ngân hàng của Ấn phải cạnh tranh bằng tổ chức và năng suất, trong khi Ngân hàng Trung ương là có thẩm quyền tương đối độc lập về chánh sách. Hệ thống Trung Quốc lại khác. Thống đốc Ngân hàng Trung ương có thể bị đá ra khỏi Trung ương đảng - số phận của Chu Tiểu Xuyên – và bề nào cũng chẳng kiểm soát được các ngân hàng thương mại của nhà nước mà còn bị nhiều ủy ban của đảng chi phối để thi hành chánh sách của đảng.

Hậu quả là Trung Quốc chủ quan áp dụng lãi suất rẻ, các ngân hàng của nhà nước phải tài trợ các doanh nghiệp cũng nhà nước qua biện pháp ưu đãi và gây rủi ro, lãng phí trong hệ thống quốc doanh là nơi thu hút một phần tư dân số lao động. Chánh sách điều tiết về tín dụng và tiền tệ của Trung Quốc thật ra còn quá thô sơ so với Ấn Độ. Đòn bẩy sử dụng là biện pháp hành chánh và mức dự trữ pháp định là loại khí cụ thô thiển, lạc hậu và thực tế chỉ là sự phân bố tín dụng nhờ sự can thiệp của nhà nước, hay nhờ quan hệ thân tộc của các đảng viên cao cấp.


Đã vậy, Bắc Kinh còn dọa thiên hạ là sẽ thả nổi đồng Nguyên vào năm 2015 để nâng đồng bạc vào loại "ngoại tệ dự trữ" và ganh đua với các ngoại tệ mạnh. Thực tế thì Bắc Kinh vẫn kiểm soát hối suất để tìm lợi thế cạnh tranh nhờ tiền rẻ và tránh biến động tiền tệ lẫn động loạn xã hội nếu đồng bạc lên giá. Trong khi ấy, đồng Rupee của Ấn được tương đối tự do lên xuống theo quy luật cung cầu chứ không do quyết định của nhà nước. Và hệ thống kiểm soát luồng giao dịch tư bản của xứ này cũng được giải toả, giới đầu tư quốc tế có thể tham gia vào thị trường cổ phiếu của Ấn chứ không bị hạn chế như tại Trung Quốc.

Kết quả chung cuộc về chánh sách là tiêu thụ chiếm 58% Tổng sản lượng Ấn Độ so với 38% của Trung Quốc: kinh tế Trung Quốc vẫn lệ thuộc quá nhiều vào đầu tư (47%) và xuất cảng (29%), mà xuất cảng của xứ này lại thuộc vào loại chế biến, có thể thăng giáng theo chu kỳ trong khi đa số xuất cảng của Ấn lại là loại dịch vụ, rất ít bị ảnh hưởng.

Tiêu thụ mà chiếm một tỷ trọng cao thì cũng có nghĩa là người dân được quyền hưởng, và quyền chọn, và doanh nghiệp phải cạnh tranh để phục vụ sở thích của khách hàng.

Thế giới cứ nói về sức tiết kiệm của người dân Trung Quốc. Đấy là cách nhìn bằng một mắt nên kém chiều sâu: vì Trung Quốc thiếu mạng lưới an sinh và phúc lợi nên ai cũng phải dằn túi thủ thân. Dân Ấn Độ có mức tiết kiệm cũng bằng 30% lợi tức, nhưng vẫn có sức tiêu thụ cao hơn người dân Hoa lục. Mà về khả năng tiêu thụ ấy, họ còn có quyền chọn lựa trong một thị trường then chốt là thông tin và báo chí.

Báo chí Ấn Độ có quyền tự do chứ không bị kiểm soát, dân trí cũng vậy! Trong nền kinh tế tri thức của nhân loại, đấy là một lợi thế của Ấn mà Trung Quốc không có. Huống hồ dân Ấn - rất trẻ, xin nhắc lại – còn có khả năng vượt trội về thuật lý, technology. Và lại thông thạo ngôn ngữ chủ yếu của thế giới hiện đại là Anh ngữ!

Đế quốc Anh chỉ không để lại loại di sản vô hình như ngôn ngữ, bộ máy hành chánh công quyền, hạ tầng cơ sở luật lệ, chế độ dân chủ đại nghị hoặc tinh thần đa nguyên. Vì nhu cầu của họ, người Anh còn sớm phát triển mạng lưới hỏa xa toả rộng trong lãnh thổ Ấn. Hệ thống giao thông ấy là lợi thế cho việc vận chuyển người và vật trong một lãnh thổ rộng lớn, là điều Trung Quốc chưa có và chưa thể có.

Là một xã hội đa nguyên, từng đã bị khủng bố tấn công, Ấn Độ không nhân danh quyền ổn định và thống nhất quốc gia mà đàn áp dân thiểu số, kể cả những người theo đạo Hồi là tôn giáo xưa kia đã từng thống trị xứ này. Tại Trung Quốc, các sắc tộc thiểu số chỉ là phó thường dân. Và xứ này không thể ổn định nếu ngơi tay đàn áp - mà càng đàn áp thì càng dễ gây ra sức bật!

Sau cùng, xin nhường lời cho một bậc thầy về kinh tế chính trị học.

Milton Friedman là kinh tế gia khét tiếng thuộc trường phái tiền tệ với chủ trương nhiệt liệt đề cao tự do kinh tế. Ông cũng đã từng được mời qua Bắc Kinh diễn thuyết về kinh tế thị trường và quyền tự do chọn lựa của người dân. Ông mất vào tháng 11 năm 2006, ở tuổi 95. Trước khi tạ thế mấy tháng, ông được tờ Wall Street Journal phỏng vấn và bài này được tờ báo phổ biến trong số ra ngày 22 tháng Giêng năm 2007. Ghi như vậy để những người tò mò có thể tìm đọc lại, khi Friedman được tờ báo mời ông so sánh Trung Quốc và Ấn Độ.

Câu trả lời phải làm chúng ta giật mình:

"Trung Quốc vẫn duy trì chế độ tập thể về chính trị và nhân sự trong khi giải phóng dần nền kinh tế thị trường. Tới nay thì điều đó có thành công, nhưng sẽ dẫn tới xung đột vì không thể dung hợp kinh tế tự do với chính trị tập thể. Ấn Độ thì duy trì chế độ dân chủ chính trị nhưng lại quản lý một nền kinh tế tập thể. Bây giờ họ mới bắt đầu giải phóng kinh tế nên sẽ gia tăng mọi quyền tự do, vì vậy xứ này có vị trí khả quan hơn Trung Quốc".Milton Friedman không là kinh tế gia bình thường, ông nhìn sự việc khác thiên hạ nên là nhân vật hiếm hoi không tỏ vẻ gì là bị mê hoặc về huyền thoại Trung Quốc mà còn tiên báo điều nghịch lý. Có lẽ vì ông nhìn vào nội lực thật của Trung Quốc. Chúng ta nên thử tìm hiểu về nội lực đó khi cả thế giới cứ nói hoài là khi Trung Quốc tỉnh giấc, thiên hạ sẽ bị chấn động.

Thiên hạ có thể chấn động khi Trung Quốc bị Ấn Độ qua mặt và bên trong lại bị động loạn và gặp lại cảnh tam phân. Không thành ngũ đại thì cũng ra thập quốc....

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.