Hôm nay,  

Người Tỵ Nạn

26/01/201300:00:00(Xem: 12771)
Lời người dịch: Vì thân tình nên anh Nguyễn văn Rị điện thoại cho biết là Linh mục John van der Vorst và anh được tờ báo Rheinische Post (RP), tờ báo lớn nhất của tiểu bang Nordrhein-Westfalen phỏng vấn. Hôm nay, tôi liên lạc trực tiếp với RP và nhận được ngay sau đó từ bà F.C. (xin lỗi viết tắt tên và trân trọng cám ơn bà F.C.) per E-Mail bài viết nói trên, được phổ biến trong mục "Điạ phương (Lokal) thuộc thành phố Moenchengladbach" với đề tưạ "Flchtlinge" (Xin dịch là Người Tỵ Nạn thay vì Người Chạy Trốn, Người Chạy Nạn).

Tôi phóng dịch bài viết của ký giả Brangenberg đăng trên Rheinische Post vào ngày Thứ Năm 24-01-2013 mục đích giới thiệu đến Quý đồng hương trong và ngoài nước Đức biết đến việc làm xã hội thiện nguyện của anh Rị. Vì là bài phóng dịch nên có vài chữ tôi "đã phải dịch thoáng một tí", bởi lẽ nếu chuyển ngữ đúng y như câu văn người Đức viết thì "hơi khó nghe". Mong Quý vị thức giả hoan hỷ (LNC).

Người Việt "kỷ niệm" 30 năm hội nhập

(SIBR) Với một chiếc thuyền Vincent Nguyễn Văn Rị cùng với gia đình đã chạy trốn chế độ cộng sản và được đánh dấu là một nước Việt Nam độc tài.

Khoảng 100 người tỵ nạn khác cũng đã quyết định chọn lựa thái độ như Văn Rị trong thời điểm này. Họ trôi dạt nhiều ngày trên biển cả, những người được gọi là "thuyền nhân" đến giờ phút cuối cùng đã được con tàu "Cap Anamur" của Tiến sĩ Rupert Neudeck và vợ là Christel cứu vớt.

Biến cố này xảy ra 30 năm trước đây. Kể từ đó, Văn Rị cùng với gia đình sống và làm việc tại Moenchengladbach và là tình nguyện viên xã hội. Ông ta quyên góp trong cộng đồng Việt Nam (ghi chú thêm, đúng hơn Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn!), trong đó ông là chủ tịch, không những chỉ cho người nghèo khổ ở Việt Nam, mà còn cho cả dự án "Mũ Sắt Xanh" (Gruenehelme) và Misereor.

Văn Rị là người Đức gốc Việt đầu tiên được vinh danh và ban khen vì công việc thiện nguyện xã hội trong thành phố với Huân Chương Thập Tự Sắt Liên Bang Đức (Deutsches Bundesverdienstkreuz). "Nhưng nếu không có sự giúp đỡ của Christel và Rupert Neudeck" thì tất cả những điều này sẽ không có thể xảy ra được!.
vanri_pfarrer_van_der_vorst_rp
Linh Mục John van der Forst và Nguyễn Văn Rị.
Vì vậy, ông Văn Rị nhấn mạnh là tôi muốn cảm ơn Quý vị về tất cả".

Sự cám ơn của ông cũng dành cho Giáo xứ "Heilig Geist" và Linh Mục Chánh Xứ John van der Vorst. Bởi vì tại đây người Việt tổ chức ba lần Thánh Lễ trong một năm để quyên góp, trong đó có sự quyên góp giúp cho trẻ em "Kinderhilfe Bethlehem".

Vào ngày thứ Bảy, 23 Tháng hai 2013, từ 18 giờ đến 24 giờ, Hội người Việt tỵ nạn cộng sản tại Moenchengladbach mời tham dự Lễ Mừng Năm Mới (Neujahrsfest) tổ chức tại Hội trường Mehrzweckhalle Neuwerk. Một mặt người Việt đón mừng "Năm Con Rắn" (das Jahr der Schlange, ghi chú thêm: Năm Quý Tỵ 2013) và thứ đến họ (ý tác giả bài phỏng vấn muốn nói là người Việt tỵ nạn!) muốn cảm ơn dân chúng thành phố Moenchengladbach (được gọi là Gladbacher) đã hỗ trợ, giúp đỡ họ trong suốt hơn 30 năm qua!

* © Lê-Ngọc Châu (Munich_25-01-2013)
Phóng dịch theo SIBR_ Báo Rheinische Post- Thứ Năm 24-01-2013

Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.