Hôm nay,  

Phạm Duy Ngàn Lời Ca

05/02/201300:00:00(Xem: 11044)
01-30-13_pham_duy
Nhạc sĩ Phạm Duy Sinh ngày 5 tháng Mười 1921, mất ngày 27 tháng Một 2013.
Họp mặt tại Việt Báo Gallery Chiều 30 tháng Một 2013. Nhiều nghệ sĩ và thân hữu quây quần cùng nhau hát Phạm Duy như lời tiễn biệt....

“Tôi yêu tiếng nước tôi Từ khi mới ra đời...”
(Tình Ca)

“Việt Nam, hai tiếng nói sau cùng khi lìa đời”
(Mẹ Việt Nam)
con_duong_cai_quan
Mở đầu với trường ca Con Đường Cái Quan, từ Ải Nam Quan đến Cửu Long Giang...
ngan_khoi_me_trung_duong
Và cuối cùng là bài Mẹ Trùng Dương trong trường ca Mẹ Việt Nam do tốp ca Ngàn Khơi trình bày.
doan_hung-phuong_ha
Doãn Hương, Phương Hà.
le_uyen-tuan_cuong
Tuấn Cường - Lê Uyên.
dsc_0132
Mộng Thuỷ
le_hong_quang
Lê Hồng Quang
tu_ca_ngan_khoi
Tứ ca Ngàn Khơi
ba_thanh_-_doan_hung
Bá Thành và Doãn Hưng
pham_dang_khoa-doan_hung
Phạm Đăng Khoa và Doãn Hưng
pham_ha
Phạm Hà
bichvan_huynh_c_luan
Bích Vân hát với dưong cầm và vỹ cầm Huỳnh Công Luận
quynh_giao
Quỳnh Giao hát “Kỷ Niệm”
bich_lien
Bích Liên hát “Tình Ca”.
dsc_7268
Y Sa -Đinh Quang Anh Thái
trandatu
Trần Dạ Từ
Mùa Thu 1987, khi xuất bản một tuyển tập hơn 300 ca khúc do chính ông viết lời, Phạm Duy liên tưởng tới cuốn tiểu thuyết Ngàn Cánh Hạc của nhà văn Nhật Bản Ysunari Kawabata mà đặt tên cuốn sách mấy trăm trang là Ngàn Lời Ca.

Cánh hạc đã bay mất rồi, nhưng ngàn lời ca vẫn đọng trên môi những người còn lại....

Một ngày sau khi được tin ông mất, một số người thuộc thế hệ con cháu đã gọi nhau, text nhau trên máy: "sao không cùng hát với nhau cho nhau những ca khúc Phạm Duy?" Có cái gì đó thôi thúc mọi người cùng bắt tay vào việc. Kết quả là một buổi họp mặt nghệ sĩ và thân hữu với tiếng ca hát chen tiếng cười mà chan hòa nước mắt.

Tối Thứ Tư 30 Tháng Giêng, Việt Báo Gallery hoàn toàn đổi dạng. Không có sân khấu, chỉ một dương cầm đặt giữa nhiều hàng ghế quây tròn. Trên tường, một bích chương đơn giản với hai tấm hình và chữ in PHẠM DUY NGÀN LỜI CA và ánh nến lung linh.

Đúng bảy giờ, giữa các thân hữu và nghệ sĩ, Trần Dạ Từ phát biểu về Phạm Duy. Ngày nào nơi nào mà lời ca Phạm Duy còn ở trên môi chúng ta thì ông vẫn sống.... Như Phạm Duy đã nói trong tiếng cười năm xưa. Và tối hôm nay ông sống với mọi người.

Con gái nhà báo Lê Đình Điểu là Ysa của VAALA, con gái nhà thơ Trần Dạ Từ là Hoà Bình của Việt Báo, con trai nhà văn Doãn Quốc Sĩ là Doãn Hưng, cùng Bích Liên và Quỳnh Giao đã hợp sức cho buổi gặp gỡ. Dương cầm thì có Diễm Uyên, Quốc Vũ, Hoàng Công Luận, guitar là Doãn Hưng, vĩ cầm là Hoàng Công Luận. Góp tiếng giới thiệu là Ysa và Đinh Quang Anh Thái, linh hoạt như thời Du Ca hay lãng mạn như quán Anh Vũ năm xưa.

Tiếng hát thì của mọi người.

Chỉ vì từng người đều lâm râm hát theo Bá Thành, Bích Vân, Doãn Hương, Phương Hà, Mộng Thủy, Lê Uyên, Lê Hồng Quang, Phạm Hà, Phạm Đăng Khoa, Bích Liên, Quỳnh Giao và nhóm hợp ca từ đoàn Ngàn Khơi. Có vài người giờ chót không đến kịp thì chắc là đang xem lại trên You Tube....


Chương trình mở đầu với trường ca Con Đường Cái Quan, từ Ải Nam Quan đến Cửu Long Giang và Đường Đi Đã Tới, rồi mọi người cùng hát chung bài Hát Với Tôi Nào. Ai cũng muốn giơ tay đánh nhịp mà thật ra để dằn xuống sự xúc động của con tim. Đến bài Kỷ Niệm do Quỳnh Giao giới thiệu và trình bày thì người ta lặng im vì thổn thức. Đây đó có những khuôn mặt đẫm lệ do những kỷ niệm từ thuở ấu thơ cứ trào dâng từ lời ca.

Rồi tiếng hát Bá Thành trong Tình Hoài Hương đầy chất dân ca cải biên hòa nhập cùng Nghìn Trung Xa Cách theo lối diễn tả rất mới lạ của Bích Vân, và Nương Chiều u uẩn hùng vĩ đã tỏa khói lam từ giọng ngân của Phạm Hà. Mộng Thủy hát câu Tạ Ơn Đời và lời Hẹn Hò với tiếng dương cầm Quốc Vũ.

Mọi người đều cúi đầu với bài Đại Nguyện trong loạt Đạo Ca rồi vùng lên hát Giọt Mưa Trên Lá. Trong gian phòng ấm áp, người người cùng ngây ngất hát tiếng Xuân Ca, Bà Mẹ Quê....

Ngay giữa chương trình, một đoạn phim ngắn đầy hình ảnh cảm động về Người Tình Già được chiếu thẳng lên tường. Đoạn phim này, nhiều người muốn giữ để xem lại mãi con đường sáng tác rầt dài, đến 70 năm, của một người nghệ sĩ đã nổi trôi cùng mệnh nước trong 93 năm.... Ở Phạm Duy thì không chỉ có cả ngàn lời ca hay ngàn bài ca mà một khối lượng đồ sộ những ca khúc nghệ thuật đa dạng và nhất là cách sử dụng chữ nghĩa mà nhiều nhà thơ vẫn còn muốn học.

Tối hôm đó, một số tác phẩm nghệ thuật như Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà với lời thơ Hữu Loan, Quán Bên Đường với lời thơ Trang Thế Hy do Bình Nguyên Lộc giới thiệu cho Phạm Duy, và hai tuyệt chiêu Đường Chiều Lá Rụng cùng Tình Ca đã được Lê Hồng Quang, Phạm Đăng Khoa, Quỳnh Giao và Bích Liên lần lượt trình bày.

Cuối cùng bài Mẹ Trùng Dương trong trường ca Mẹ Việt Nam do tốp ca Ngàn Khơi trình bày đã bắt đúng nhịp tim mọi người khi chung khúc Việt Nam Việt Nam nở tung từ lồng ngực từng người. Người viết này không thuộc hết tên của các anh chị em Ngàn Khơi, như Nhuận, Sương, Hiển, Phan Uyển Nghi,…. Chương trình kết thúc trong ba giờ đồng hồ, nhưng lời ca Phạm Duy vẫn theo đuổi và váng vất suốt đêm....

Ngày xưa, hỏi ông vì sao chung khúc của Mẹ Việt Nam lại hai lần "Việt Nam Việt Nam" như vậy? Phạm Duy trả lời, cứ nửa đùa nửa thật theo lối của ông. Rằng vì có hai nước Việt Nam ở hai miền! Bây giờ có lẽ chỉ còn một, duy nhất, ở trong tim từng người. “Nhạc xây tình người” là như vậy...

Nguyễn-Xuân Nghĩa

Ý kiến bạn đọc
06/02/201302:56:46
Khách
Michael Jackson cua VN.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.