Hôm nay,  

Còn Gì Nữa Đâu!

11/02/201300:00:00(Xem: 6621)

Trái đạn đại bác nghiến răng tử thần xé không gian rít dài từ xa, bay qua xóm nhà lá, rớt chụp xuống khu cao ốc bên kia đường. Hùng dửng dưng đứng nhìn đám bụi khói bựng lên cùng với cái chuyển mình xuống của toà nhà. Hình ảnh chết chóc đã trở thành thường tình. Những căn nhà chung quanh lần lượt biến thể dưới bước chân hung thần khổng lồ. Công trình xây dựng đối diện giấc mơ quyền thế. Nhân loại chìm ngập dưới cơn hồng thủy bạo lực. Những gia đình chết chẳng toàn thây như kiếp trước phạm tội tày trời giết cha hại mẹ. Tấn tuồng lập lại quen thuộc đến nhàm chán thị giác. Tấm thảm máu phải trải dưới bước đi vinh quang của những kẻ tập tành chơi trò thay đổi bước đi lịch sứ.
Hùng quẹt mồ hôi lấm tấm trên trán chống xuổng xuống đất, buồn cười nghĩ đến chuyện mình đang làm. Đào để trốn sự sợ hãi. Yếu đuối, bất lực nên bằng lòng với sự che chở của rủi may. Lời than thở của hai người láng giềng bên kia hàng rào về tính chất vô nhân của sự pháo kích khiến anh cảm thấy chuyện đào hầm như trò hề rẻ tiền không chọc được cười ngay cả đám khán giả dễ tính. Vô ích thôi. Ai nghe? Chiến thuật chiến lược đi kèm với bản chất. Làm sao bảo một em bé gái thay trò chơi búp bê, bán hàng bằng trò bắn bi, u mọi? Từng cục đất bự được xắn liệng lên miệng hầm. Cái lỗ nhỏ xíu, giờ đã lớn rộng. Chỉ cần lót bộ ván ngựa lên nữa thì sẽ thành một cái hầm hết xẩy. Hùng tự thưởng mình bằng nụ cười. Anh vô nhà khệ nệ bê một tấm ván ra rồi trở vô kiếm búa, kềm, xà beng, nạy một tấm tôn đang che dàn bếp kéo lê lết ra chỗ miệng hầm. Bà chủ nhà bên kia hàng rào bông bụp nói chõ qua:
“Cậu Hùng tới bây giờ mới làm hầm à? Nhắc cả tháng nay mà cậu có nghe đâu. Mấy cậu đàn ông thanh niên ỷ tài ỷ tận lắm. Có bề gì rồi đổ thừa tại số, tại phần ... .”
Người đàn bà liếc mắt lượng giá công trình trước mặt:
“Cạy lấy hết mấy tấm tôn đi, chồng lên cho chắc. Thời buổi này ... .”
Hai người không ai bảo ai đều đưa mắt theo dõi mấy tàn lửa thông điệp của sứ giả tử thần đang bịt kín một khoảng không gian.
“Có sao không cậu Hùng? Người ta chạy qua Mỹ, qua Úc tùm lum tà la. Tui sốt ruột ghê mà không biết chạy đi đâu. Muốn dìa Cần Thơ, miệt quê ngoại xấp nhỏ ở đâu độ vài bữa cho yên rồi lên. Tía xấp nhỏ biệt tăm biệt dạng cả tháng nay, mẹ con tụi tui như cụt tay cụt chưn không biết đường nào mà mò. Ở đây hồi hộp quá.”
Hùng thẳng lưng lên, nghỉ xương sống, nhìn từng bựng khói xa xa, sau tiếng hoả tiễn hú như bò rống.
“Cháu cũng hỏng biết có sao không nữa. Sài Gòn còn hỏng yên miệt dưới làm sao yên được. Thời buổi này di chuyển khó giàng mây. Dì lại có mấy em nhỏ.”
Sự thất vọng hiện rõ trên gương mặt người đàn bà.
“Chắc cũng hỏng tới nỗi nào đâu. Nhằm nhò gì. Sài Gòn rộng lắm. Vài bữa nữa tụi nó hết đạn cho mà coi. Nói đúng ra, họ đã dàn xếp đâu đó xong xuôi rồi ... Đâu có chuyện thua ngon lành vậy. Dì nghĩ coi, Nam Vang nhỏ bằng bụm tay, quân đội ì ạch, súng đạn cũ mèm còn chống cự được cả tháng ... Nói cùng mà nghe, Sài Gòn mình nếu có thua thì ít nhứt cũng phải sáu tháng nữa ... .”
Ánh mắt trách móc chém ngang mặt Hùng:
“Nói như cậu cũng như không. Rồi tui biết chạy đi đâu? Nghe nói ở Ban Mê Thuột, tụi nó bắt bên mình đem ra sắp hàng bắn bỏ trả thù lềnh khênh.”
Hùng nựng má thằng nhỏ vừa mới chạy ra nắm áo mẹ:
“Nói thì nói vậy, chứ trong sáu tháng đó, biết bao nhiêu là nước chảy qua cầu. Có thể mình được đồng minh tiếp viện cũng không biết chừng.”
Dì Sáu mở cờ trong bụng:
“Ờ hé, cậu nói tui mới thấy. Hỏng lẽ mình hỏng có ai binh hết trơn hết trọi sao?”
Dì ẵm đứa con lên, kéo vạt áo hở rún nó lên chùi mũi nó.
“Nhưng mình phải lo làm sao để sống tới đó. Pháo kích liên tu bất tận kiểu này bà con ở nhà lá như mình có môn ngáp sớm. Nhà lầu, hầm bê tông cốt sắt còn chưa thấy gì ... Huống hồ ... .”
Dì chuyển ánh mắt khỏi căn hầm:
“Tui nghe thằng Chín lơ xe đò nói tụi kia đương đào công sự ở xa lộ, chỗ nhà máy xi măng Thủ Đức. Nó phải chạy dìa bằng đường trong. Ngã Bình Triệu. Sợ bị chơi trò lùa dân đi trước đỡ đạn như mấy chỗ khác .”
“Dạ ... mà một hai thằng nhằm nhò gì. Tụi nó làm gì đi mau dữ vậy được. Mới hôm qua còn ở Biên Hòa mà. Bộ bên mình chết tiệt hết rồi sao?”
Hùng nhấn mạnh chắc nịch câu xác quyết kết luận.
“Hỏng tới nỗi nào đâu. Dì đừng sợ.”
Người đàn bà chụp câu nói như vồ một cái phao.
“Nói vậy tui khỏi dìa Cần Thơ hả cậu?”
Hùng làm thinh, rảo mắt trên khung cảnh điêu tàn.
Hỏa tiễn vẫn liên tục rú trong không gian, phì phèo những âm thanh chết chóc. Thần chết đang dạo bước lãng du kéo dài lưỡi hái vô tình trên đầu mọi người. Tiếng súng cối ùm ọc, tiếng chắc bụp, tiếng M-16, AK hoà nhịp nổ rền. Âm thanh vỡ của địa ngục trong bản luân vũ ác thần. Nhà cửa im lìm. Không khí căng thẳng, ngưng đọng, cần phải ra đường nghe ngóng tình hình. Ở trong cái rọ giữa xóm, sự sợ hãi càng lúc càng tăng gia. Hùng đi ngòng ngoèo trong xóm, dòm trước dòm sau, lần theo những vách lá đang nép mình sợ hãi, bước ra đầu ngõ. Một đám đông đang lấp ló trước hẻm. Anh rùng mình. Bên kia đường hai xác chết cạnh một chiếc xe xích lô chỏng gọng. Mấy con ruồi xanh vo ve lên xuống bên tặng phẩm bất ngờ. Bốn cái chân ngã sang màu xanh tím lạnh lẽo, thò dưới tấm nylon đấp điếm sơ sài. Hùng ngó chỗ khác, nín thở. Người qua lại rảo bước mau không muốn quấy động giấc ngủ kẻ không may ...
Một người hàng xóm chận Hùng lại nghẹn ngào:
“Bên mình đầu hàng rồi.”
Một ngọn gió lạnh buốt giá thổi qua bầm nát mặt Hùng.
“Cậu bước vô nhà thằng Tư nghe ra-dô đi. Ông Minh tuyên bố rồi.”
Hùng bàng hoàng tột độ, không buồn ngó theo dáng đi thất thểu của ông ta, hai tay buông thõng đong đưa trong không khí. Tiếng ông Tổng Thống trật thời trầm trầm như tiếc thương thân phận: “Mời mấy bạn bên kia ngưng bắn, về đây thảo luận việc trao quyền..."
Những bước chập choạng trong trạng thái mơ ngủ dẫn dắt Hùng. Tất cả băng giá trên địa cực đổ xuống đầu anh, phủ trùm kín mít. Mọi vật mờ nhạt. Những giọng nói hớt hãi, những lời bàn tán ngại ngùng vo ve như tiếng ong vù, ồn ào như buổi tan học, mơ hồ như gió thổi vào cành tre, vi vu, ríu rít mong manh, chập chùng giữa không và có. Thế là hết. Miền Nam không còn nữa. Chúng, bắt đầu từ giờ phút này thành kẻ thắng trận. Bao nhiêu máu đổ trở thành vô ích. Bao nhiêu nỗ lực chống đỡ tan biến bọt bèo. Những người cầm súng trước đây rồi sẽ ra sao? Những gì sẽ tới với minh, với những người dân ngây thơ yên phận sống sót giữa hai lằn đạn tương tranh?
Hùng thừ người. Nỗi thất vọng đè bẹp anh. Kiệt sức, trống rỗng, hụt hẫng, chới với xuống vực sâu không đáy. Trí óc lờ mờ, đặc sệt chất keo, lú lẫn, ngơ ngác như gà con lạc mẹ.
Tiếng súng lơi dần rồi dứt như điệp khúc mưa sắp tạnh. Đường phố trong chớp mắt tràn đầy tiếng động ồn ào, vội vã, tuyệt vọng của các loại xe, đôn đáo cùng khắp. Xe hơi, xe gắn máy, Vespa, Honda, xe đạp, xích lô, ba bánh. Mọi người túa ra đường nhớn nhác, láo liên. Phải ra khỏi nhà. Phải gặp bất cứ người nào để khỏi nhìn khung cảnh buồn thảm chung quanh. Khỏi đối diện với chính mình. Khỏi lo lắng cho số phận. Đường phố càng chật ních, sự đổ xô càng quýnh quáng. Ra đường bồn chồn. Hội nhập nhắm mắt, tránh né cảm giác tuyệt vọng. Những người lính rã ngũ, chân không, áo thung, quần đùi, hớt hơ hớt hãi xin một cái quần, một cái áo. Những câu an ủi xúc động. Những nắm tiền chia xẻ dúi tận tay. Những giọt nước mắt thông cảm. Thỉnh thoảng một tiếng súng lục nổ, tan loãng trong âm thanh hỗn tạp của giờ tận thế. Đoàn người dãn ra rồi túa lại chiêm ngưỡng thương xót người hùng. Những cặp mắt trầm trồ thân thiết. Những dấu thánh giá được vẽ trong không gian. Những bàn tay nâng niu sửa lại thế nằm. Những cái vuốt mắt thành kính. Hùng muốn bật khóc. Mới đây, họ là thành trì, là niềm kiêu hãnh của mọi người, giờ đây riêng họ gánh chịu những thua thiệt không thể mô tả. Hoặc tủi nhục, cuống cuồng đào thoát trong vô vọng với tâm trạng lửa rừng vây bốn phía, hoặc tuẫn tiết với niềm thất vọng vô bờ. Riêng mình. Cô độc.
Hùng bước mau về nhà. Hối hả. Khác với buổi sáng lúc ra ngõ thật chậm, cẩn thận. Cái hầm nằm chênh hênh, trơ trẽn, vô duyên, như người con gái buôn hương trong dáng đi tìm cái thau để rửa. Tấm tôn phủ hờ phía trên chừa một lỗ tối om khiêu khích. Anh cúi xuống lượm cái xuổng quăng vô một góc nhà, lúi húi đẩy xe ra. Chiếc Vespa mắc dịch cả tuần nằm ụ cứng đầu không chịu nổ máy, xịt xịt vài cái rồi im thin thít. Chỉ còn một lớp xăng mỏng tráng dưới đáy bình. Anh nghiêng xe sát xuống mặt đất, đạp mạnh. May quá, xe nổ dòn tan. Đầu hẽm lúc này đông như hội đang lao nhao chỉ trỏ bàn tán. Chiếc Vespa gia nhập vào giòng thác xe cộ hoang mang của giai đoạn giao thời, chập chờn như đoàn quân ma rảo bước dạo trần thế tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhơn.
Bản năng và tiềm thức đang hướng dẫn Hùng. Thế giới thực tại vẫn hiện hữu nhưng hình ảnh đã tan biến không còn in trên võng mô ai. Vũ trụ biến thành chất lỏng không màu, trong suốt không thể tác động được lên tri giác khi phần đất thương yêu bị giải thể. Câu tuyên bố "Yêu cầu binh sĩ VNCH các cấp ngưng bắn, tập trung về một nơi ... ” như một bản án tuyên xử tử hình đối với mọi người. Lời thơ của người nhạc sĩ phản chiến như một sự mai mỉa triền miên: “Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm từng nhà, tôi sẽ đi thăm từng làng ... ” Hùng bực bội rú ga mạnh hơn. Lách, lạng như những anh hùng xa lộ phóng trong nước rút.
Chưa chắc, chỉ là ước mơ chủ quan. Chiến tranh đồng nghĩa với ngăn cách, thù nghịch. Hòa bình sẽ đủ điều kiện kết lại tình người. Nhưng sao phải theo kiểu “từ Bắc vô Nam nối liền cánh tay " mà không ngược lại ? Đánh vào lòng người quá ê chề vì chiến tranh, cố tình quên những yếu tố khác để đòi hỏi một điều ngụy trá. Hoà bình còn bao nhiêu vấn đề cần phải đối phó đâu để đi thăm từng nhà, từng làng? Trò chánh trị bịp bợm của lãnh tụ ngày xưa, lần này được nhai lại bằng âm thanh và tiếng hát ru ngủ người nhẹ dạ. Giờ đây mọi chuyện đã lỡ. Tấn tuồng đã vãn. Chiến tranh đã tàn. Thành đã bị hạ. Dân chúng dầu có được hàng triệu lời chiêu an, vẫn không tránh thoát giai đoạn chuyển tiếp. Và biết bao nhiêu cảnh thành cháy vạ lây, ngọc thạch câu phần!
Xe ngừng trước căn nhà quen thuộc. Khóa công-tắc xong mới lấy làm lạ sao mình được an toàn tới đây trên con đường đầy rẫy xe cộ loạn xạ như vừa rồi.
Cửa sắt đóng, cửa bên trong khép hờ ... Một đôi mắt đen lóng lánh lấp ló qua khe hở. Đẹp thân thiết, như buổi bình minh hiu hiu gió mát, đầy tiếng chim líu lo trên cánh đồng mạ xanh lất phất. Tiếng reo mừng thật tươi, ngọt ngào đánh bạt mất những bực bội trong lòng người đối diện.

Gió trời ngào ngạt thổi tắt phụp cả vũ trụ đang sôi lửa. Câu nói giọng cười đem đến sự tươi mát như cây cỏ hưởng cơn mưa đầu mùa sau bao tháng dài chịu đựng nắng hạn. Ánh mắt đó, nụ cười đó, quen thuộc, gần gũi. Đôi mắt to ươn ướt khi ngạc nhiên có khả năng hớp hồn những quả tim non vụng dại. Nụ cười, không ai khỏi xốn xang. Cả nửa tháng nay không gặp. Mọi người bận rộn với công việc riêng tư (dường như giai đoạn rẫy chết của đất nước cuốn hút mọi người vào những công việc cuối cùng phải giải quyết). Anh nhìn thẳng vào mắt người yêu cố gắng đè nén xúc động:
“Chắc em biết rồi. Ổng Minh vừa tuyên bố đầu hàng. Chúng sẽ vào thành phố trong một hai tiếng đồng hồ nữa. Miền Nam đã chết thực sự, không còn hy vọng gì.”
Người con gái đứng thẳng, một tay đưa lên vén mớ tóc mai, tay kia buông thõng với tờ báo phát hành hôm trước.
“Hương nghe rồi, buồn thiệt anh hé. Ồ, anh ngồi chơi. Gì đâu mà phải đứng? Ánh mắt dịu vui tươi, nụ cười thật thanh bình. Có gì không ổn. Sự hòa hợp lạc điệu giữa câu nói bình thường và hoàn cảnh nước nhà. Anh miễn cưỡng ngồi xuống ghé, dáo dác ngang dọc, cố đoán ra điều khác lạ đang lờ mờ cảm thấy. Hương ngồi xuống ghế đối diện, thân mật:
“Anh đừng buồn nữa. Chế độ nào rồi thì mình cũng là dân, sống trong chế độ chớ mấy ai lựa chọn chế độ đâu.”
Hừng nhìn thẳng vào mắt người tình. Đôi cánh bướm chớp chớp tuyệt vời, hai viên ngọc đen huyền long lanh, ướt át. Đôi mắt kéo thời gian trở về hai năm trước, đã làm mát cái nóng cháy da buổi trưa gặp lần đầu lúc tình cờ cùng bước vào thư viện Lincoln.
Ngoài đường vọng lại âm thanh quái đản xô bồ. Tiếng cãi cọ giành giựt mấy bao gạo, bao đường chen lẫn với tiếng xích sắt của đoàn thiết giáp lạ mặt đang nghinh ngang nghiến nát đường phố bỏ ngỏ, vô chủ.
Tay Hùng bỗng cảm giác mát ấm, bàn tay nàng đã đặt lên, anh chồng tay kia lên. Hương cười ngỗ ngáo giấu tay còn lại xuống dưới bàn, giống như trước đây lúc ngồi quán kem Mai Hương chơi trò tình yêu học đường.
Một cái bông huệ trong lục bình trên đầu tủ buffet rơi xuống thêm vào đám bông tàn héo úa rải rác trên tấm khăn bàn bằng chỉ móc. Hùng rút tay ra phác một cử chỉ thất vọng:
“Kinh nghiệm lịch sử cho anh tiên đoán họ sẽ có những biện pháp ... .”
Hương thay đổi lại thế ngồi, đôi chân tréo lên nhau, quần sa tanh đen mịn, mướt óng hằn rõ sự mạnh khoẻ, tròn trỉnh giấu dưới đó. Giọng nàng thật gợi cảm:
“Má em cũng nói như anh. Em thì em cho rằng sau chiến tranh họ cần dân chúng để xây dựng. Vua Quang Trung ngày xưa còn cho hàng binh Mãn Thanh phục vụ trong quân đội của Ngài. Họ và ta cùng là dân Việt ... .”
Nụ cười thật tươi được dùng để chấm câu bộc lộ niềm tin mãnh liệt. Hùng vói tay vặn nhỏ chiếc máy phát thanh đang ra rả những bản nhạc hùng quen thuộc mỗi khi có biến động, lòng bất chợt thương hại người yêu ngây thơ dùng thiện lương để lý luận về một vấn đề chánh trị.
Nhà sau vắng vẻ, lặng trang, Hùng lơ đãng nhìn về phía cửa buồng nàng, trêu chọc:
“Em cho anh miếng nước. Khách tới nhà cả giờ đồng hồ bỏ chết khát không nước nôi chi hết, chi lo cãi nhau xuông.”
Nàng kéo tay anh đứng dậy:
“Em xin lỗi anh nhé. Vào nhà sau với em. Em chiên cơm anh ăn. Mình nói chuyện trong lúc ăn. Má em sang nhà bà con bên cạnh nãy giờ.”
Bàn tay nàng mát rượi, mùi thơm thoang thoảng. Trong lúc Hương hơi cúi xuống, chàng khẽ liếc về chỗ áo hơi rộng cổ. Quen thuộc, nhưng sao như vô cùng mới lạ, bí ẩn, ngây ngất. Hai người đi sóng đôi ra nhà sau. Anh choàng tay qua cái lưng ong xinh xắn. Tim đập mạnh. Mỗi lần chạm đều bị cảm giác này. Mời gọi nhưng hồi hộp, hấp dẫn nhưng ngại ngùng. Có cái gì cao sang nghiêm nghị ngăn chận anh khỏi những tính toán trai lơ. Tay hạ thấp xuống hơn. Thịt chắc dội thốn tim. Hương không gỡ ra cũng không phản đối. Máy thu thanh nhà bên cạnh oang oang lời kêu gọi của những kẻ trở cờ mau nhất. “Xin đồng bào hãy bình tĩnh, hãy tiếp tay với chính quyèn cách mạng, cương quyết vạch mặt những tên phá hoại ... .” Hừ, giáo sư này, giáo sư nọ. Giờ này mới biết lòng dạ họ. Kẻ trở cờ, kẻ nội thù. Anh chợt rùng mình. Biết đâu Hương cũng vậy. Bộ mặt đẹp đẽ dễ thương đó biết được, thấy được, nhưng còn những gì nàng nghĩ? Hình ảnh một thanh niên đang ôm trong tay người tình trẻ trung một phút sau quay lại thấy vòng tay mình choàng ngang cái thây ma nhơ nhớp. Một luồng hơi lạnh chạy trong xương sống. Anh giật mạnh tay như chạm phải luồng điện cao thế. Hương nhìn lên, mắt tròn ngạc nhiên, ranh mãnh phát nhẹ vào vai người tình:
“Mẹ chưa về đâu. Anh ngồi xuống đây. Em sửa soạn thức ăn. Rầu anh quá, sao bi quan vậy không biết!”
Hùng máy móc ngồi xuống, uể oải, không đính chánh, đưa mắt dò xét bao quát. Có gì là lạ trong sự bình thường và nhí nhảnh này. Nước mất, mọi người như chó mất chủ, số phận chưa biết ra sao. Chiến tranh tàn trong bi đát. Một sự đổi thay chua xót và đớn đau. Chịu đựng và ậm ọe, thu mình và hống hách. Tay không và súng đạn. Mặc cảm và thù nghịch. Thế mà ...
Thức ăn được nâng niu bày biện lên bàn. Nàng gắp một miếng thịt gà âu yếm đặt trên chén cơm, mở tủ lạnh lấy chai nước ngọt, kéo tủ loay hoay tìm cái mở nút chai.
“Chấm dứt tình trạng thù nghịch tự nó là một điều tốt. Giả tỉ miền Nam thắng trận cũng vậy thôi, cũng áp đặt thể chế Cộng Hoà, bắt mấy thằng Việt Cộng giam lại ... .”
Hùng cười, hai tay hai chiếc đũa đặt tréo dưới cằm, một ngón tay trỏ đưa lên môi:
“Nè em. Không thể giả tỉ ở đây được. Phải nhìn nhận sự thực. Chiến tranh cổ điển theo kiểu hai mươi năm vừa qua đã kết thức, nhưng một hình thể mới lại bắt đầu. Mục tiêu vẫn chỉ là áp đặt lý thuyết của họ.”
Nàng hớp từ ngụm nước lộ vẻ suy nghĩ, hai đầu chân mày nhíu lại gần nhau, trán nhăn nhăn. Hùng rờ mu bàn tay bạn gái, vuốt vuốt mấy ngón tay búp măng sơn màu cam dịu. Tiếng động ầm ầm của đoàn xe Molotova ngoài kia rung chuyển căn nhà gợn sóng lăn tăn ly nước trên bàn, những giao động nhỏ nhoi nhưng nhói tim như địa chấn nhẹ mở đầu những cơn động đất trời long đất lở kế tiếp.
Lâu lắm Hương mới nói, thật chậm:
“Anh không tin ở chính sách hoà hợp hoà giải. Anh cũng không tin ở vai trò của lực lượng thứ ba?”
Hùng châm thuốc, thớ ra một cụm khói đen đặc, nheo mắt châm chọc:
“Khi đã thành vợ chồng, em có đồng ý để anh yêu một phần, còn một phần yêu cô nào khác không?”
Bắp tay Hùng bị véo thật mạnh:
“Anh muốn nói không khi nào có chuyện trung lập?”
Một nụ cười tinh quái:
“Anh không bao giờ tin tưởng ở thiện chí, ở tánh bổn thiện. Anh là chúa hoài nghi.”
Hùng mỉm cười với mình:
“Nhưng anh không hoài nghi tình yêu của em. Bây giờ anh không hoài nghi về sự ngây thơ chính trị của em.”
Hương đi vòng quanh phía sau, châm nước cho người yêu. Anh nắm bàn tay xinh xắn đó. Ánh mắt nàng, hóm hỉnh tránh móc như người chị bao dung đưa mắt không bằng lòng đứa em nhỏ tham lam giành kẹo:
“Cơn bịnh trầm kha của đất nước cần phải được chữa trị bằng liều thuốc mạnh. Anh xem, bao nhiêu là thối nát, tham nhũng, nghèo đói, dâm ô, sa đoạ, lai căng, hưởng thụ, ích kỷ … .”
Hùng chồm lên đặt một cái hôn trên đôi môi cắn chỉ. Thơm ngát, ngây ngất. Hương trinh nữ, mùi hoa dạ lý toả ra khắp phần không gian nhỏ của căn phòng. Ngoài kia, nắng lung linh bay nhảy trên mọi vật. Lần nào cũng ngon như lần đầu vụng dại e thẹn trên chóp núi Bửu Long một buổi chiều dịu nắng sau sáu tháng quen nhau..
“Phương thức chánh trị nào cũng bất toàn. Phải nhìn trên bản thể những sự kiện đã đem đến khuyết điểm đó..
Hùng kéo sát Hương vào mình hơn, hơi ấm truyền sang ngực anh.
“Hương, chúng ta phải thực tế. Cuộc đổi ngôi nào cũng đem theo nhiều xáo trộn. Anh muốn chúng ta vượt thoát khỏi Việt Nam. Phải đi, không thể ở lại được.”
Đôi mắt người con gái tròn xoe. Môi chim chím. Chân mày nhíu hằn những vết thật sâu ở tam tinh. Xúc động mãnh liệt. Ngạc nhiên tột độ. Lời đề nghị đi ngoài dự liệu. Lâu lắm, nàng mới chậm rãi gỡ tay ra trả lời, giọng thật buồn:
“Nhưng như anh thấy, em còn mẹ già, còn anh chị, còn quê hương. Nói mà không sợ anh chê khách sáo, em trọng gia đình, yêu quê hương. Nhất là quê hương. Em thấy mình thân thiết với từng con đường, từng bảng hiệu trên đường phố, từng gốc cây, từng căn nhà. Em không thể xa đất nước này được. Xứ mình, mình ở, hơn là ở trọ quê người.”
Một bông hoa huệ rớt nữa xuống thêm vào mấy cái trước tàn úa, đen xám. Vai Hương bị nắm chặt lắc mạnh, đau điếng. Đôi mắt Hùng nhìn thẳng vào mặt người yêu, chòng chọc như muốn lòi ra:
“Em hãy nghĩ kỹ xem vì những thứ đó nên em ở lại hay ở lại cho những lý do đó?”
“Chưa bao giờ em dám nghĩ đến chuyện thiếu anh trong cuộc đời em.”
Hùng ôm chặt bạn vào lòng. Hai giọt nước ấm vừa lăn xuống đã được anh bôi nhẹ. Ánh nước phản chiếu sáng loáng phía dưới mắt người thiếu nữ. Nụ hôn thánh thiện trong sáng được đặt vào đó. Đóa hồng hé nụ bằng lòng thật trẻ con nở trên gương mặt gượng vui.
“Nhưng em có biết rằng em đang thuộc về một tập hợp ngoài tập hợp của họ không?”
Hương gỡ tay Hùng, giọng thật buồn:
“Tất cả đều là con dân nước Việt. Vả lại, em nóng lòng gặp mặt cha em. Em chưa được gặp người từ ngày lọt lòng mẹ đến giờ ... .”
Một cái búa tày xồi dộng vô ngực Hùng. Cảm giác khi nghe lời tuyên xử tử hình đất nước vừa qua cũng chỉ đến vậy thôi. Tất cả đã rõ ràng. Nàng bị ảnh hưởng của tình gia tộc. Đã lầm lẫn giữa người cha và chính trị. Đã để ảo tưởng ảnh hướng dẫn nhiệt tình.
Chàng lao đao, quay mòng như rớt xuống hai tầng sâu thẳm tối om. Mất nước, mất người yêu. Bóng ma lạc loài biền biệt hai mươi năm bỗng hiện về hành hạ. Cha. Cha. Cha. Chắc không ông ta sẽ nhìn nàng? Chắc không một người đã để tình cảm đóng bụi một thời gian đằng đẳng như vậy sẽ hy sinh mình nhìn nhận các anh chị nàng?
Rồi sẽ thất vọng em ơi. Bầy sói kia sẽ cắn cổ em không thương tiếc. Người em mong gặp trong mấy chục năm nay đã không có một giây phút nào nghĩ tới em. Sự khác biệt vĩ đại giữa hai đàng về giá trị con người, về những nguyên tắc đạo đức ...
Người con gái ngồi im lặng, tay chống càm, ngó Hùng nhoè nhoẹt qua làn nước mỏng. Anh nhìn lại mình: Cô đơn, trơ trọi, bị tước đoạt hết cả, quê hương, tình yêu, và chắc chắn rồi đây tuổi trẻ cũng bay theo hoàn cảnh mới ... Bên tai anh mơ hồ tiếng nhạc hoà điệu bài ca sầu thảm tuyệt vọng đến nhức nhối: "Còn gì nữa đâu mà khóc với sầu ... còn gì nữa đâu mà buồn với nhớ ... thôi hết rồi, thôi hết rồi ... .” Trong trí anh hình ảnh của chính mình, đen đúa, rắn rỏi, bộ đồ trận rách bươm, vài món đồ thiết dụng trên vai, tay súng lăm lăm, tuôn bờ vượt suối trong những vùng hẻo lánh Ba Thê, Bảy Núi, Kon Tum, Bồng Sơn, Bình Giả ...
Tiếng súng do bọn trẻ tò mò, phá phách ngoài kia vẫn tiếp tục nổ đều, náo loạn, vô duyên.
Những giọt nước mắt nhỏ xuống thật mạnh trên bàn nghe rõ mồn một ...
Nguyễn Văn Sâm
(Texas, 1981_ Trích tập truyện Câu Hò Vân Tiên_ Gió Việt, Texas, 1985)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.