Hôm nay,  

Người Tình

03/04/201300:00:00(Xem: 6646)
“Người tình” là tựa đề cuốn phim LAmant (The Lover) do đạo diễn Pháp Jean-Jacques Annaud thực hiện cách đây hơn 20 năm. Kịch bản dựa theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của Marguerite Duras xuất bản và đoạt giải thưởng văn chương Prix Goncourt năm 1984. Marguerite (1914-1996) sinh ra ở Gia Định, ngoại ô Saigon vào thời thuộc địa Pháp. Truyện phim chính là cuộc đời của tác giả, bà có tên thật là Marguerite Donnadieu. Để thực hiện cuốn phim, Annaud đã phải tung quảng cáo khắp nước Anh và Mỹ để tìm diễn viên thích hợp với Marguerite ngoài đời nhưng cuối cùng Laurence vợ của đạo diễn tình cờ khám phá ra Jane March top model xuất hiện trên bìa Just Seventeen Magazine ở London.

Cô bé Jane March xinh xắn 52” (1.57m) vừa 16 thì được chọn đóng cùng với tài tử Hong Kong Tony Lueng Ka Fai 33 tuổi. Thân phụ Jane là người Anh gốc Tây Ban Nha và mẹ là người Việt gốc Tầu. Tuy thế, nhìn cô tôi không thấy nét Á châu ngoại trừ dáng dấp thon nhỏ. Cô được mời đến Paris để diễn thử vào dịp sinh nhật 17 tuổi nhưng phải chờ 2 tháng trước năm cô 18 mới bắt đầu quay phim bởi vì nội dung có nhiều pha ân ái nóng bỏng không hợp với tuổi vị thành niên. Dẫu vậy, ban điều hành vẫn phải dùng đến 5 nữ diễn viên giả (body doubles) để thay cô đóng những cảnh làm tình mùi mẫn và 2 người nam thay Tony Lueng. Cử chỉ ngây thơ của cô bé Jane March vào lứa tuổi mới lớn đóng phim tình nóng bỏng đã làm thế giới yêu chuộng nghệ thuật thứ 7 tò mò và phỏng đoán cô đã thật sự diễn những pha ái ân trên giường với Tony Lueng. Được hỏi qua các cuộc phỏng vấn, đạo diễn Annaud làm thinh để cố tình quảng cáo cho cuốn phim của mình thêm phần sôi nổi. Sự việc đã làm Jane tủi hổ và cả hai không nhìn mặt nhau trong suốt 10 năm! Khi cuốn phim hết ăn khách, đạo diễn mới chính thức lên tiếng phủ nhận sự việc và xin lỗi cô nhưng đã có biết bao hiểu lầm...

Cốt chuyện giản dị! Hai nhân vật chính, một ngây thơ như chim ra ràng, một từng trải trong giới thượng lưu... Tình cờ gặp rồi yêu nhau và đắm chìm trong xác thịt như những gì Marguerite Duras đã nếm mùi khi bà là cô bé 15 tuổi, cha mất sớm, ở với mẹ buôn bán thất cơ lỡ vận và người anh rượu chè hung dữ đánh đập cô. Tuy lạc lõng giữa chợ đời ở một đất nước xa lạ miền Viễn Đông vào tuổi dậy thì nhưng cô học giỏi và mang giấc mộng lớn một mai trở thành văn sĩ. Trên chuyến phà qua sông trở về trường học sau những tháng hè ở miền quê, cô gặp một công tử người Tầu bề ngoài lịch lãm điển trai... Thế là câu chuyện tình khởi sắc từ những cử chỉ lãng mạn ban đầu tay nắm tay rụt rè đến những buổi hẹn hò vội vã ở căn nhà nhỏ khu phố Chợ Lớn để hai người đam mê yêu nhau hàng giờ.

Mặc dù nội dung có những pha nín thở, kéo khán giả ngồi bất động vì căng thẳng bởi sóng tình nổi dậy trong chính lòng họ tuy nhiên ở lãnh vực nghệ thuật đạo diễn đã thành công... Hình ảnh có sống sượng nhưng hai thân thể đẹp tuyệt trần của tạo hóa quyện vào nhau như lực nam châm đã để lại khung cảnh lãng mạn cho người xem pha lẫn ít nhiều tư tưởng gợi dục mà sẽ có kẻ đánh giá là tục tĩu! Phim có tính chất lãng mạn vì đã diễn tả trung thực mối tình mang nhiều nghịch cảnh: cô gái 15 nhỏ bé yêu người tình 27 cao lớn, tính ngây thơ bên cạnh nét từng trải, cảnh nghèo nàn đi đôi với giầu sang phú quý, văn minh Âu Tây chung đụng văn hóa Á Châu và cuối cùng trên tất cả là sắc mầu trong tình yêu của một cô gái mẫu quốc da trắng nằm trong tay người đàn ông thuộc địa da vàng.

Giới thiệu cuốn phim đến đây có lẽ đã đầy đủ, tôi xin tiếp tục với phần tản mạn. Bắt đầu là hai chữ ngạc nhiên... Ngạc nhiên với chính mình vì đáng lẽ xem xong “Người Tình”, tôi phải nhớ đến một thời vang bóng, thời gian đi học và đi làm bên trời Âu. Vài cuộc tình đến rồi đi lạnh lùng như năm dài tháng tận! Những chiều cuối tuần xa nhà, cô đơn trong căn phòng nhỏ ở một tỉnh lẻ, may mà có em, em đến thăm rồi ở lại... như một món quà nồng nàn sắc hương. Em đến thăm, áo em mang theo hình ảnh của bốn mùa, mỗi mùa một mầu áo và khi mùa đông về lạnh buốt, phải cởi bỏ nhiều lớp áo ngoài mới nhìn thấy làn da trắng. Kỷ niệm ấy với truyện tình trong phim có sự tương đồng giữa người con gái mắt nâu, tóc vàng sợi nhỏ và người thanh niên Việt nhưng dĩ vãng ấy lại không trở lại tức thì trong lòng tôi khi xem phim “Người Tình”.

Đầu tiên, tôi nhìn thấy trước mắt những cảnh tượng trong tranh vẽ của Trémois, “LArt dAimer” (nghệ thuật yêu) với những đề tài như “Metamorphoses” (sự biến thái), “Mythologies” (huyền thoại), “Etreintes” (sự ghì chặt)... Tất cả những sáng tác ấy mang hình ảnh “ Les Empreintes de lAmour” (dấu ấn của tình yêu). Họa sĩ Pháp Pierre-Yves Trémois được đề cử vào Lacadémie des Beaux Arts (Viện Hàn Lâm Pháp) năm 1978 đã vẽ những tác phẩm đi từ thổn thức của tâm hồn ông trước tình yêu và hoang mang với những câu hỏi kỳ bí đối với cuộc đời. Cuốn phim quay cảnh làm tình bộc lộ sự khắc khoải đè nén như một lạc thú đau thương mà con người không dễ dàng chế ngự trong lúc Trémois diễn tả toàn cảnh đứng ngồi của hai kẻ đang ân ái, siết chặt thân thể vào nhau như một sự cất cánh phơi phới (Envol) kèm theo đó hình ảnh y khoa học mà con người biết tìm nhưng chưa hiểu, vô số tinh trùng từng đàn bay lượn chung quanh noãn bào được vẽ bên cạnh bức tranh. Phải chăng nghệ sĩ đa cảm nên đa tình vì thế sáng tạo được những tác phẩm để đời? Họ bầy tỏ sự thật nguyên thủy rất đơn sơ nhưng cao quý, không dối lòng lừa phỉnh. Sự thật chính là linh hồn của sáng tạo!

Sự kiện tiếp theo trở lại ký ức của tôi là căn nhà nhỏ quay trong phim với lối kiến trúc thuộc địa ở Chợ Lớn mà hai người đã hẹn hò yêu đương. Nó giống căn nhà sát nách xưởng vẽ của thầy tôi, họa sĩ Tú Duyên 161 Nguyễn Công Trứ... Khu phố xưa có những hàng me lá nhỏ, lề đường chật hẹp nhưng buôn bán sầm uất, con đường không xa bùng binh chợ Bến Thành từ lâu đã là tâm điểm của Sài thành.

Thập niên 60, cơ thể tôi trên đà bộc phát, mụn trứng cá bắt đầu xuất hiện trên gò má và một tâm hồn ủy mị đầy cảm xúc bên trong. Lòng tôi sôn sao mỗi khi gặp người con gái mỉm cười quay lại nhìn... Tôi yêu rất vội, thoáng nhanh chỉ vì bốn mắt nhìn nhau! Thuở ấy, mỗi sáng chủ nhật, tôi đạp xe từ trường đua Phú Thọ đến nhà thầy trọ học, có khi ở lại xưởng để vẽ chân dung, có lúc về miền nông thôn mùi hương lúa bạt ngàn phác họa cảnh đồng quê. Căn nhà bên cạnh xưởng vẽ của thầy, tôi để ý lúc nào cũng cửa đóng then cài, trống vắng vì ít người lui tới giống như ngôi nhà của chàng công tử người Tầu trong phim chỉ dùng đến mỗi khi hẹn hò yêu đương với người tình.

Một ngày chủ nhật đẹp trời, đang đứng bên cạnh cửa sổ xưởng vẽ, tôi thấy chiếc taxi hai mầu ngừng trước căn nhà ấy. Chỉ vài phút sau, người đàn ông lịch sự trong bộ âu phục, mở cửa xe mời người tình từ trong nhà bước ra. Không nhìn được dung nhan nàng nhưng từ phía sau, tôi cũng thấy dáng quý phái của mỹ nhân sang trọng trong chiếc áo dài trắng tân thời. Chiếc taxi thấp và nhỏ, nên nàng phải cúi gập người, kéo vạt áo qua một bên trước khi bước vào ngồi... Cả một hình ảnh tuyệt vời đến từ cõi thiên thai ở trước mắt tôi: quần trắng bó sát đôi mông tròn nở nang và không ai ngờ bên trong... hiện lên chiếc quần lót mầu hồng bằng lớp vải mỏng được cắt đúng với kích thước da thịt như một bức tranh khỏa thân chưa bao giờ được thầy tôi cho vẽ. Hình ảnh ấy, kín mà hở, mảnh vải nhỏ mầu hồng đã tô đậm toàn thể những đường cong của đôi mông đầy kịch tính. Dù chỉ chiêm ngưỡng trong mấy giây, nó đã ăn sâu vào tâm trí tôi biết bao ý nghĩ sâu xa về dục tình. Tuần lễ sau đó, tôi thấy mụn trứng cá trên da mặt mọc lên nhiều hơn trước!

Yêu đến sớm hay muộn không mấy quan trọng nhưng thường là theo quy tắc yêu từ trên xuống dưới! Đầu tiên, yêu em vì mái tóc tìm cho thấy liễu xanh xanh lả lơi, hay đi tìm dòng suối tóc trên vai rồi đến đôi mắt như bóng dừa hoang dại, âu yếm nhìn anh không nói năng. Tiếp theo là đôi môi hồng, hôn nhau phút này, chia tay tức thì... Hò hẹn lâu rồi em nói đi! Nhưng chưa nói thì vẫn cứ yêu và mỗi lần như thế thì lại tiến sâu về phía dưới. Đó là cuộc chinh phục “nam tiến” của nam nhi mỗi khi đến tuổi khôn lớn. Con đường tình yêu lúc này vẫn chưa phải là ngõ cụt, không hẹn mà họ sẽ cùng vòng ra phía sau để yêu đôi mông người phụ nữ. Đến đây là điểm hẹn cuối cùng, con người đã biết yêu với tất cả dục tính.

Qua câu chuyện này, tình cờ vào tuổi dậy thì tôi đã đốt giai đoạn để đến trực tiếp điểm hẹn! Tâm hồn một đứa trẻ quả tình là một trang giấy trắng, rất nhậy để in đậm những hình ảnh cuộc đời một cách trung thực. Khi trưởng thành, những dữ kiện ấy sẽ ảnh hưởng sâu rộng vào tâm trí và hành vi của nó. Thời gian dù có dài vô tận cũng sẽ không bao giờ làm tôi quên ngày chủ nhật hôm ấy... chiếc quần lót mầu hồng nhìn qua khung cửa sổ xưởng vẽ của thầy tôi. Căn phố nhỏ trong phim “Người Tình” cũng làm tôi nhớ lại chút kỷ niệm ngày xưa đã qua hơn nửa thế kỷ, lứa tuổi vừa lớn lên bị quyến rũ mãnh liệt vào thế giới đàn bà. Ở người nghệ sĩ, tình yêu là vô tận...

Cao Đắc Vinh
Cali 07/2012

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
Đằng sau các cuộc biểu tình chống đối sự kỳ thị trong cái chết của George Floyd là các cuộc đập phá, phóng hoả, cướp và hôi của. Tại sao nó luôn xảy ra trong các cuộc bạo loạn. Đó là một câu hỏi nhức nhối và đau đớn đã làm phiền lòng không những người có mặt trong cuộc biểu tình mà của cả những người ngoài cuộc. Thấy được những cửa hàng thương mại, nhà thuốc, siêu thị, hệ thống bán lẻ bị đốt phá, cướp bóc tan hoang ai cũng đau lòng và phẫn uất, nhất là các chủ tiệm. Những bài phỏng vấn các tiểu thương cùng nhiều video Clip ghi lại những hình ảnh đập phá thu được ở các cửa tiệm thương mại đã làm tôi không ngăn được dòng nước mắt thương cảm cho họ. Các tiểu bang mới được mở cửa mấy ngày sau cơn đại dịch. Giới tiểu thương phải gánh chịu sự mất mát kinh tế trong vòng nửa năm qua, giờ họ lại bị phá sản bởi bao nhiêu vốn liếng tiêu tan trong phút giây. Họ khóc, con cái, gia đình họ khóc, họ chia sẻ nỗi uất hận tai bay hoạ gởi, rồi lại phải nai lưng ra quét dọn, gom góp những tan hoang đổ đi.
Một điều chắc chắn là Bắc Kinh không tranh đua làm cảnh sát quốc tế mà nhường vai trò này cho Hoa Kỳ phung phí tài sản và nhân lực trong các chiến trường Trung Đông, Trung Á và Bắc Phi. Trong khi đó Trung Quốc hưỡng lợi từ việc mua dầu hỏa, khai thác tài nguyên thiên nhiên, bán hàng tiêu dùng cùng kế hoạch Vành Đai Con Đường. Về phương diện an ninh Bắc Kinh hiện muốn đẩy lùi Hoa Kỳ ra khỏi Đông Thái Bình Dương để tạo một vòng đai an ninh vì khu vực này được xem thuộc ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc và là nơi có nền kinh tế năng động nhất thế giới. Trên khía cạnh tài chánh Bắc Kinh tìm cách phối hợp với Nga, Trung Đông và cả Âu Châu để chấm dứt vai trò thống trị của đồng đô-la.
Vào cuối tuần qua, Tổng Thống Hoa Kỳ, Donald Trump đã phải tìm kiếm sự bảo vệ khỏi những người biểu tình trong hầm ngầm bên dưới Tòa Bạch Ốc. Nơi trú ẩn khét tiếng là gì? Chúng tôi giải thích nó ở đâu và được xây khi nào và cho mục đích gì. Hoa Kỳ đang trong tình trạng khẩn cấp. Không chỉ vì cuộc khủng hoảng corona, mà còn ngày càng tăng do các cuộc biểu tình dân sự sau khi người Mỹ gốc Phi George Floyd bị giết bởi một cảnh sát. Các cuộc biểu tình ở nhiều thành phố trên cả nước đã đạt tỷ lệ đến mức Tổng thống Donald Trump phải đi đến nơi an toàn trong một hầm ngầm vào thứ Sáu tuần trước. Một hầm ngầm? Nơi trú ẩn khét tiếng này là gì? Chính xác thì nó được dùng để làm gì? Được xây khi nào? Nó nằm ở đâu? Chúng tôi cung cấp câu trả lời cho những điều này và các câu hỏi khác.
Hoạch đỊnh triển khai quân đội để trấn áp người dân Mỹ biểu tình của Tổng thống Trump đã dấy lên sự phản kháng chống đối dữ dội từ phía các tướng lãnh hồi hưu và các đại biểu liên bang congressmen thuộc đảng Dân chủ tại Hạ viện Hoa kỳ. Hôm 2 tháng 6, TNS Tim Kaine của đảng dân chủ bang Virginia cảnh cáo theo điều lệ National Authorization Act-NDAA- nghiêm cấm bất cứ ai không được dùng ngân quỹ nhà nước để triển khai quân đội Mỹ đàn áp công dân Mỹ biểu tình.
Chỉ còn hơn 6 tháng nữa đến Đại hội đảng toàn quốc XIII, diễn ra đầu năm 2021, nhưng những kẻ nịnh thần đã xếp hàng sau lưng Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng để vận động “đề nghị” ông ngồi thêm nhiệm kỳ nữa, hay ít nhất cũng 2 năm. Lý do của đám tôi trung đưa ra là đất nước cần lãnh đạo ổn định để bảo vệ đảng và chế độ theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhưng điều này cũng lộ ra dấu hiệu mất đoàn kết và không thống nhất trong nội bộ hơn 4 triệu đảng viên.
Đời về chiều bỗng trở nên rảnh rỗi. Đôi khi, rảnh muốn khóc luôn nên tôi đâm ra uống hơi đều và cũng hơi nhiều. Chắc sợ thằng em dám chết vì rượu nên không ít anh chị hằng tâm (và hằng sản) đã nhờ tôi đi làm việc thiện, giúp những người Việt nghèo khó – sống rải rác và quanh quất – ở Biển Hồ. Tháng này, chị Kim Bintliff – Houston TX – biểu tôi đến làng Kor K’ek, cách Kampong Luong Floating Village (thuộc tỉnh Pursat) chừng hai giờ ghe máy. Tôi đã đến đây đôi ba lần trước, vì chuyện làm trường học, và không hề bị phiền nhiễu gì ráo trọi. Lần này, trưởng ấp ngỏ lời xin thêm mấy phần gạo (cho chính gia đình và vài người nữa) khiến tôi hơi khó chịu. Tuy thế, ngay khi lên bước chân lên cái nhà nổi ọp ẹp và chật hẹp của ông ta thì thái độ của tôi thay đổi hẳn. Họ cũng cùng quẫn, có khác chi những đồng bào trôi sông lạc chợ của mình đâu.
Sách "Bên thắng cuộc" của Huy Đức kể lại nhiều chuyện bí ẩn trong hàng ngũ cộng sản mà người ngoài, nhứt là người miền nam, ít ai biết và cả một số chuyện liên hệ tới giới chức miền nam sau 30.04/75 trong cải tạo và tù vượt biên dưới thời ông Võ văn Kiệt. Có chuyện tác giả kể hấp dẫn nhưng không đúng sự thật bởi chính người trong cuộc, tức nạn nhơn, đọc qua chuyện của mình đã phải ngạc nhiên. Nhưng dầu sao, sách "Bên thắng cuộc" vẫn có giá trị thông tin khá hơn nhiều sách khác của người cộng sản viết mà ta đọc qua.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.