Hôm nay,  

Lễ Phật Đản

23/05/201300:00:00(Xem: 8697)
Đức Phật nguyên là một vị Đại Bồ tát ra đời vì bản nguyện cứu độ chúng sinh, Ngài đản sanh nhằm ngày rằm (15) tháng tư âm lịch, tại vườn Lâm-tì-ni (Ấn Độ), năm 624 (TCN). Theo Phật giáo Nam truyền và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này là ngày Tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết-bàn). Nguyên tên của Ngài là Tất Đạt Đa. Họ Ngài là Thích ca, một chi nhánh của họ Kiều tất la, nên tên Ngài gọi đầy đủ là Kiều tất la Thích ca Tất Đạt Đa (Kosala akya Siddhrtha). Còn Mâu ni là đức tính trong sạch, thanh thản của Ngài. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ la vệ (Kapilavastu), mẹ Ngài là bà Hoàng hậu Ma da (Maya). Nước Ca tỳ la vệ là xứ Pipaova ở phía Bắc thành Ba la nại (Bénares) ngày nay. Ngài sinh ra vừa được bảy ngày, thì mẹ từ trần. Bà dì Ngài là bà Ma ha Ba xà ba đề nuôi nấng chăm sóc Ngài.

Trước năm 1959, các nước Đông Á, thường tổ chức ngày lễ Phật đản vào ngày 8 tháng tư âm lịch. Nhưng sau đại hội Phật giáo thế giới lần đầu tiên, tại Colombo (Tích Lan), có 26 nước thành viên tham dự, từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 8 tháng 6 năm 1950, đã thống nhất ngày Phật đản quốc tế là ngày rằm (15) tháng Tư âm lịch, là ngày đản sanh Đức Phật.

Phật Đản là ngày lễ trọng đại được tổ chức hằng năm, bởi cả Nam tông và Bắc tông. Lễ Phật đản ngày nay, người ta thường gọi là Vesak. Vesak là tiếng Sinhala từ chữ Vaishakha trong tiếng Pali, là tên gọi của tháng Hai theo lịch Ấn Độ giáo. Ấn Độ gọi lễ Phật đản là Vesak; Bangladesh và Nepal gọi là Visakah Puja (lễ hội Visakah); Thái Lan gọi là Visakha Bucha; Indonesia gọi là Waisak; Tây Tạng gọi là Saga Daw; Lào gọi là Vixakha Bouxa.

Khái quát về cuộc đời của Đức Phật:

1- Xuất gia: Thái tử Tất Đạt Đa, được vua cha thương yêu vô cùng, nhưng sau khi thấy người đời loay hoay trong vòng: Sinh, bệnh, lão, tử. Ngài suy nghiệm cuộc đời là vô thường, là bể khổ, lòng thương chúng sanh thôi thúc, Thái tử không còn vui được nữa; nên tìm đến một vị Sa môn, hỏi thăm cách tu hành để giải thoát khổ đau. Dù lúc ấy, Công chúa Gia Du Đà La, đã hạ sanh được một Hoàng tử (La Hầu La), nhưng Ngài vẫn quyết tâm xuất gia vào ngày mồng 8 tháng 2 lúc 29 tuổi. Ngài cưỡi ngựa vượt hoàng cung với người hầu cận trung thành Xa Nặc; trong khi mọi người đang say sưa giấc ngủ.

Đi sâu vào rừng đến bờ sông Anoma, Ngài cắt tóc và thay đổi y phục, bảo Xa Nặc đem về trình Phụ hoàng và tỏ rõ quyết tâm xuất gia của Ngài. Từ đấy, Thái tử dấn thân tìm đạo. Ngài đi đến thành Vương xá (Rajagriha) xứ Ma kiệt đà, tìm đến các vị Đạo sĩ Bà la môn để tham khảo phương pháp tu hành. Sau một thời gian tu luyện, Ngài thấy lối tu này khó tìm ra được chân lý. Ngài liền vào rừng Ưu lâu tần loa xứ Phật đà già da (Bouddhagaya) tu hạnh ép xác, một ngày chỉ ăn 1 hạt mè, 1 hạt gạo và suy ngẫm trong 6 năm, song vẫn thấy vô hiệu. Ngài nhận thấy lối tu khổ hạnh, không thể tìm ra giải thoát. Và sau khi nhận bát sữa của nàng Tu Xà Đề (Sujata) dâng cúng, thân thể bình phục, tâm hồn sảng khoái, Ngài đến dưới gốc cây bồ đề ngồi trên thảm tọa và phát nguyện: “Nếu không tìm ra chân lý thì thà chết ta không rời thảm tọa này”.


Trải qua một thời gian thiền quán, Ngài đã chiến thắng được tất cả những tật xấu xa của thân thể và nội tâm. Ngài cũng trừ bỏ được mọi sự phá rối của Ma vương bên ngoài.

Theo giáo lý Phật giáo: Vào canh một, Ngài chứng được “Túc mạng minh”, quán chiếu sự sanh diệt trong nhiều kiếp trước, thấy một kiếp, hai kiếp, rồi vô số kiếp... và tương lai của mình. Đến nửa đêm, ngộ được “Thiên nhãn minh”, thấy được cả vũ trụ bao la, thấy được sự sanh diệt của chúng sanh, hết thế giới này đến thế giới khác. Cuối đêm vào lúc sao mai vừa lộ dạng, Ngài ngộ “Lậu tận minh”, quán triệt nguồn gốc sanh tử luân hồi, và hoàn toàn “Giác ngộ”.

Sau khi thành đạo, Ngài đã than: “Than ôi! Chúng sanh vốn đầy đức tướng trí huệ Như lai, nhưng chỉ vì vô minh che lấp nên phải sanh tử luân hồi đấy thôi!”

3- Truyền đạo: Từ đó về sau, Đức Phật không ngừng truyền bá giáo pháp của Ngài cho chúng sanh. Từ các bậc vua quan đến những kẻ bần cùng. Trong 45 năm hoằng pháp, Ngài đem lại niềm hân hoan thoát khổ cho vô số chúng sanh. Ngài dạy chúng sanh giáo lý “Tứ diệu đế”, gồm có:

a- Khổ đế : Khổ vì sinh, lão, bệnh, tử.
b- Tập đế: Nguyên nhân của khổ là sự ham muốn.
c- Diệt đế: Buông bỏ lòng tham.
d- Đạo đế: Phương pháp diệt khổ, nương theo Bát chánh đạo, trong Bát chánh đạo có 8 điều chánh, theo giáo lý đạo Phật là:
a- Chánh kiến: Giữ gìn tứ diệu đế.
b- Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.
c- Chánh ngữ: Không nói dối hay không nói phù phiếm.
d- Chánh nghiệp: Tránh phạm giới luật.
e- Chánh mệnh: Tránh sát sinh (không giết hại).
f- Chánh tinh tiến: Làm điều thiện, diệt trừ điều ác.
g- Chánh niệm: Tỉnh giác về thân, khẩu và ý.
h- Chánh định: Định liệu, nghĩ ngợi chân chính.

4- Thuyết pháp, độ sanh: Sau đó, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển nói pháp Tứ đế, độ cho 5 ông tỳ kheo (Kiều trần Như, Ác Bệ, Thập lục ca Diếp, Ma ha nam Câu ly và Bạc Đề). Từ đó đạo Ngài truyền khắp xứ Trung Ấn Độ và lan mãi khắp hoàn cầu.

5- Nhập diệt: Trải qua 45 năm trên đường hoằng pháp, Đức Phật đã đưa ánh đạo vàng, hóa độ chúng sanh khắp nơi. Vô số người đã được mang ơn giáo hóa của Ngài mà trở về với chánh pháp. Đức Phật nhập diệt tại rừng Ta la song thọ, để lại những nỗi thương tiếc tràn ngập lòng người. Đức Phật nhập diệt lúc 80 tuổi, nửa đêm ngày rằm tháng hai âm lịch (Ấn lịch). Với sự hy sinh liên tiếp trong vô số kiếp của Ngài, Ngài là một Đức Phật đầy đủ phước đức và trí huệ. Đến nay, ngày rằm tháng tư là ngày lễ Phật đản, mà thế giới đã công nhận.

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đây là ý kiến cá nhân của tôi cũng như quan điểm nghề nghiệp của tôi: Tất cả chúng ta đều có bổn phận phải ở yên một chỗ không đi đứng lang thang, ngoại trừ có những có lý do rất đặc biệt, chẳng hạn như bạn đi làm vì bạn đang làm trong ngành y tế, hoặc bạn đang cứu mạng sống một người và đang mang ai đó tới nhà thương, hoặc bạn cần ra khỏi nhà để mua thực phẩm để sống còn.
Các vấn đề an ninh, xã hội và môi trường của thế giới hiện nay rất phức tạp và liên kết nhau, nên chỉ có sự hợp tác mạnh mẽ trong và giữa các khu vực mới đủ để giải quyết. Để đạt được điều đó, thành công của Tổng thống đắc cử Hoa Kỳ Joe Biden trong việc hàn gắn một nước Mỹ bị chia rẽ trầm trọng sẽ rất quan trọng.
Thị trường Việt Nam trong những ngày gần đây xôn xao về quyết định của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ dán nhãn Việt Nam ép giá đồng bạc (VND). Bài viết này tìm hiểu việc thao túng ngoại tệ ảnh hưởng ra sao đến cả hai bên đối tác thương mại.
Buổi sáng thức dậy, tôi vẫn nghe tiếng hát reo vui của những con chim nhỏ vui đùa chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những trái đào vàng rực rỡ trên cây, những trái ổi óng ả quằn cành cây từng chùm, từng chùm. Ôi, đời sao đẹp quá! Cảnh thiên nhiên dễ thương, vô tư làm cho những nỗi buồn bay xa, bay cao, không còn ở trần gian này nữa.
Càng gần ngày Đại hội đảng XIII, từ 25/1 đến 02/2/2021, càng có nhiều bàn tán liệu Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng có chịu nghỉ hưu vĩnh viễn hay lại muốn được yêu cầu lưu nhiệm với “trường hợp đặc biệt”, dù tuổi đã 12 năm vượt qúa tiêu chuẩn?
Noël là lễ truyền thống gia đình của nhiều nước trên thế giới, không nhứt thiết là gia đình Công giáo. Nhơn ngày lễ, người ta gặp lại nhau với nhiều thế hệ và cùng nhau ăn Noël vui vẻ. Nhưng năm nay cái ý nghĩa đẹp của đêm lễ và làm hài lòng mọi người lại bị hụt hẫng vì con virus vũ hán ác ôn. Pháp và cả Âu châu bị giới hạn di chuyển. Tới những nơi đông đảo có nhiều rủi ro nhiễm bịnh làm cho nhiều người không mua sắm quà biếu như ý muốn được.
Trong không khí se lạnh của mùa Giáng sinh, mùa hồng ân của thiên chúa tôi muốn gởi đến bạn đọc tâm tình của tù nhân lương tâm Trần Hoàng Phúc. Trong cái không gian hẹp của một mùa Noel bị cách ly vì đại dịch, Phúc giống như một vì sao nhỏ lấp lánh trên nền trời đêm kia. Và ước mơ của anh cùng những gì anh nghĩ, những gì anh làm khiến cuộc sống vì anh mà có ý nghĩa.
Nghiệm sâu từ đó, không phải để chối bỏ thực tại vô thường của thế giới tương đối, hay cố gắng truy tìm thực tại tuyệt đối vượt khỏi biên tế trần gian; mà chỉ để thực tập một cách nhìn vượt khỏi những nhị nguyên, đối đãi. May ra, ở chỗ tận cùng bế tắc của đường ngôn ngữ (4), có thể thấy thấp thoáng đâu đó chỗ kỳ tuyệt của bản tâm, nơi đó, không có chỗ khởi đầu và kết thúc.
Tôi quen Từ Hiếu Côn khi đến nhờ anh đóng sách và cắt xén cho gọn gàng cuốn Mặt Trận Kiện Báo Chí của tôi viết và xuất bản cuối năm 1995. Anh có một cái máy làm công việc này- công đoạn cuối của việc in thành một cuốn sách phát hành trong cộng đồng Việt Nam thời thập niên 80, 90 ở San Jose.
Có lần, đang nằm võng giữa rừng thì Liêm móc trong ba lô ra tờ báo Quân Đội Nhân Dân, rồi chỉ cho tôi xem một đoạn thư tình của một anh lính bộ đội gửi (từ chiến trường phía Tây) về cho người yêu bé bỏng ở hậu phương Hà Nội: “Anh muốn cài lên tóc em một cành hoa thốt nốt...” Hai thằng cười lăn, cười lộn thiếu điều muốn đứt võng luôn. Hơn một phần tư thế kỷ đã qua, tôi không còn nhớ được tên tác giả bức thư tình (“bất hủ”) nói trên nhưng vẫn còn giữ nguyên ấn tượng về sự liều lĩnh (quá cỡ) của tác giả.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.